Đo lường sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin mang tính chất dự báo trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
______________________

LÊ TUẤN ANH

ĐO LƯỜNG SẮC THÁI NGÔN NGỮ CỦA NỘI
DUNG THÔNG TIN MANG TÍNH CHẤT DỰ BÁO
TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
______________________

LÊ TUẤN ANH

ĐO LƯỜNG SẮC THÁI NGÔN NGỮ CỦA NỘI
DUNG THÔNG TIN MANG TÍNH CHẤT DỰ BÁO
TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


DANH MỤC BẢNG BIỂU..................................................................................... 7
TÓM TẮT................................................................................................................ 8
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU........................................................................................... 1
1.1. Giới thiệu.....................................................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu.................................................2
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................2
1.5. Đóng góp điểm mới của đề tài.....................................................................3
1.6. Bố cục luận văn............................................................................................3
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 4

2.1. MD&A và các yêu cầu về nội dung trong báo cáo thường niên.....................4
2.3. Các yêu cầu về nội dung trong báo cáo thường niên tại Việt Nam...............20
2.3. Các cách đo lường sắc thái ngôn ngữ trong báo cáo thường niên.................21
2.3. Tổng quan các nghiên cứu về sắc thái thông tin........................................... 22
2.4. Những yếu tố tác động đến sắc thái thông tin............................................... 32
CHƯƠNG 3: NGUỒN DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........35
3.1. Mẫu nghiên cứu......................................................................................... 35
3.1. Xây dựng các biến số nghiên cứu............................................................... 37
3.2. Mô hình nghiên cứu thực nghiệm............................................................... 42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ..........44
4.1. Phân tích thống kê mô tả............................................................................ 44
4.2. Tương quan Pearson – mối quan hệ đơn biến giữa các biến số..................49
4.3. Phân tích hồi qui........................................................................................ 52


4.3.1. Phân tích các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sắc thái ngôn ngữ báo cáo
thường niên..................................................................................................... 52
4.3.2. Khả năng dự báo thu nhập trong tương lai của sắc thái ngôn ngữ.......54
4.3.3. Khả năng dự báo dòng tiền hoạt động trong tương lai của sắc thái ngôn

mang tính chất dự báo trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết có mối
tương quan như thế nào đến các đặc điểm của công ty này ở Việt Nam trong giai
đoạn từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 12 năm 2016. Cụ thể, bài viết sẽ tìm cách trả
lời các câu hỏi sau:
Thứ nhất, những yếu tố nào giải thích cho sắc thái ngôn ngữ được sử
dụng trong báo cáo thường niên?
Thứ hai, sắc thái ngôn ngữ của báo cáo thường niên có giúp dự báo
thành quả tương lai của doanh nghiệp hay không?
Sử dụng phương pháp hồi quy đa biến, bài nghiên cứu tìm thấy:
Thứ nhất, lợi nhuận sau thuế, quy mô công ty thể hiện qua giá trị vốn hoá thị
trường của công ty càng cao thì công ty càng có xu hướng đưa ra các thông tin dự
báo mang sắc thái tích cực về tương lai. Ngược lại, khi dòng tiền từ hoạt động kinh
doanh giảm, hoặc mức độ biến động tỷ suất sinh lợi của công ty tăng thì công ty ít
công bố các thông tin dự báo tích cực.
Thứ hai, các công ty càng có xu hướng đưa ra các thông tin dự báo tích cực
về tương lai thì lợi nhuận tương lai của công ty càng cao. Như vậy, các thông tin có
tính dự báo trong báo cáo thường niên thực sự là một nguồn thông tin hữu hiệu giúp
nhà đầu tư gia tăng khả năng dự báo lợi nhuận trong tương lai của công ty.
Thứ ba, mặc dù các thông tin có tính dự báo trong báo cáo thường niên có
thể dự báo lợi nhuận trong tương lai nhưng lại không dự báo được dòng tiền hoạt
động trong tương lai của công ty. Thay vào đó, các nhà đầu tư có thể sử dụng lợi
nhuận để dự báo dòng tiền hoạt động trong tương lai của công ty.
Từ khóa: MD&A, sắc thái ngôn ngữ, thông tin có tính dự báo tích cực/tiêu cực.


1

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1.


2

quan như thế nào đến các đặc điểm của các công ty. Ngoài ra, tác giả cũng sẽ đi sâu
vào phân tích xem mức độ tương quan của sắc thái thông tin và đặc điểm của các
công ty có sự khác biệt theo tính chất tích cực/ tiêu cực của dự báo hay không?
1.2.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xem xét các sắc thái ngôn ngữ

của nội dung thông tin mang tính chất dự báo trong báo cáo thường niên của các
công ty niêm yết có mối tương quan như thế nào đến các đặc điểm của công ty.
Đồng thời xem xét khả năng thông tin văn bản của báo cáo thường niên chứa đựng
những thông tin quan trọng về thành quả tương lai của doanh nghiệp.
Để cụ thể hóa cho các mục tiêu nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung trả lời
một số câu hỏi nghiên cứu của đề tài như sau:
Thứ nhất, những yếu tố nào giải thích cho sắc thái ngôn ngữ được sử
dụng trong báo cáo thường niên?
Thứ hai, sắc thái ngôn ngữ của báo cáo thường niên có giúp dự báo
thành quả tương lai của doanh nghiệp hay không?
1.3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng trong bài nghiên cứu là mối quan hệ giữa các sắc thái ngôn ngữ

của nội dung thông tin mang tính chất dự báo từ báo cáo thường niên và các đặc
điểm của công ty.
Về phạm vi nghiên cứu, bài nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam trong
giai đoạn năm 2012 đến năm 2016 và dựa vào báo cáo thường niên của 30 công ty
niêm yết trên sàn chứng khoán Hà Nội và sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.

1.6.

Bố cục luận văn
Bài nghiên cứu này có bố cục 5 phần với các nội dung của từng chương như

sau: Chương 1 là chương mở đầu của luận văn. Chương 2 là chương tổng quan
khung lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm ở trong và ngoài nước. Chương 3 bao
gồm các nội dung về nguồn dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và mô
hình nghiên cứu của luận văn. Chương 4 là kết quả nghiên cứu của tác giả. Cuối
cùng, chương 5 là chương kết luận và một số hạn chế của luận văn.


4

CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
2.1. MD&A và các yêu cầu về nội dung trong báo cáo thường niên
Báo cáo thường niên của doanh nghiệp là một tài liệu xuất bản hàng năm mà
một công ty đại chúng phải cung cấp cho các cổ đông nhằm mô tả hoạt động và tình
hình tài chính của công ty. Xét tổng quan, nội dung thông tin được cung cấp trong báo
cáo thường niên gồm 2 phần: (1) các phần thông tin định lượng (dạng số, có cấu trúc)
và (2) phần thông tin định tính (hay còn gọi là thông tin văn bản). Báo cáo thường niên
là một phương tiện truyền tải thông tin về các hoạt động kinh doanh, lợi nhuận và các
hoạt động liên quan của doanh nghiệp trong suốt một năm qua cũng như kế hoạch kinh
doanh, lợi nhuận, phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới.

Thông qua báo cáo thường niên, doanh nghiệp sẽ thể hiện sự minh bạch
trong cung cấp thông tin đến cộng đồng các nhà đầu tư, thể hiện trách nhiệm của
mình với cổ đông hiện hữu, thu hút sự quan tâm của các tổ chức đầu tư, nhà đầu tư
cá nhân mới,…
Để đạt được những điều này, năm 1980, Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) đã

cáo thường niên của các công ty trong danh sách Fortune 50 và kết luận rằng mức
độ dễ đọc của các ghi chú này là rất thấp.
Healy (1977) nghiên cứu tính dễ đọc của các chú thích trong báo cáo thường
niên của 50 công ty New Zeal. Lebar (1982) nghiên cứu báo cáo thường niên 10-K,
báo cáo hàng năm và thông cáo báo chí của 10 công ty NYSE năm 1978 và so sánh
sự khác biệt về chủ đề và thông tin giữa chúng. Kết luận chung từ các nghiên cứu
này là báo cáo thường niên của công ty là khá khó đọc và có thể được phân loại là
tài liệu kỹ thuật, trong đó phân loại những thông tin “không thể tiếp cận được đối
với một tỷ lệ lớn các cổ đông tư nhân”.
Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy các báo cáo thường niên đã trở nên
khó đọc hơn theo thời gian (ví dụ: Soper và Dolphin, 1964; Barnett và Leoffler,
1979; Jones và Shoemaker, 1994).
Vậy thực tế các nhà đầu tư có sử dụng được những thông tin trong báo cáo
thường niên để ra quyết định đầu tư hay không? Rogers, Rodney K., và Julia Grant
(1997) đã đánh giá các báo cáo thường niên của công ty để xác định cách các nhà


6

phân tích sử dụng chúng để viết báo cáo nghiên cứu của họ. Rogers, Rodney K., và
Julia Grant (1997) thấy rằng các báo cáo phân tích bên bán chủ yếu dựa vào các
phần tường thuật của báo cáo thường niên, với phần thảo luận và phân tích chứng
minh là nguồn thông tin duy nhất và lớn nhất. Họ cũng thấy rằng khoảng một nửa
báo cáo phân tích dựa trên thông tin không có trong báo cáo thường niên. Kết quả
cho thấy rằng nhu cầu thông tin của các nhà phân tích có thể được phục vụ tốt hơn
bởi các báo cáo thường niên được sửa đổi.
Do đó, tháng 10 năm 1998, SEC ban hành các hướng dẫn về nội dung tiếng
Anh đơn giản trong việc công bố các nội dung trong báo cáo thường niên của các
doanh nghiệp. Mục tiêu là giúp các nhà đầu tư có thể hiểu được các thông tin được
công bố trong các báo cáo của doanh nghiệp. SEC khẳng định rằng các thông tin

thiếu chi tiết (SEC (2003)). Để chứng minh quan điểm này, Pava và Epstein (1993) đã
chọn ngẫu nhiên 25 công ty từ Danh sách Sổ tay Cổ phiếu Phổ thông của Moody's và
cho thấy hầu hết 25 công ty mà họ nghiên cứu đã mô tả chính xác các sự kiện lịch sử,
nhưng rất ít công ty cung cấp các dự báo hữu ích và có tính chính xác trong MD&A.
Danh sách này đánh giá các công ty đại chúng theo định kỳ hàng quý, gồm đánh giá
hoạt động tài chính và giá cổ phiếu, và quan trọng nhất là liệt kê các sự kiện (xung đột
lao động, cạnh tranh, v.v.). Để xác định mức độ chính xác của thông tin được công bố
trong MD&A của các công ty được chọn, các tác giả đã xem xét các thông tin này có
liên quan đến tình hình thực tế của công ty sau một năm hay không.


8

Nếu thông tin dự báo trong MD&A là chính xác và có giá trị, các tác giả sẽ đánh giá
mối tương quan là chặt chẽ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong khi hầu hết các
công ty đã làm tốt công việc mô tả các sự kiện lịch sử, rất ít công ty cung cấp các dự
báo hữu ích và chính xác. Ngoài ra, các tác giả cũng đã thấy MD&A chứa nhiều
thông tin dự báo tích cực hơn là tiêu cực. Để định lượng kết quả kiểm tra, các tác
giả đã phân loại tất cả các sự kiện kinh tế quan trọng mà Moody báo cáo là có ảnh
hưởng đến từng công ty được chọn. Sau đó, các tác giả phân loại từng sự kiện cụ thể
cho công ty, ngành hoặc nền kinh tế tổng thể. Ví dụ, doanh số bán hàng của một nhà
sản xuất đồ chơi giảm do hội đồng quản trị muốn giảm tỷ trọng đồ chơi này thì
thông tin này được phân loại là của công ty cụ thể. Nếu giảm doanh số bán hàng
giảm là do sự quan tâm của người tiêu dùng với trò chơi nói chung giảm, nó được
phân loại theo ngành cụ thể. Và nếu sự sụt giảm doanh số bán hàng là do suy thoái
kinh tế nói chung, nó được phân loại là thuộc nền kinh tế. Các tác giả cũng phân
loại từng sắc thái thông tin là tích cực hoặc tiêu cực dựa trên tác động của nó đối với
hoạt động của công ty. Cuối cùng, các tác giả so sánh chất lượng của MD&A thông
qua hiệu quả hoạt động thực tế của công ty trong năm liền kề sau đó.
Do đó, các nội dung trong MD&A có cung cấp thông tin hữu ích cho thị

động của công ty trong MD&A, trong đó chất lượng MD&A được đo bởi Ủy ban
Giao dịch Chứng khoán (SEC). Bài nghiên cứu cho thấy xếp hạng MD&A càng cao
thì các dự báo thu nhập của các nhà phân tích càng chính xác sau khi kiểm soát
nhiều ảnh hưởng khác trên dự báo của các nhà phân tích. Bài nghiên cứu cũng cho
thấy các hệ số hồi quy ước lượng được phù hợp với thông tin MD&A có ảnh hưởng
đáng kể đến dự báo thu nhập. Những phát hiện này phù hợp với đề xuất của nhiều
cơ quan (kể cả SEC) rằng loại thông tin được tìm thấy trong MD&A chất lượng cao
có liên quan đặc biệt đến việc dự đoán thu nhập.
Levine, Carolyn B., và Michel J. Smith, (2006) đã xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về
việc công bố thông tin theo yêu cầu của các chính sách kế toán và cung cấp số liệu
thống kê mô tả và phân tích các thành phần ảnh hưởng đến chính sách kế toán. Các tác
giả xác định 25 chính sách quan trọng khác nhau, phổ biến nhất trong số đó là chứng
khoán có thể bán, sự suy giảm tài sản và cách ghi nhận doanh thu. Là một phần của quy
trình pháp lý, SEC yêu cầu các công ty nhận xét về các đề xuất của SEC


10

trước khi tạo công bố quyết định cuối cùng. Thông thường, không có đủ thông tin để
đưa ra kết luận và các ý kiến bằng văn bản phản ánh quan điểm hoặc phỏng đoán. Ví
dụ, đề xuất yêu cầu: “Có bao nhiêu ước tính kế toán mà một công ty thường xác định là
ước tính kế toán quan trọng theo định nghĩa được đề xuất?” Các công ty trong mẫu của
các tác giả công bố thông tin từ 0 đến 17 chính sách kế toán quan trọng, với trung bình
là 6. Phân tích của các tác giả cho thấy chính sách về công bố thông tin có vai trò quan
trọng, liên quan đến độ lớn hiện tại và tương lai của tài sản, rủi ro kiện tụng của công ty
và các kế hoạch tài chính trong tương lai. Các khoản mục tài sản khác trong bảng cân
đối kế toán cũng có tương quan cùng chiều đến việc công bố thông tin, cho thấy rằng
các chính sách quan trọng có thể phụ thuộc vào sự liên quan giữa các khoản mục kế
toán. SEC hỏi: “Thông tin bổ sung được đề xuất liệu có hữu ích cho các nhà đầu tư và
những người dùng khác không?” Các tác giả cung cấp bằng chứng cho rằng thị trường

tới tương lai hơn. Hơn nữa, các tác giả thấy rằng các doanh nghiệp hoạt động trong
ngành có tính tranh tụng cao, tính độc quyền mạnh, có thù lao dựa trên quyền chọn cổ
phiếu là lớn và đối mặt với các bên liên quan mà không nắm cổ phần lớn có nhiều khả
năng cung cấp nhiều thông tin hơn. Ngoài ra, các tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy
việc sử dụng các cơ chế tài chính thay thế (mua lại cổ phần


12

và tăng cổ tức) làm giảm xác suất mà người quản lý sẽ thực hiện việc công bố thông
tin có tính dự báo. Các thử nghiệm dựa trên thị trường cho thấy rằng thông tin được
công bố có liên quan đến giá cố phiếu. Thị trường phản ứng một cách tích cực đáng
kể với dự báo thu nhập (tức là các báo cáo có tính dự báo được cung cấp ngoài các
thông báo về thu nhập) cũng như các báo cáo dự báo đi kèm trong thông báo thu
nhập hiện tại (sau khi kiểm soát thông tin thu nhập của kỳ hiện tại). Hơn nữa, những
phản ứng này có tương quan tích cực với những thay đổi trong tương lai được điều
chỉnh theo mùa trong thu nhập, cho thấy sự công bố thông tin là có hiệu quả.
Lý thuyết kinh tế cung cấp các lập luận hấp dẫn rằng cam kết của công ty về
việc tăng mức độ công bố thông tin sẽ làm giảm bất cân xứng thông tin của công ty.
Tuy nhiên, việc kiểm định mối quan hệ này lại rất khó khăn. Leuz, Christian, và Robert
E. Verrecchia (2000) đã nghiên cứu mẫu các công ty ở Đức áp dụng các tiêu chuẩn kế
toán MS hoặc GAAP của Hoa Kỳ trong báo cáo tài chính hợp nhất. Tiêu chuẩn này
buộc các công ty phải tăng mức độ công bố thông tin đáng kể. Hơn nữa, mức độ công
bố thông tin ở Đức theo GAAP của Đức được mô tả là thấp. Vì những lý do này, thử
nghiệm nghiên cứu của các tác giả có vẻ đặc biệt phù hợp với việc ghi lại các kết quả
kinh tế của việc công bố thông tin tăng lên. Bằng chứng của các tác giả phù hợp với
khái niệm rằng các công ty cam kết tăng mức độ công bố thông tin thu được lợi ích
đáng kể về mặt kinh tế và các kiểm định có ý nghĩa thống kê. Các tác giả đã cho thấy
chính sách công bố thông tin của quốc tế có liên quan đến chênh lệch chi phí thấp hơn
và lợi nhuận cổ phiếu cao hơn khi các tác giả kiểm soát các đặc tính khác nhau của

thông tin, chính sách báo cáo tài chính và giao dịch thị trường. Cách tiếp cận của các
tác giả giải quyết vấn đề tại sao giới chuyên môn quan tâm đến các hình thức công bố
thông tin. Những lựa chọn như vậy có thể ảnh hưởng đến nhận thức của nhà đầu tư và
giá thị trường của công ty. Trong cách tiếp cận của các tác giả, các nhà đầu tư đôi khi
bỏ qua các khía cạnh liên quan của môi trường kinh tế, chẳng hạn như các ưu đãi của
các công ty. Các tác giả đã tập trung vào phần báo cáo thị trường của báo cáo tài chính
và sự công bố thông tin, thay vì các vấn đề như hiệu quả hoạt động, thuế và vấn đề
chính trị (xem thêm Watts và Zimmerman, 1986; Lambert (2001)). Trọng tâm của các
tác giả không chủ yếu là phân tích thu nhập (mặc dù nghiên cứu của các tác giả có xem
xét đến thu nhập được báo cáo) mà là về lựa chọn giữa các bản trình bày thông tin
tương đương và về hiệu ứng nội dung của các lựa chọn này đối với nhà đầu


14

tư. Vì chi phí vốn có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, cách tiếp cận của các tác giả
cho thấy rằng cách tiếp cận thông tin có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư.
Hutton, Amy, Gregory Miller, và Douglas Skinner (2003) đã kiểm định xem nhà
quản lý có đưa các thông tin bổ sung khi họ dự báo thu nhập hay không và nếu có, các
thông tin này có liên quan hệ thống đến bản chất của thông tin dự báo hay không và
liệu chúng có ảnh hưởng đến nội dung thông tin của dự báo thu nhập hay không. Các
tác giả thấy rằng các thông tin bổ sung của nhà quản lý đi kèm với thu nhập dự đoán
được trong hai phần ba thời gian xem xét. Các tác giả phân loại các thông tin này thành
các thông tin có tính không chính thức định tính và các thông tin có tính xác minh
được. Các tác giả dự đoán rằng các thông tin bổ sung của nhà quản lý khác nhau tùy
theo việc họ dự báo tin tốt hay xấu. Bởi vì tin xấu có khả năng đáng tin cậy, các nhà
quản lý ít có khả năng đưa ra các tuyên bố để thuyết phục các nhà đầu tư về tính xác
thực của tin xấu. Thay vào đó, các nhà quản lý có thể tìm cách giải thích các tin tức thu
nhập bất lợi bằng cách phân bổ hiệu suất kém cho các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của
họ. Kết quả của các tác giả không ủng hộ dự đoán này và cho thấy rằng xu hướng của

tin của công ty cổ phần về các dịch vụ có thời hạn và mối quan hệ như thế nào với giá
cổ phiếu. Bắt đầu sáu tháng trước khi chào bán, các công ty trong mẫu nghiên cứu đã
tăng đáng kể hoạt động công bố thông tin, đặc biệt đối với các loại thông tin mà công ty
có toàn quyền quyết định nhất. Mức tăng này là đáng kể sau khi kiểm soát hiệu suất thu
nhập hiện tại và tương lai của công ty và có xu hướng lớn nhất đối với các công ty có
các cổ đông cũng tham gia chào bán. Tuy nhiên, không có sự thay đổi về tần suất của
các báo cáo kỳ hạn trước khi chào bán cổ phần, một điều gì đó không được khuyến
khích bởi luật chứng khoán. Giá cổ phiếu của các công ty mà duy trì mức công bố
thông tin thì tăng trước khi chào bán và chỉ giảm giá nhẹ tại thời điểm thông báo chào
bán cho thấy việc công bố thông tin có thể đã giảm sự bất cân xứng thông tin vốn có
trong đợt chào bán. Các doanh nghiệp cũng tăng đáng kể hoạt động công bố thông tin
trong sáu tháng trước khi chào bán cũng có giá cổ phiếu tăng trước khi chào bán ở mức
tương đối so với các công ty không tăng hoạt động công bố thông tin, nhưng lại bị giảm
giá nhiều hơn nhiều khi công bố ý định phát hành cổ phiếu, cho thấy rằng việc tăng
công bố thông tin có thể đã được sử dụng để "thổi phồng cổ phiếu" và thị trường có thể
đã điều chỉnh một phần cho việc tăng giá trước đó. Các công ty duy trì mức độ công bố
thông tin không có đặc điểm giảm giá bất thường so với các


16

công ty kiểm soát sau thông báo, trong khi các công ty "thổi phồng" cổ phiếu của họ
tiếp tục chứng kiến cổ phiếu giảm giá mạnh, điều này cung cấp thêm bằng chứng cho
thấy việc tăng công bố thông tin có thể làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu của công ty.

Callahan, Carolyn M., và Rodney E. Smith (2004) đã nghiên cứu các thông
tin trong MD&A và phần I của báo cáo thường niên các công ty thuộc bốn ngành
công nghiệp khác nhau (ngân hàng, hàng không, dược phẩm và điện tử) có khác
nhau hay không, có liên quan đến hoạt động và định giá hoạt động trong tương lai
của công ty không. Các tác giả đã cho thấy các thông tin trong MD&A và phần I

ràng, thậm chí không phải trên các tài sản vô hình đang ngày càng trở thành nguồn
kiếm tiền không thể thiếu của công ty. Ngoài phân tích tài chính và thu nhập thông
thường, MD&A không yêu cầu phân tích rõ ràng tài sản của công ty và bất kỳ tiềm
năng tạo thu nhập nào có liên quan. Đối với các nguyên tắc báo cáo theo định hướng
của nhà đầu tư, dựa trên các yêu cầu báo cáo MD&A hiện tại, chắc chắn các công ty sẽ
cung cấp báo cáo MD&A đầy đủ dự đoán, có thể dựa trên thông tin liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp. Vì quy định MD&A của SEC chỉ tình cờ phục vụ nhu cầu thông tin của
nhà đầu tư để hoàn thành nhiệm vụ dự báo của họ. Việc thiếu định hướng phụ thuộc lẫn
nhau của việc công bố thông tin trong MD&A bắt buộc là đáng chú ý. Dựa trên cơ sở
thông tin được yêu cầu của SEC, nhà đầu tư có thể không đạt được những dự đoán cần
thiết. Bất chấp mọi lời chỉ trích, việc SEC yêu cầu bổ sung trong kế toán tài chính
thông tin có tính dự đoán và chất lượng phân tích về điều kiện tài chính của công ty và
khả năng kiếm tiền có vẻ phù hợp về mặt kinh tế. Tuy nhiên, việc chuyển đổi ý tưởng
này thành các quy tắc cụ thể vẫn chưa được thuyết phục, ngay cả khi các quy tắc chú ý
đến các yêu cầu bảo vệ của công ty tránh việc tiết lộ thông tin quá chi tiết. Hơn nữa,
hướng dẫn của MD&A trong “thời đại hậu Enron” gây ra mối quan ngại: vì MD&A
dường như ngày càng định hướng tránh sự xuất hiện của “những phát biểu sai lầm” kể
từ khi có nhiều vụ bê bối kế toán xảy ra. Một MD&A được tăng cường bởi các thông
tin như vậy sẽ làm giảm mục đích thực sự của MD&A cho các nhà đầu tư, tức là cung
cấp thông tin hữu ích về dự báo.

Đại hội đồng cổ đông được tổ chức cùng với việc công bố thu nhập của công
ty đã trở nên ngày càng phổ biến trong những năm gần đây, nhưng có rất ít bằng
chứng liên quan đến những lý do mà các cuộc họp này tăng dần về lượng cung cấp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status