MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ FDI TRONG
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
ĐẾN NĂM 2015
3.1. NHỮNG CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ FDI
TRONG LĨNH VỰC NN VÀ PTNT ĐẾN NĂM 2015
3.1.1. Cơ sở khoa học
Xu thế tất yếu có tính quy luật của xã hội đó là vốn đầu tư luôn được di
chuyển từ nơi có khả năng sinh lời thấp (hoặc khó có khả năng sinh lời) đến nơi
có khả năng sinh lời cao (hoặc dễ có khả năng sinh lời). Vốn đầu tư nước ngoài
theo nghĩa rộng gồm cả vốn bằng tiền, công nghệ, kỹ thuật, lao động kỹ thuật
cao, kỹ năng quản lý.... Sự di chuyển này thường sảy ra theo 3 hướng: Hướng
thứ nhất, di chuyển theo không gian: trong cùng một lĩnh vực nhưng nhà đầu tư
của quốc gia này quyết định đầu tư ở quốc gia khác, trường hợp này thường từ
các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Hướng thứ hai, di chuyển
khỏi lĩnh vực: các nhà đầu tư rút một phần vốn (hoặc toàn bộ vốn) từ lĩnh vực
này sang đầu tư ở lĩnh vực khác có khả năng sinh lời cao hơn. Ví dụ, rút vốn từ
lĩnh vực công nghiệp sang đầu tư ở lĩnh vực dịch vụ, giải trí, nông nghiệp, môi
trường... Hướng thứ ba, tổng hợp: đây là sự kết hợp cả xu hướng thứ nhất và thứ
hai. Ví dụ, các nhà đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp ở các nước có nền nông
nghiệp hiện đại sang đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp ở các nước có nền nông
nghiệp truyền thống.
Xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tăng hoặc giảm ở những giai
đoạn khác nhau; tăng hay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố xuất phát từ nhiều
phía, không riêng gì từ phía nước đầu tư và nước nhận đầu tư.
Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được các nhà
đầu tư nước ngoài đánh giá là một điểm đến có nhiều điều kiện thuận lợi cho
việc bảo toàn và sinh lời của vốn. Các điều kiện được các nhà đầu tư đánh giá
cao đó là môi trường luật pháp thông thoáng hơn (thủ tục hành chính được cải
cách đơn giản hơn, chỉ số bảo vệ các nhà đầu tư cao hơn so với các nước Đông
Nam Á), chính trị ổn định, lực lượng lao động dồi dào, tài nguyên đa dạng (đặc
biệt là tài nguyên đất và tài nguyên sinh vật), có giao thông đường thuỷ (hiện
trước hết là hệ thống thuỷ lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích
đất lúa 2 vụ. Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có
hiệu quả, bền vững công cuộc xoá đói, giảm nghèo...".
Thực hiện đường lối chỉ đạo của Đảng, Chính phủ đã có Nghị quyết số
24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 về ban hành Chương trình hành
động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trong Chương
trình hành động, Chính phủ đã đưa ra 5 nhiệm vụ chủ yếu. Trong đó, có nội
dung thực hiện công tác quy hoạch (có 9 vấn đề cần phải thực hiện), xây dựng
mới các chương trình mục tiêu quốc gia đến năm 2020 (có 3 chương trình được
xây dựng mới), xây dựng các đề án đến năm 2020 (có 36 đề án sẽ được thực
hiện). Nguồn kinh phí để thực hiện các nội dung trong Chương trình của Chính
phủ được đánh giá là vô cùng lớn, chiếm khoảng 40% tổng GDP. Trong đó,
nguồn vốn nước ngoài như vốn ODA và vốn FDI có vai trò rất quan trọng. Vì
thế, Chính phủ đã có Nghị quyết số 13/NQ - CP ngày 07 tháng 4 năm 2009 về
định hướng, giải pháp thu hút và quản lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong
thời gian tới. Nội dung Nghị Quyết đã chọn lọc các lĩnh vực quan trọng cần thu
hút đầu tư nước ngoài, trong đó lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn có
2 lĩnh vực gồm: phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực; chế biến
nông sản, phát triển các vùng khó khăn, nông nghiệp và nông thôn.
Để cụ thể hoá kế hoạch thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát
triển nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn ban hành "Chương trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn”. Nội dung chính của
Chương trình hướng vào phát triển công nghệ sinh học để tạo ra các giống cây,
con có năng suất, chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường, nhất là các sản phẩm
có giá trị kinh tế cao (cà phê, chè, rau quả, hoa cây cảnh, chăn nuôi, tô, cá và
các loại nhuyễn thể); sử dụng công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch để
nâng cao giá trị và mức độ vệ sinh an toàn thực phẩm của sản phẩm, tạo ra thị
trường tiêu thụ nông sản ổn định, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Bên cạnh,
đầu tư nước ngoài vào việc chế biến đặc biệt là chế biến cà phê hoà tan, cà phê
rang xay... để đến 2015 đạt sản lượng từ 10.000 - 15.000 tấn/năm, trong đó xuất
khẩu chiếm 50%.
- Chè: Mục tiêu chung của ngành chè đến năm 2010 - 2015 là trồng mới và thay
thế dần diện tích chf cũ đạt mức ổn định khoảng 130.000 ha (đến năm 2020 ổn
định ở diện tích 140.000 ha); sản lượng chè bút tươi đến năm 2015 ước đạt 900
ngàn tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 200 triệu USD, giải quyết việc làm cho
khoảng 1,5 triệu lao động trên cả nước. Để đạt được mục tiêu này, ngoài việc
mở rộng các cơ sở chế biến trong nước, cà thu hút ĐTNT vào ngành này để cải
thiện chất lượng giống chè, kiểm soát ngặt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong
chè, nâng cao năng suất và chất lượng đạt hiệu quả xuất khẩu cao. Các dự án
ĐTNT có thể thực hiện tại một số tỉnh miền núi như Hà Giang, Tuyên Quang,
Lai Châu, Yên Bái, Sơn La và Lâm Đồng.
- Cao su: Định hướng đến năm 2015 và lâu hơn nữa của ngành cao su là nâng
cao chất lượng cao su, phát triển nhanh công nghiệp chế biến mủ cao su xuất
khẩu. Theo định hướng đó, cần tập trung thu hút ĐTNN vào đầu tư các nhà máy
công nghệ hiện đại để nâng cao năng lực chế biến mủ cao su lu tâm (latex); phát
triển các sản phẩm công nghiệp cao su dùng làm nguyên liệu ngành giày dép và
may mặc; xây dựng các cơ sở chế biến các sản phẩm gỗ cao su công nghệ hiện
đại như máy ván sợi (MDF), ván ép, gỗ đúc... để nâng cao giá trị gỗ cao su.
- Rau quả: cần thu hút đầu tư ĐTNN để thực hiện các mục tiêu sau: xây dựng
các vùng nguyên liệu cây ăn qủa chủ lực, có lợi thế cạnh tranh, tập trung cho
các nhà máy theo hướng chủ yếu là thâm canh, xây dựng các vườn giống đạt
tiêu chuẩn và kiểm soát chất lượng; hiện đại hoá công nghệ bảo quản rau, quả
tươi phù hợp với vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ; xây dựng hệ thống thu
hái, tuyển chọn, bảo quản, đóng gói những loại rau quả có chất lượng cao phục
vụ xuất khẩu.
3) Ngành chăn nuôi và chế biến thức ăn chăn nuôi
- Chăn nuôi: thu hút FDI để phát triển các loại gia súc gia cầm theo hướng sản
xuất hàng hoá, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung dưới hình thức trang
ngạch xuất khẩu luôn tăng trưởng cao, năm 2007 đạt gần 2,4 tỷ USD, tăng gấp
hơn 10 lần so với năm 2000 (219 triệu USD). Hiện có khoảng hơn 900 doanh
nghiệp tham gia chế biến gỗ xuất khẩu, trong đó có gần 300 doanh nghiệp
ĐTNN quy mô lớn. Định hướng thu hút ĐTNN để thực hiện các dự án sau:
+ Phát triển các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao như đồ gỗ nội thất, đồ gỗ
ngoài trời, đồ mộc mỹ nghệ và sản phẩm mây tre.
+ Xây dựng, mở rộng các khu công nghiệp chế biến lâm sản ở các vùng có khả
năng cung cấp đủ nguyên liệu, ổn định, thuận lợi về cơ sở hạ tầng, đảm bảo có
lợi nhuận và cạnh tranh được trên thị trường khu vực và quốc tế.
+ Xây dựng các cơ sở sản xuất, chế biến tổng hợp gỗ rừng trồng và lâm sản
ngoài gỗ; chế biến ván nhân tạo và bột giấy, giảm dần chế biến dăm gỗ xuất
khẩu.
+ Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng nhiều lao động, ít nguyên liệu song
đạt giá trị cao...
5) Ngành thủy sản
- Khai thác thủy sản: Việt Nam có chiều dài bờ biển 3260 km với trên 1000
km
2
vùng đặc quyền kinh tế; trữ lượng hải sản khoảng 5 triệu tấn với khả năng
khai thác bền vững, tối đa 2 triệu tẩn/năm. Định hướng thu hút ĐTNN trong
ngành này là tập trung vào các dự án sử dụng công nghệ khai thác nghề cá có
trách nhiệm, khai thác loài cá có giá trị kinh tế cao, giảm tối đa khai thác loài cá
phụ, đồng thời không làm xáo động ngư dân ở vùng khai thác.
- Nuôi trồng thủy sản: Việt Nam có tiềm năng nuôi thủy sản lớn với trên 2 triệu
ha, trong đó 500000 ha mặn lợ, 400000 ha hồ ao, ruộng trũng và 500000 ha
vịnh đầm nuôi biển. Định hướng thu hút ĐTNN vào ngành này trong tời gian
tới là khuyến khích các dự án sản xuất giống và nuôi các loài giá trị cao (như
giống cá biển các loại, các loại giống bố mẹ sạch bệnh); sản xuất thức ăn hữu
cơ, vi sinh phục vụ phương pháp nuôi GAP, nuôi trồng thủy sản trên biển và hải
đảo...
các địa phương, chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi như miền
Đông Nam Bộ (54%), trong khi có tác động rất hạn chế đến khu vực miền núi
phía Bắc (4%), đồng bằng sông Hồng (5%). Đối tác nước ngoài tham gia đầu tư
trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp còn thiếu tính đa dạng; cho đến nay, đã có
các nhà đầu tư từ trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư vào lĩnh
vực nông, lâm, ngư nghiệp ở Việt Nam nhưng đối tác nước ngoài trong lĩnh vực
này vẫn chủ yếu là các nhà đầu tư từ châu Á.
Như vậy có thể thấy, việc thu hút, quản lý và sử dụng FDI trong lĩnh vực
nông nghiệp và phát triển nông thôn đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy
phát triển nền nông nghiệp nhưng chưa thực sự hiệu quả và tương xứng với vai
trò của nền nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Nguyên nhân dẫn đến
những hạn chế này thì nhiều, tuy nhiên có thể thấy một số nguyên nhân chính
như sau:
- Thủ tục hành chính, hành lang pháp lý trong việc thu hút và quản lý FDI
còn quá phức tạp, rườm rà nhiều khi gây khó hiểu thậm chí gây hiểu
nhầm cho các nhà đầu tư; một số điểm thiếu đồng bộ và nhất quán giữa