CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG CHƯƠNG DƯƠNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Trước đây, khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã đề cập tới vấn
đề cạnh tranh của các nhà tư bản. Theo C.Mác: "Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là
sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những
điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu
ngạch". Ở đây, C.Mác đã đề cập tới vấn đề cạnh tranh trong xã hội tư bản chủ
nghĩa, mà đặc trưng của chế độ này là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất. Do vậy, theo quan niệm này thì cạnh tranh có nguồn gốc từ chế độ tư hữu.
Cạnh tranh được xem xét là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau để tồn tại. Quan niệm đó
về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc độ tiêu cực.
Ở Việt Nam, trong một thời gian dài trước đây, cạnh tranh cũng được
nhìn nhận dưới góc độ tiêu cực: cạnh tranh gắn với đổ vỡ, cạnh tranh là tiêu diệt
lẫn nhau, là “cá lớn nuốt cá bé”. Nhận thức không đầy đủ về cạnh tranh đã dẫn
tới không thừa nhận cạnh tranh, tạo ra sự độc quyền, nuôi dưỡng độc quyền
trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại hiện nay, cạnh tranh
là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Cạnh
tranh thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất - kinh doanh (năng
lực tổ chức quản lý, trình độ công nghệ, trình độ tay nghề, ...), nâng cao năng
suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Cạnh tranh không phải chỉ có
tranh giành, mà cạnh tranh luôn đi với hợp tác, cạnh tranh trong sự hợp tác và
bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Do đó, ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều
thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của
sự phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh
gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường
thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các công ty kinh
doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty
bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng.
Ngược lại, ngân hàng cũng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức
tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất
động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào
quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại. Cách tiếp
cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những
loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện đại: “Ngân hàng thương mại là
các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất
- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng
tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Ở Hoa Kỳ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên
cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài
chính.
Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó
thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác
các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay
dịch vụ tài chính.
Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng
Nhà nước xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và được phép sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ
chiết khấu và là phương tiện thanh toán.”
Như vậy, Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ
bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương
mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào
nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh
mình. Nhờ lợi thế này, Ngân hàng thương mại có thể thoả mãn tốt hơn các đòi
hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác
cạnh tranh.
Nói tóm lại, năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại là sự tổng
hợp của các yếu tố từ công tác chỉ đạo và điều hành, chất lượng đội ngũ cán bộ,
uy tín và thương hiệu của Ngân hàng thương mại. Năng lực cạnh tranh của ngân
hàng được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, khả năng thu lợi
nhuận của Ngân hàng trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước.
Để duy trì sự tồn tại và phát triển trong một thời gian dài đòi hỏi Ngân
hàng thương mại phải có một năng lực cạnh tranh tốt. Năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng thương mại được cấu thành nên từ những lợi thế cạnh tranh trong
từng giai đoạn của Ngân hàng. Đó là những lợi thế Ngân hàng có được tạo ra và
sử dụng trong cạnh tranh, nhờ đó Ngân hàng có thể tạo ra một số tính trội hơn,
ưu việt hơn so với đối thủ trực tiếp. Xem xét dưới góc độ hoạt động cơ bản, các
lĩnh vực cạnh tranh chủ yếu của Ngân hàng thương mại được phân như sau:
* Cạnh tranh trong lĩnh vực huy động vốn:
Huy động vốn là một trong những hoạt động tạo vốn quan trọng hàng đầu
của các Ngân hàng thương mại. Với chức năng và nhiệm vụ của mình, các Ngân
hàng thương mại đã thu hút, tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời chưa sử
dụng của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư vào Ngân hàng. Mặt khác, trên
cơ sở nguồn vốn huy động được, Ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động cho vay
phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của
vùng, ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của xã hội,
nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với hoạt động huy động vốn, các Ngân hàng thương mại đã thực sự huy
động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông
hàng hoá. Nếu như không có Ngân hàng thương mại, việc huy động của cải xã
hội vào quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng sẽ chậm đi rất nhiều. Nhờ hoạt
động này của Ngân hàng thương mại, tiền tiết kiệm của cá nhân, đoàn thể, các
tổ chức kinh tế được huy động vào quá trình vận động của nền kinh tế. Nó
Đó là các hoạt động Ngân hàng cung ứng dịch vụ phục vụ khách hàng.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, các dịch vụ của Ngân hàng cũng phát triển
theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú đa dạng của khách hàng, Ngân
hàng thực hiện hoạt động trung gian và được hưởng thu nhập từ phí hoặc hoa
hồng. Các hoạt động trung gian phản ánh mức độ phát triển nhiều hoạt động
trung gian và luôn có dịch vụ cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng. Thu nhập
từ các hoạt động trung gian chiếm khoảng 30-35% tổng thu nhập của Ngân
hàng.
Việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ cung ứng sẽ làm tăng thu nhập
cho Ngân hàng, tăng uy tín và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng. Có thể thấy,
xu hướng nguồn thu về dịch vụ trung gian ngày càng tăng và chiếm tỷ lệ lớn
trong tổng doanh thu về kinh doanh của Ngân hàng. Đồng thời với các hoạt
động trung gian này, ngân hàng thương mại góp phần làm tăng khả năng chu
chuyển của đồng vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, do đó tiết kiệm
được chi phí lưu thông trong xã hội. Mặt khác, thực hiện tốt các hoạt động này,
Ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn. Điều đó cũng tạo điều kiện
phát triển hoạt động huy động vốn và cho vay của Ngân hàng.
1.2.3. Tính đặc thù trong cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại
Giống như bất cứ loại hình đơn vị nào trong kinh tế thị trường, các Ngân
hàng thương mại trong kinh doanh luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt,
không chỉ từ các Ngân hàng thương mại khác, mà từ tất cả các tổ chức tín dụng
đang cùng hoạt động kinh doanh trên thương trường với mục tiêu là để giành
giật khách hàng, tăng thị phần tín dụng cũng như mở rộng cung ứng các sản
phẩm dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Tuy vậy, so với sự cạnh tranh của các
tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại có những đặc
thù nhất định. Cụ thể:
(1) Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm,
chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền
thống văn hoá… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều
tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung. Chẳng
tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, sự cạnh tranh trong
hệ thống các Ngân hàng thương mại không thể dẫn đến làm suy yếu và thôn tính
lẫn nhau như các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế.
(4) Hoạt động của các Ngân hàng thương mại liên quan đến lưu chuyển
tiền tệ, không chỉ trong phạm vi một nước, mà có liên quan đến nhiều nước để
hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế đối ngoại, do vậy, kinh doanh trong hệ thống
Ngân hàng thương mại chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong nước và quốc tế,
như: Môi trường pháp luật, tập quán kinh doanh của các nước, các thông lệ
quốc tế… đặc biệt nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở tài
chính, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính chất
quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng này. Điều đó cũng
có nghĩa là, sự cạnh tranh trong hệ thống các Ngân hàng thương mại trước hết
phải chịu sự điều chỉnh bởi rất nhiều thông lệ, tập quán kinh doanh tiền tệ của
các nước, sự cạnh tranh trước hết phải dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ đáp
ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh tối thiểu; bởi vì, một Ngân hàng
thương mại mở ra một loại hình dịch vụ cung ứng cho khách hàng là đã phải
chấp nhận cạnh tranh với các Ngân hàng thương mại khác đang hoạt động trong
cùng lĩnh vực, tuy nhiên, muốn lĩnh vực dịch vụ này được thực hiện thì đòi hỏi
phải đáp ứng tối thiểu về điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính mà thiếu nó thì không
thể hoạt động được. Như vậy, sự cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại là
loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ loại
hình kinh doanh nào khác.
.1.2.4. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, cạnh tranh mang tính tất yếu, khách
quan và đó cũng là động lực cho sự phát triển. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị
trường như hiện nay, cạnh tranh sẽ không chỉ là tạo động lực để phát triển mà
còn phải đối mặt với những yếu tố không lành mạnh nhằm chiếm lĩnh ưu thế
trên thương trường, để thu lợi nhuận cao hơn và đương nhiên nảy sinh sự thôn
tính, sáp nhập, phá sản, giải thể và cả những rủi ro về đạo đức…