ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ LƯU HÀNH TIỀN TỆ
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ ĐÔ THỊ PHÚ XUÂN
NGUYỄN ANH HUY
220, Chi Lăng - Huế
ĐT : 0914 193969
E.mail:
Sự hình thành đô thị Phú Xuân nói riêng hoặc các đô thị khác nói chung,
phải bắt đầu từ sự hội cư rồi phát triển dần các yếu tố liên quan đến cuộc sống, mà
sự phát triển kinh tế là yếu tố quan trọng hàng đầu. Sự
phát triển kinh tế đó, thông
qua sự phát triển thủ công nghiệp, phát triển thương mại... là những đề tài rộng
lớn, ở đây tôi chỉ đề cập một khía cạnh nhỏ: ảnh hưởng của sự lưu hành các loại
tiền tệ đến quá trình phát triển kinh tế đô thị Phú Xuân - Huế.
Trước khi chúa Nguyễn vào nam, Thuận Hóa là một vùng đất xa xôi của
triều Mạc nên đã có lưu hành các loại tiề
n của triều Mạc cùng các loại tiền thời
trước. Thực tế, tôi đã gặp một lô tiền đào được, trong đó có các loại tiền Trung
Quốc thời Đường - Tống - Nguyên - Minh và tiền Việt Nam từ thời Lê - Thuận
Thiên (1428-1433) đến Mạc - Quảng Hoà (1541-1546) nhưng không có đồng tiền
nào của Lê trung hưng, như vậy lô tiền này được chôn rất gần sau năm 1541.
Đến khi Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thu
ận Hóa, đã cho
đúc các loại tiền Thái Bình thông bảo và Thái Bình phong bảo, đồng thời sử dụng
các loại tiền của Lê trung hưng cùng các loại tiền của Trung Quốc. Tôi cũng đã
gặp một lô tiền khác, phần lớn là tiền Trung Quốc thời Đường - Tống - Nguyên -
Minh, còn tiền Việt Nam chỉ có các loại Thái Bình của chúa Tiên cùng 3 đồng tiền
Nguyên Hòa thông bảo của Lê Trang Tông (1533-1548) và một đồng Gia Thái
năm số tiền thu thuế ít là không dưới 1 vạn quan, nhiều hơn là 3 vạn quan...”, và
các loại hàng hóa đã
được đem đến đây đều “bán được nhiều, không có ế đọng”
(Lê Quý Đôn 1977).
Một khi nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ như vậy, rõ ràng việc lưu
hành, sử dụng các chủng loại tiền tệ cũng phát triển theo và trở thành nhu cầu cần
thiết:
1, Năm Khang Hy thứ 27 (1688), chúa Nguyễn Phúc Thái từng phó thác
cho một chủ thuyền người Trung Hoa tên Hoàng Khoan Quan đem hàng hoá qua
Nagasaki (Trường Kỳ, Nhật Bản) mua bán và khiến y mang mộ
t phong thư trình
Mạc Phủ Đức Xuyên thỉnh cầu đúc tiền đồng viện trợ (ChengChingHo 1994).
Các loại tiền mậu dịch của Nhật Bản này, mang các niên hiệu hoặc các hiệu
tiền Trung Quốc như Nguyên Phong, Tường Phù, Hồng Vũ... nhưng lại có đặc
điểm thư pháp tiền Nhật Bản mà ngày nay thỉnh thoảng còn thấy ở các di chỉ thế
kỷ XVII-XVIII.
2, “Ất Tỵ (1725), tháng 4, mùa hạ... đúc thêm ti
ền đồng... lại có tiền cũ và
tiền Khang Hy nhà Thanh, dân gian vẫn thông dụng. Bấy giờ có người huỷ tiền để
đúc đồ dùng, số tiền cũ ngày một hao cho nên có lệnh đúc thêm”. Nhưng “hai xứ
Quảng Nam và Thuận Hóa không có mỏ đồng, nước Nhật Bản xuất đồng đỏ, mỗi
năm thuyền họ đến thì khiến thu mua mỗi 100 cân giá tiền 45 quan. Còn như các
tàu Thượng Hải, Phúc Kiến, Quảng
Đông có chở đồng đỏ sang thì cũng phải khai
báo để theo giá mà mua, sau khi nhà nước mua mới cho các tàu mua bán” (Lê
Quý Đôn 1977).
“Năm 1733, thấy việc đúc tiền có lợi, công ty Đông Ấn - Hà Lan nhận với
chúa đúc tiền đồng với trị giá 800.000 florins (1 florin = 27g bạc). Được một năm,
thấy không có lãi mấy, công ty thôi” (Thành Thế Vỹ 1961).
Các loại tiền bằng đồng đỏ do Đỉnh Quốc Công Nguyễn Phúc Trú đúc này
i điền dã, tôi được nghe già làng trưởng
tộc kể về việc đào móng làm nhà đã phát hiện hai hũ tiền kẽm, mà tôi cho là tin
tức rất đáng tin cậy: Khi nghe cụ già đào được 2 hũ tiền kẽm, tôi ngạc nhiên hỏi vì
sao biết đó là tiền kẽm thì cụ giải thích: lấy ra phần lớn là tiền đa mục nát màu
xám tro, bóp thì vụn thành bột trắng, có đồng đọc được là Thiên Minh và Phúc
Nguyên, hoàn toàn không có tiền đồng lẫn vào ho
ặc các tiền kẽm triều Nguyễn (4
đời đầu) xen vào. Về đồng tiền Phúc Nguyên, cụ già đọc 2 chữ trên dưới, theo tôi,
rất có thể là tiền Phúc Bình nguyên bảo, vì chúa Nguyễn Phúc Chu có đúc tiền
đồng đỏ hiệu Phúc Bình nguyên bảo (đọc tròn), rất có thể tiền kẽm đã đúc lại hiệu
này.
Những công việc kể trên, rõ ràng chúa đã mở cửa làm kinh tế hàng hóa phát
triển mạnh, các tàu thuyền nước ngoài đến nhiều. Ngoài các hàng hóa tiêu thụ cho
nhu c
ầu cuộc sống bình thường, ngay chính các nguyên liệu để đúc tiền như đồng
đỏ, kẽm... cũng là một loại hàng hóa để các nước đem đến bán. Từ lúc mới dời thủ
phủ từ Kim Long về Phú Xuân năm 1687, chúa đã quan tâm đến vấn đề sử dụng
tiền tệ, nên năm sau đã nhờ chính quyền ở Nhật Bản đúc giúp. Về sau, khi công
nghệ đúc tiền ở nước ta có phát tri
ển, thì chúa lại nhờ các công ty hoặc các chuyên
gia nước ngoài giúp về mặt kỹ thuật. Vấn đề đúc tiền được chúa quan tâm như vậy
nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu: ”Triều đình sai đúc tiền đồng mới là
muốn dần tiêu hết tiền kẽm cũ đi, nhưng được đồng thì rất nhiều mà đúc tiền mới
không mấy, nếu có đem dùng thì đều theo thuyền buôn Thanh Ngh
ệ và Sơn Nam
mà chạy ra hết. Vả lại, hai xứ Quảng Nam - Thuận Hóa không có tiền đồng, dân
tiêu tiền kẽm 1 đồng ăn 1 đồng, không nề xấu mẻ...”. Do vậy, các loại tiền cũ của
Trung Quốc cũng chính là một loại hàng hóa để thuyền buôn các nước đem đến
bán: ”Tiền Khai Nguyên nhà Đường và tiền Thuần Hóa, Tường Phù nhà Tống,
luyện đồng rất tốt, chôn xuống đất không nát. Chữ ở tiền nhà Tống phần nhiều là
triển của tiền tệ (qua số hiệu tiền tăng dần theo các chủng loại) cũng đẩy mạnh quá
trình phát triển kinh tế để đô thị hóa. Có thể chứng minh cho nhận định này qua sự
so sánh: trước khi Đoan Quận Công vào trấn thủ Thuận Hóa, theo Ô Châu Cận
Lục củ
a Dương Văn An viết năm 1555 thì thống kê chỉ có 22 làng nghề thủ công;
nhưng đến năm 1776, khi Lê Quý Đôn viết Phủ Biên Tạp Lục thì ở Phú Xuân đã
phát triển đến 48 làng nghề, trong đó có làng đúc tiền Lương Quán nổi tiếng... TÀI LIỆU DẪN
:
- Nguyễn Anh Huy 2003. Những phát hiện mới về tiền đồng đỏ thời chúa Nguyễn.
Khảo cổ học, số 2: 79-86.
- Nguyễn Anh Huy 2001. Những phát hiện mới về họ Mạc đúc tiền ??. Khảo cổ
học, số 3: 51-62.
- Nguyễn Anh Huy 1998. Những phát hiện mới về tiền kẽm thời chúa Nguyễn.
Khảo cổ học, số 1: 97-103.
- Lê Quý Đôn 1977. Phủ biên tạp lục
. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn 1962. Đại Nam thực lục tiền biên. Nxb. Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn 1960. Đại Nam nhất thống chí. Sai Gòn.
- Quốc sử quán triều Nguyễn 1995. Đại Nam liệt truyện tiền biên. Nxb. Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
- ChengChingHo 1994. Làng Minh Hương và phố Thanh Hà. Huế Xưa và Nay, số
13-14.
- Thành Thế Vỹ 1961. Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ17-18 và đầu 19. Nxb. Sử
học, Hà Nội.
- Litana 1999. Xứ Đàng Trong, lịch sư í- kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18.
NXB Trẻ.