TIÊU CHUẨN VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG :
I) ISO 14000 :
Theo đề xuất của Nhóm tư vấn chiến lược về môi trường trong quá trình
chuẩn bị cho Hội nghị về phát triển môi trường thế giới họp tại Rio de Janeiro
(Braxin) năm 1992, Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) đã thành lập Ban kỹ
thuật mang kí hiệu TC 207 để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn nhằm thống nhất
các tiêu chuẩn về quản lý môi trường .
TC 207 có các tiểu ban : hệ thống quản lý môi trường; nhãn hiệu môi
trường; đánh giá kết quả thực hiện môi trường; đánh giá tác động môi trường
của một vòng đời một sản phẩm và tiểu ban về thuật ngữ và định nghĩa . Đến
nay ISO 14001, ISO 14004 về hệ thống quản lý môi trường; ISO 14010, 14011,
14012 về thanh tra môi trường do Ban kỹ thuật này soạn thảo đã được thông
qua và công bố trong thời gian gần đây.
Trước đó, đã có nhiều Hội nghị , Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường
trái đất nhưng hiệu quả còn rất hạn chế. Các biện pháp “Ra lệnh-Kiểm tra” lâu
nay vẫn làm không mang lại hiệu quả trên thực tế . Bất chấp sự kiểm tra, nhắc
nhở theo qui định thậm chí xử phạt hành chính ở một số nước, các nhà sản
xuất vẫn tiếp tục xả nhiều chất độc hại, huỷ hoại môi trường trái đất. Ngập lụt
ở châu Âu, cháy rừng ở Indonesia ... là một phần của hậu quả ấy. Trong khi đó
môi trường là tài sản chung vô cùng quí giá, quyết định sự tồn tại của sinh vật
trên toàn thế giới .
ISO 14000 ra đời là để khắc phục tình trạng đó. Nó là một bộ tiêu chuẩn
quốc tế hướng dẫn chi tiết việc bảo vệ môi trường nội bộ trong suốt quá trình
sản xuất ở bất cứ qui mô nào.
Mặc dù là một hệ thống tiêu chuẩn hướng dẫn và việc tham gia hệ thống
này là tự nguyện đối với tổ chức, doanh nghiệp, nhưng thực chất là bắt buộc
nếu doanh nghiệp đó muốn sản phẩm của mình lưu thông trên thị trường khu
Nguyên tắc 3 -Thực hiện : Để thực hiện có hiệu quả, tổ chức phải
phát triển khả năng và cơ chế hỗ trợ cần thiết để đạt được chính sách mục tiêu
và chỉ tiêu môi trường của mình.
Nguyên tắc 4 -Đo và đánh giá : Tổ chức phải đo, giám sát và
đánh giá kết quả hoạt động môi trường của mình.
Nguyên tắc 5 -Xem xét và cải tiến : Tổ chức phải xem xét lại và cải
tiến liên tục hệ thống quản lý môi trường, nhằm cải thiện kết quả hoạt động
tổng thể về môi trường của mình. Với nguyên tắc này, nên coi hệ thống quản lý
môi trường là cơ cấu tổ chức cần được giám sát liên tục và xem xét định kỳ để
có được một phương hướng có hiệu quả cho các hoạt động môi trường của tổ
chức, đáp ứng những yếu tố thay đổi bên trong và bên ngoài. Mỗi cá nhân
trong tổ chức phải có trách nhiệm cải thiện môi trường.
Bộ Tiêu chuẩn ISO 14000 còn đưa ra hướng dẫn về các chuẩn cứ trình độ
đối với các chuyên gia đánh giá môi trường để giúp cho việc áp dụng Hệ thống
quản lý và đánh giá môi trường. Các chuyên gia đánh giá nội bộ cũng phải có
các năng lực như chuyên gia đánh giá bên ngoài nhưng không nhất thiết phải
đáp ứng tất cả các chuẩn cứ nêu chi tiết trong tiêu chuẩn này dựa trên các yếu
tố sau :
* Quy mô , bản chất, mức độ phức tạp và các tác động
môi trường của tổ chức.
* Tốc độ phát triển của các kỹ năng và kinh nghiệm có
liên quan trong nội bộ tổ chức.
Nội dung của tiêu chuẩn 14012 quy định “chuyên gia đánh giá môi trường
là người có đủ trình độ để thực hiện việc đánh giá môi trường.”. Chuyên gia
đánh giá phải có kinh nghiệm công tác cho phép có đủ kĩ năng và hiểu biết
* Luật môi trường, quy định và các tài liệu liên quan
đến môi trường.
* Hệ thống quản lý môi trường và các tiêu chuẩn liên
quan dùng làm căn cứ đánh giá.
* Thủ tục, quy trình và kỹ thuật đánh giá .
Các chuyên gia đánh giá phải trau dồi sự cẩn trọng nghề nghiệp cần có
theo quy định trong ISO 14010 và kết hợp với quy phạm thích hợp về các quy
tắc xử thế. Những chuyên gia đánh giá không có khả năng giao tiếp tốt bằng
ngôn ngữ cần để thực hiện trách nhiệm của mình sẽ không thể tham gia đánh
giá nếu không có sự giúp đỡ. Khi cần, có thể nhờ người có kỹ năng ngôn ngữ
cần thiết giúp đỡ, người trợ giúp đó phải là người không bị gây áp lực có thể
làm ảnh hưởng đến việc đánh giá.
Tuy mới ra đời nhưng Bộ Tiêu chuẩn ISO 14000 đã được nhiều doanh
nghiệp với các quốc tịch khác nhau áp dụng. Sở dĩ có điều này là vì các nhà sản
xuất nhận thức được rằng, sản phẩm nào có giấy chứng nhận ISO 14000 thì
sản phẩm đó có khả năng thâm nhập bất cứ thị trường nào mà không bị rắc
rối về vấn đề môi trường. Sản phẩm của họ đương nhiên có sức cạnh tranh
trên thị trường xuất nhập khẩu. Đây cũng là điều mà các doanh nghiệp Việt
Nam cần phải nắm bắt được. Đồng thời, đối với các doanh nghiệp làm đầu mối
XNK xăng dầu ở Việt Nam nói riêng, việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14000 có một
tác dụng rất to lớn trong việc bảo vệ môi trường ở các bến cảng, tránh thất
thoát, nâng cao uy tín của doanh nghiệp, giữ gìn được môi trường sinh thái
biển ở nước ta.
II) TCVN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG :
Bảo vệ môi trường vừa là hoạt động quan trọng đối với từng quốc gia, vừa
là hoạt động có ý nghĩa khu vực và toàn cầu. Thiết lập các tiêu chuẩn môi
trường thích hợp và áp dụng chúng có hiệu quả trong quản lý môi trường và
kiểm soát ô nhiễm là góp phần cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững, cho
sự hoà nhập của nước ta với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực này. Cho nên, Cơ
quan tiêu chuẩn hoá quốc gia, Cơ quan quản lý môi trường của Chính phủ đã