MẪU TÍNH TRONG VĂN HÓA VIỆT
THE METAPHYSICAL PRINCIPLE OF
MATERNITY IN VIETNAMESE CULTURE
Trần Văn Ðoàn
Bản Tóm Lược
Luận văn sau đây nhằm tìm hiểu lối suy tư Việt dựa trên nguyên lý mẫu tính. Lối suy
tư mẫu tính tức lối tư duy theo một quy luật xây trên tầm quan trọng của các yếu tốù
sinh, dưỡng, dục và lạc.
Bài này phân thành ba phần chính. Phần thứ nhất đặt lại vấn đề của bản sắc văn hóa
Việt. Có phải nền văn hóa này là một nền văn hóa mẫu hệ, nông nghiệp, hay âm tính?
Hay đó là một nền văn hóa với một lối tư duy cá biệt mà chúng tôi gọi là lối tư duy
theo nguyên lý mẫu tính? Ðể làm rõ vấn đề, phần thứ hai phân tích các văn bản, dữ
kiện hay hiện tượng liên quan tới lối suy tư chung của người Việt về phụ nữ, và về lối
suy tư của phụ nữ Việt. Phần thứ ba cố gắng hệ thống hóa kết quả những phân tích trên
để tìm ra một nguyên lý chung trong lối suy tư Việt. Nguyên lý này được chúng tôi gọi
là nguyên lý mẫu tính trong Việt triết.
Abstract
This paper proposes to understand the Viet-way of thinking as a kind of logic based
on the metaphysical principle of maternity. Maternal principle is constructed from
practical values and based on the existential order of fundamental factors like life-
giving, life-raising, life-forming (educating) and pleasure-generating.
The work consists of three parts: The first part clarifies the still controversial issue of
whether Vietnamese culture is matriarchal, agricultural and feminine, or whether it is a
culture of a particular essence based on the metaphysical principle of maternity. To
argue for the latter, the second part is an exploration of the diverse ways of thinking
about the role of woman hidden in popular literature, and in the works of female
writers. The last part attempts to discover from these diverse thinkings a common
tư như thế không những sai nguyên tắc khoa học, mà còn tạo ra cái nguy hại bóp méo lịch
sử. Người ta sẽ đặt nghi vấn về sự chính đáng trong việc chọn lựa một vài phụ nữ đẹp đẽ,
tài ba làm đại diện. Tại sao ta không thể lấy một vài người phụ nữ (tai tiếng hay xấu xí)
như mụ Tú Bà, Chung Vô Diệm, và coi họ như là đại biểu nữ giới? Tại sao chúng ta không
được phép đưa bà Trần Lệ Xuân hay bà Nguyễn Thị Minh Khai ra làm đại biểu cho tất cả
nữ giới tại miền Nam hay miền Bắc? Nếu không thể làm như vậy được, thì ta cũng đâu có
lý do chỉ chọn một vài phụ nữ anh hùng (như hai bà Trưng, bà Triệu), thông minh tài cán
(như Ðoàn Thị Ðiểm, Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương) để đại diện tất cả nữ giới
Việt. Chúng ta chỉ có thể nói, hai bà Trưng, bà Triệu là những người góp sức tạo ra (chứ
không phải tạo lên) lịch sử Việt. Tuy nhiên, ba Bà, giống như hai cô Giang, Bắc, chỉ là
những cá nhân đơn độc, không thể đồng hóa họ với toàn thể nữ giới Việt. Vả lại, nếu cho
ba bà là tất cả lịch sử, hay đại diện cho tất cả nữ giới Việt, thì lịch sử của các nền văn hóa
khác cũng có thể yêu sách y hệt như thế. Họ cũng có một số phụ nữ tương tự. Các nữ thần
Hy lạp như Sophia, Athina, Venus, Hermes, Siren…, thánh Jeanne d’Arc của Pháp, nữ
hoàng Maria-Theresia của Aùo, rồi các tiền nhân như bà Nữ Oa, nữ thần Mộc, hay nữ
hoàng Võ Tắc Thiên, thái hậu Từ Hi của Trung Hoa đã ảnh hưởng tới lịch sử các nền văn
hóa của những nước trên rất nhiều. Nhưng đâu có thể vì thế, mà chúng ta dám cả quyết là
các dân tộc trên theo mẫu hệ, hay lối suy tư của họ mang âm tính hay nữ tính. Và nếu quả
thật chúng ta có thể coi các kiệt nữ này đại biểu lịch sử của họ, thì lịch sử Việt đâu có khác
các lịch sử khác là bao. (3) Thêm vào khó khăn trên, chúng ta còn thấy rằng, lối nhìn dân
gian về vai trò của phụ nữ vốn đa chiều, nhiều khi rất mâu thuẫn. Người Việt không nhất
thiết chỉ đề cao phụ nữ mà thôi, nhưng cũng thường châm biếm họ. Thí dụ, nếu người Việt
có câu “Nhất vợ nhì Trời ba mới tới ta” thì họ cũng có những câu nói khác ngược hẳn lại
như:
“Ðàn ông sâu sắc trong đời,
Ðàn bà cạn xợt như khôi cát lồi.”
Hay:
“Cô khoe ăn hiếp được chồng,
Ðến khi chồng bỏ chổng mông mà gào.”
phương Bắc (các huyền thoại Lạc Long Quân - Aâu Cơ, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Trọng
Thủy - Mỵ Châu), giữa yếu tính “cứng” và yếu tính “mềm,” “đặc” và “rỗng” như thấy
trong trống đồng Ðông Sơn. Trong bài này, chúng tôi tiếp tục khai thác và phê bình luận đề
của triết gia linh mục Kim Ðịnh (1914-1997) về nguyên lý mẹ và phát triển mẫu tính thành
một nguyên lý, giúp ta hiểu bản sắc của nền văn hóa Việt. Theo Kim Ðịnh, chính cái
nguyên lý mẹ này mới xứng đáng mang tên minh triết bởi lẽ nó có đủ khả năng ”nối kết hai
thái cực lại với nhau.”
2. LỐI SUY TƯ VỀ PHỤ NỮ VIỆT
Trước khi bàn về lối suy tư của phụ nữ Việt, người viết xin thú nhận là vì không đủ tư
liệu, nhất là những tác phẩm văn chương do các tác giả phụ nữ viết, nên công việc phân
tích giới hạn vào các văn bản quen thuộc như Truyện Kiều, và nhất là vào văn chương bình
dân như ca dao, tục ngữ và phong dao. Chính vì thế mà luận đề mẫu tính mà chúng tôi
trình bày sau đây mang tính chất tạm thời, cần phải được kiểm chứng lại qua những văn
kiện, văn bản đầy đủ hơn trong tương lai.
Trong tác phẩm Tìm Hiểu Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam, giáo sư Trần Ngọc Thêm viết:
“Về nguyên tắc tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức theo
nguyên tắc trọng tình. Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau phải tạo ra
một cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu: Một bồ cái lý
không bằng một tí cái tình (tục ngữ). Lối sống tình cảm tất yếu dẫn đến thái
độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ.”
Lối thẩm định như trên phản ánh cái nhìn chung thấy nơi các nhà nghiên cứu Việt học.
Quả thực, trong xã hội Việt mà đa số các học giả như Tiến sỹ Vũ Ðình Trác, giáo sư Trần
Quốc Vượng, học giả Phan Ngọc, hay tác giả họ Trần cho là xã hội nông nghiệp, phụ nữ
nắm một vai trò rất quan trọng. Nếu so sánh với các xã hội nông nghiệp hay công nghiệp
khác thì “địa vị phụ nữ Việt Nam phải nói là cao, nếu không nhất thì cũng vào hạng nhất”
hay “ngang với chồng.” Câu hỏi mà chúng ta đặt ra nơi đây, đó là, nếu quả thật người phụ
Khéo thay thác xuống làm ma không chồng.
Nhưng cái lạ (và có lẽ là cái hay) trong tâm tư Nguyễn Du, đó là cụ không có tin tưởng
vào vai trò của người đàn ông trong công cuộc san bằng bất công xã hội, trong công việc
lập công, lập đức. Cụ không suy tư như tác giả của Thanh Tâm Tài Nhân, tức lối suy tư
theo nguyên lý phụ tính của người phương Bắc. Với lối nhìn mới hơn, không chỉ coi phụ
nữ theo nguyên lý lạc thú (giai nhân, mỹ nhân), hay gái tài (kỹ nữ) tức tài nhân. Cụ nhìn
người phụ nữ theo nguyên lý mẫu tính của người phương nam, tức người Việt. Người phụ
nữ được đánh giá trị theo chính cái bản chất nhân tài của họ, tức cái năng lực khiến họ
thành nhân. Thế nên, Truyện Kiều không có lập lại câu truyện của tài nhân, song dóng lên
một tiếng nói mới (tân thanh) - Ðoạn Trường Tân Thanh- về cái vai trò độc nhất vô nhị của
phụ nữ qua Thúy Kiều, tức cái khả năng thành nhân của nàng: “Thửa công đức ấy ai
bằng?” Chính vì vậy mà trong con mắt của Nguyễn Du, không có một người đàn ông nào
có đủ nhân cách, tài hoa như người phụ nữ. Nam giới, thì mỗi người chỉ có một khía cạnh
nào đó mà thôi. Từ Hải, anh hùng đa tình song lại thiếu trí, thiếu nhân. Hồ Tôn Hiến đa
mưu túc trí thì lại thiếu đức, thiếu tình. Kim Trọng tuy ‘phong ư tài mạo tót vời” song lại
thiếu đảm lược. Mã Giám Sinh tuy “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” nhưng lại gian
manh chẳng khác chi hơn mụ Bạc, hay Tú bà: “mạt cưa mướp đắng hai bên một phường.”
Tố Như tiên sinh tin rằng, chính người phụ nữ mới có một khả năng “đầu đội trời, chân
đạp đất” (mà giới nam nhi thường hay vơ vào cho riêng họ). Thực ra, cụ đâu có chọn giới
nam nhi (em trai Kiều, hay thân phụ Kiều, hay Kim Trọng, hay Từ Hải, hay Hồ Tôn Hiến).
Cụ Tiên Ðiền chọn nàng Kiều nhỏ bé để làm những điều vĩ đại đáng để đời. Cụ chọn vãi
Giác Duyên (chứ không phải những đại cao tăng) như là đại biểu của bậc chân tu. Nói cách
khác, cụ nhận ra sự cao sang và vĩ đại của nữ giới, trong vai trò của Thúy Kiều, trong nhân
cách của người ni cô ẩn dật Giác Duyên. Kiều là người duy nhất đã thành công trong nỗ
lực vượt khỏi định mệnh, thắng được cái ma lực của quyền lực, của sức mạnh:
Lấy tình thâm trả nghĩa thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời!
Hại một người cứu muôn người,
Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng.
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
2.2. Mến Phục và Yêu Thích
Nơi đây cần phải minh định hai từ ngữ mà chúng ta thường ít để ý và phân biệt, đó là
mến phục (quý trọng) và yêu thích. Trong văn chương bình dân, hai từ ngữ này đôi khi
được dùng một cách lẫn lộn. Tuy thế, nếu suy xét cho kỹ, ta thấy người Việt nhận định một
cách rất minh bạch về hai từ ngữ trên khi họ phân biệt hai loại phụ nữ: loại được mến
phục, và loại được yêu thích. Lẽ tất nhiên, loại người vừa được mến phục vừa được yêu
thích như trường hợp các bà Nguyễn Thị Lộ, Ðoàn Thị Ðiểm, Huyện Thanh Quan, hay
Thúy Kiều, cô Mai, cô Ngọc… luôn là sự mộng ước của các đấng nam nhi. Mến phục nói
lên sự quý trọng cái giá trị của người phụ nữ, cái tài (quán xuyến) của họ, cái trí của họ,
cái đảm của họ, cái tình của họ. Ðó là cái mẫu người mà cụ Tiên Ðiền diễn tả: “Càng yêu
vì nết, càng say vì tình” (TK, 3188), mà bất cứ ai cũng phải kính phục. Hai bà Trưng, bà
Triệu, các liệt nữ, hay các nữ sỹ, hay cô Mai, hay những người vợ như bà Tú Xương, hay
một số nhân vật của Nhã Ca đại biểu cho những người có những đặc tính, hay một trong
những đặc tính trên. Ðây mới chính là cái lý do tại sao dân gian truyền tụng câu “Nhất vợ,
nhì Trời, ba mới tới ta,” tại sao ôngï Tú Vị Xuyên hãnh diện về việc “Vuốt râu nịnh vợ,
con bu nó.” Ðây cũng là lý do tại sao các đấng lang quân “biết mình biết người, trăm trận
trăm thua” để “được ăn đòn” vợ:
Vợ anh xấu máu hay ghen
Anh đừng có giỡn về ăn nhiều đòn.
Quả thế, trong văn chương bác học và nhất là dân gian, chúng ta thấy phụ nữ Việt đáng
quý, đáng trọng bởi vì họ đảm đang:
Thương nàng gánh gạch về đây,
Chẳng đắp nên núi cũng xây nên thành.
Bởi vì họ quán xuyến:
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.
Hay:
Ðể rồi họ nai lưng ra đền cái tội tổ tông muôn thuở:
Vì sàng bên gạo xuống nia,
Vì em anh phải đi khuya về chiều.
Ðể rồi họ sợ, cạch cho tới già:
Thân hình em trắng như ngà,
Con mắt em liếc như là dao cau.
Hay:
Lỡ mà lấy vợ Hà Ðông,
Anh sợ sư tử anh giông cho rồi.
Ðể rồi họ khuyên răn con cháu:
Thế gian lắm kẻ mơ màng,
Thấy hòn son đỏ tưởng vàng nâng niu.
Nhưng để rồi họ lại luẩn quẩn phạm vào cái tội cũ, vì quá yêu thích mà quên đi phạm trù
mến phục:
Sông bao nhiêu nước cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa vừa lòng.
Nói tóm lại, các đấng nam nhi ai cũng phải nhận là người đàn bà lý tưởng là người làm cho
họ yêu thích và mến phục. Và ai cũng biết là nếu phải chọn lựa giữa hai, lẽ đương nhiên là
họ sẽ chọn người mà họ mến phục: “cái nết đánh chết cái đẹp.”
2.4. Lối Suy Tư của Phụ Nữ Việt
Phần trên trình bày phần nào về lối nhìn của người Việt về phụ nữ Việt. Ðiểm quan trọng
hơn cả, là chính người phụ nữ Việt suy tư như thế nào về thế giới sống của mình. Ðáng
tiếc thay, chúng ta chưa có một câu trả lời xác định. Lý do là đại đa số các văn bản do nam
giới viết, và ngay cả các vần thơ mà chúng ta gán cho các nữ sỹ Ðoàn Thị Ðiểm, Hồ Xuân
Hương, hay Huyện Thanh Quan, cũng chưa hẳn là của họ. Mà nếu do chính do họ sáng tác,
thì phần vì bị ảnh hưởng của lối giáo dục Nho học, phần vì bị ảnh hưởng của xã hội đương
thời, chúng ta cũng khó có thể xác quyết được sự trung thực trong lối suy tư của họ. Ngay
cả vào thời đại chúng ta, giới nữ văn sĩ vẫn còn bị gòm bó trong cái truyền thống đạo đức
Ðời cha vinh hiển, đời con sang giầu;
rồi tới vai trò của người thầy:
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy;
và sau cùng mới tới vai trò của người vợ:
Con quốc kêu khắc khoải mùa hè.
Làm thân con gái phải nghe lời chồng.
Hay:
Trời mưa cho ướt lá bầu,
Vì ai nên phải đi hầu chàng ơi.