THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT CỦA NHNoPTNT HUYỆN VỤ BẢN TRONG THỜI GIAN QUA - Pdf 67

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT CỦA
NHNoPTNT HUYỆN VỤ BẢN TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Đặc điểm của các hộ sản xuất ở huyện Vụ Bản
Vụ Bản là huyện nằm dọc theo quốc lộ 10 có:
- Phía Đông giáp thành phố Nam Định
- Phía Tây giáp huyện ý yên.
- Phía Nam giáp huyện Nam trực.
- Phía Bắc giáp Huyện Mỹ lộc.
* Huyện Vụ Bản có 18 đơn vị hành chính gồm 17 xã, 01 thị trấn nằm ở trung
tâm huyện. Nhìn chung tương đối phát triển song hệ thống điện, đường giao thông nông
thôn của huyện đã được xây dựng xong nhưng chưa được hoàn chỉnh.
Trong những năm gần đây Vụ Bản đã đạt được những thành tựu đáng kể như:
đường quốc lộ 10 được nâng cấp mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông Vụ
Bản với các tỉnh Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh do đó kinh tế thương mại của Vụ
Bản tăng trưởng khá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm ăn của các hộ sản xuất ở địa
phương.
* Vụ Bản tính đến năm 2006 có tổng diện tích tự nhiên của huyện là 14.038 ha
trong đó diện tích đất nông nghiệp là 10.096 ha.Tổng dân số trong huyện là 126.784
người.Trong đó hộ sản xuất nông nghiệp khoảng 28.330 hộ chiếm 85% tổng số hộ, với
đặc thù kinh tế thuần nông, với lợi thế là cây lúa và các loại cây hoa màu khác như lạc,
đậu tương... và vật nuôi là con:(Lợn, con bò) là chủ yếu.
Hộ sản xuất ở huyện Vụ Bản cũng mang những đặc tính của hộ sản xuất nói
chung như đã nêu ở trên. Ngoài ra còn có một số đặc trưng khác có thể kể ra ở đây như
là:
Bên cạnh lợi thế là cây lúa nước và các loại cây hoa màu khác như lạc, đậu
tương, ngô,… và vật nuôi là các con như lơn, bò…,các hộ sản xuất của huyện Vụ Bản
còn có thế mạnh trong các ngành nghề truyền thống khá phát triển như: Mây tre đan ở
Vĩnh Hào, nghề rèn ở Quang Trung, nghề dệt ở Thành Lợi, nghề sơn mài ở Liên
Minh...Các nghề truyền thông đó đã có thời gian bị mai một, nay được sự quan tâm của
huyện, của các ban ngành đã hoạt động trở lại và đang trên đà phát triển. Tuy nhiên đa

29/12/2006 và chỉ thị 20/2007 ngày 24/8/2007 của Thủ tướng chính phủ về việc phê
duyệt đề án không dùng tiền mặt trong thanh toán và trả lương qua tài khoản. đến nay
qua 3 tháng triển khai mở thẻ ATM, NHNo Vụ Bản đã phát hành trên 200 thẻ và tiếp
tục sẽ tăng mạnh trong năm 2009
Ngoài ra NHNo Vụ Bản còn ra quyết định thành lập các tổ huy động vốn, cho
vay, tính đến năm 2006 dã thành lập được ở tất cả các thôn xóm ở địa phương , mỗi
thôn xóm 1 tổ huy động vốn và cho vay mà thành viên trong tổ chính là các hộ sản xuất
kinh doanh của thôn xóm ấy. Với hình thức này các hộ sản xuất được trực tiệp tiệp cận
với các thông tin về lãi suất cũng như các thủ tục giấy tờ cần thiết khi gửi tiết kiệm
hoặc khi muốn vay vốn tại ngân hàng. Tiếp thị lưu động quy định và giao rõ nhiệm vụ,
với nhân lực là các cán bộ nhân viên có kinh nghiệp, hiểu biết các nghiệp vụ của ngân
hàng, đồng thời cho in hàng loạt tờ rơi giao cho các tổ huy động vồn và tổ vay vốn đi
tiếp thị trực tiếp đến nhà người dân có khả năng tài chính (trên cơ sở đã điều tra nắm
bắt trước) để quảng cáo tiếp thị về các hình thức huy động vốn khuyến mại với mức lãi
suất cao hấp dẫn như: lãi suất tiết kiệm bảo đảm bằng vàng, hình thức tiết kiệm dự
thưởng…
Tiếp theo là việc đầu tư nâng cao trình độ nguồn nhân lực: Bên cạnh nhưng lớp
đào tạo về nghiệp vụ cho những cán bộ mới vào làm việc, ngân hàng còn tạo mọi điều
kiện cho cán bộ của mình tham gia học nâng cao trình độ. Do đó tính đến nay ngân
hàng đã có 64,7% số cán bộ nhân viên có trình độ đại học.Ngoài ra để việc huy động
vốn có hiệu quả toàn bộ cán bộ đều phải quán triệt tư tưởng, thái độ phục vụ khiêm tốn
hòa nhã, tận tình với khách hàng, không phân biệt khách hàng là hộ gia đình, là các
doanh nghiệp, khách hàng dù gửi ít cũng như gửi nhiều, tranh thủ huy động vốn tại chỗ
đối với các khách hàng có người thân gửi tiền từ nước ngoài về
Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các khoản tiền gửi của khách hàng, ngân hàng
huyện đã tham gia bảo hiểm tiền gửi tháng 7/2000 theo nghị định 89/1999/NĐ-CP về
bảo hiểm tiền gửi của Chính phủ đã tạo tâm lý yên tâm cho khách hàng khi gửi tiền vào
Ngân hàng.
2.2.2. Quy trình thực hiện đầu tư cho vay hộ sản xuất
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động

Bước 3: Giám đốc Ngân hàng, trưởng phòng tín dụng… tuỳ theo phân cấp xét
và ra quyết định cho vay. Phán quyết sẽ ra quyết định cho vay hoặc lập báo cáo trình
lên cấp trên xem xét
Bước 4: Hoàn tất thủ tục hồ sơ, tiến hành kí hợp đồng tín dụng và chuyển hồ sơ
tín dụng sang bộ phận kế toán và ngân quỹ.
Bước 5: Bộ phận kế toán và ngân quỹ kiểm tra lại các thông tin trong hợp đồng,
thực hiện bút toán cần thiết, sau đó tiến hành giải ngân.
Bước 6: Kiểm tra giám sát khoản vay, cơ cấu lại thời hạn trả nợ tiến hành thu
lãi, thu nợ gốc và thanh lý hợp đồng tín dụng.
Tóm lại: Việc cho vay đối với hộ sản xuất được thực hiện theo trình tự sau: đầu
tiên cán bộ tín dụng sẽ phải hướng dẫn cho khách hàng lập hồ sơ xin vay vốn để nộp
cho ngân hàng; trên cơ sở hồ sơ xin vay của khách hàng và các nguồn thông tin khác
nữa ngân hàng tiến hành phân tích tín dụng đây chính là bước thẩm định khách hàng và
thẩm định phương án kinh doanh mà khách hàng mang đến để xin vay. Kết quả của
bước này sẽ giúp ngân hàng đưa ra quyết định co cho vay hay không; dựa vào kết quả
của bước trên để ngân hàng đưa ra quyết định cho vay; sau đó ngân hàng sẽ giải ngân
vốn; và khi đã cho vay thì ngân hàng phải có nhiệm vụ giám sát các khoản vay và thanh
lí tín dụng. Sau đây ta sẽ đi phân tích cụ thể một số bước trong quy trình trên:
2.2.2.1. Thẩm định trước khi cho vay
Để có thể được vay vốn của ngân hàng thì khách hàng phải đảm bảo các yêu cầu
sau:
Điều kiện 1: Khách hàng phải có năng lực pháp luận dân sự, năng lực hành vi
dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Điều kiện 2: Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
Điều kiện 3: Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
Điều kiện 4: Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, khả thi và có hiệu
quả.
Điều kiện 5: Thực hiện các quy định về bỏa đảm tiền vay quy định của Chính
phủ, NHNN Việt Nam và hướng dẫn của NHNo Việt Nam.
Quy trình thẩm định nhằm kiểm tra năm điều kiện trên để ngân hàng có thể đưa

Hiện nay ở ngân hàng nông nghiệp huyện Vụ Bản thì cán bộ tín dụng cũng kiêm
luôn việc thẩm định. Kết quả của việc thẩm định này là dựa trên sự đánh giá của cán bộ
thẩm định trên cơ sở khoa học và các chuẩn mực khác. Do vậy muốn cải thiên chất
lượng thẩm định trước hết cần đầu tư nâng cao trình độ của cán bộ một cách thích đáng.
Ngân hàng cũng đã trang bị một hệ thống máy tính và phần mềm thẩm định khá
đồng bộ giúp cho việc thẩm định của cán bộ được dễ dành và chính xác. Các thông số
tính toán về mặt tài chính của các dự án kinh doanh đã được tính toán trên máy đảm bảo
tính khoa học, logic, chính xác trong việc thẩm định.
Hoạt động thẩm định phải đảm bảo việc phân tích đánh giá phải tiến hành toàn
diện, phải đánh giá năng lực pháp lý, tư cách đạo đức, uy tín của khách hàng vay bởi
điều đó quyết định ý thức trả nợ của khách hàng. Phân tích đánh giá chính xác năng lực
tài chính, năng lực kinh doanh, môi trường kinh doanh của khách hàng bởi nó quyết
định đến khả năng trả nợ của khách hàng. Bên cạnh đó còn phải chú trọng đến việc
thẩm định tính khả thi và tính hiệu quả của những phương án kinh doanh mà hộ sản
xuất sẽ thực hiện.
Trước hết là việc thẩm định khách hàng. NHNo&PTNT huyện Vụ Bản khi thẩm
định khách hàng tập trung vào việc tìm hiểu và thẩm định các thông tin sau:
* Đánh giá về năng lực pháp lý của khách hàng vay vốn.
- Khách hàng vay vốn phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân
sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật để gắn trách nhiệm của
khách hàng với sự ràng buộc về mặt pháp luật, giúp cho các nhà kinh doanh thuận tiện
trong việc quản lý.
Đối với hộ sản xuất tất cả các thành viên trong gia đình cần kí cam kết vay vốn
và chủ gia đình phải là người có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi. Thông
qua các giấy tờ như: chứng minh thư nhân dân của người chủ gia đình, sổ hộ khẩu để
kiểm tra về năng lực pháp lí của khách hàng. Việc thẩm định năng lực pháp lí của
khách hàng là hộ gia định cũng đơn giản hơn nhiều so với thẩm định doanh nghiệp.
Điều này không phải là do ngân hàng xem nhẹ việc thẩm định đối với khách hàng là hộ
sản xuất mà do tích chất khác nhau giữa hộ sản xuất so với doanh nghiệp. Hộ sản xuất
là những hộ đã gắn bó lâu dài ở địa phương do đó nguồn thông tin mà ngân hàng có

hoạt động của khách hàng trong tương lai tốt hay xấu. Qua đó xác định mối quan hệ lâu
dài giữa khách hàng với ngân hàng trong tương lai.
Phân tích tình hình tài chính của khách hàng, ngân hàng sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Xem cơ cấu kinh doanh của khách hàng hợp lý hay không. Nếu không hợp lý
thì hiệu quả sử dụng vốn thấp. Cơ cấu giữa vốn cố định và vốn lưu động, cơ cấu này
cũng có khác nhau giữa các khách hàng sản xuất và kinh doanh.
- Phân tích đánh giá khả năng tự tài trợ, tự trang trải về vốn trong kinh doanh của
khách hàng. Khả năng tự chủ về tài chính của khách hàng càng cao thì càng tốt.
Nguồn vốn có của khách hàng (vốn chủ sở hữu)
Hệ số tài trợ =
Tổng nguồn vốn khách hàng đang sử dụng
Hệ số này càng cao, thể hiện tình hình tài chính của khách hàng càng vững chắc.
Khách hàng ít lo lắng trong việc vay, trả nợ. Như vậy năng lực đi vay rất lớn, điều này
dễ hiểu bởi vì người vay có thể vay được khi chứng minh được bản thân mình có khả
năng trả nợ.
Vốn vay so với doanh số hoạt động:
Vốn vay
< 1 thì khả năng tự tài trợ tốt
Doanh số hoạt động
Doanh số hoạt động lớn chứng tỏ vốn của khách hàng bỏ vào kinh doanh lớn,
vốn luân chuyển cao.
- Đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng: Có ảnh hưởng rất lớn tới mức
rủi ro trong một khoản vay. Một khách hàng có khả năng thanh toán tốt là có đủ khả
năng trả các khoản nợ khi đến hạn. Thông thường các doanh nghiệp có tình hình tài
chính tốt có thể tự cân đối các khoản nợ khi đến hạn, thường họ kéo dài thời hạn hoặc
vay nơi này để trả nợ nơi khác gây nên nợ nần dây dưa và đến một lúc nào đó khách
hàng sẽ mất khả năng thanh toán. Cho vay trường hợp này, khoản tín dụng của Ngân
hàng sẽ gặp rủi ro cao. Các chỉ tiêu ngân hàng sử dụng để phân tích khả năng thanh
toán của doanh nghiệp là: Khả năng thanh toán chung, khả năng thanh toán nhanh, khả
năng thanh toán cuối cùng.

Khách hàng có thị phần mở rộng hay khả năng tiếp cận thị trường nhanh thì có
năng lực kinh doanh và khả năng cạnh tranh tốt. Khả năng cạnh tranh của một khách
hàng thể hiện qua:
+ Sức cạnh tranh của sản phẩm, thể hiện chiến lược sản phẩm mà doanh nghiệp
đưa ra. Thường là 5 năm 1 vòng đời sản phẩm. Sau mỗi giai đoạn doanh nghiệp lại đưa
ra một sản phẩm mới để sản phẩm của khách hàng luôn luôn có chỗ đứng trên thị
trường.
+ Chiến lược về giá của 1 sản phẩm của một khách hàng. Khách hàng có khả
năng tổ chức sản xuất tốt thì mới hạ được giá thành sản phẩm.
+ Chiến lược về phân phối sản phẩm của một khách hàng, thể hiện qua việc tổ
chức mạng lưới, phương thức bán hàng, tổ chức kinh doanh bán hàng có hợp lý không.
Từ đó tạo điều kiện cho khách hàng có nguồn thu để trả nợ ngân hàng.
* Phân tích đánh giá môi trường hoạt động kinh doanh của khách hàng
Đánh giá môi trường hoạt động kinh doanh của khách hàng có rủi ro hay không
(môi trường ngành). Đánh giá môi trường của dự án mà khách hàng xin vay vốn. Đánh
giá môi trường kinh doanh trong nước và trên thế giới của sản phẩm mà khách hàng
SXKD. Đánh giá các cơ chế chính sách hay điều kiện để tổ chức SXKD của một khách
hàng tốt hay xấu. Phỏng vấn khách hàng để qua đó ngân hàng tìm hiểu thấu đáo khách
hàng, phát hiện những rối trá trong thông tin mà khách hàng cung cấp.
Thông qua việc nghiên cứu đánh giá về khách hàng trên các mặt: Năng lực hợp
pháp, năng lực phẩm chất của người lãnh đạo điều hành doanh nghiệp, năng lực tài
chính, năng lực kinh doanh, môi trường hoạt động kinh doanh của khách hàng, ngân
hàng sẽ xếp loại khách hàng và có chính sách cho vay phù hợp. Khách hàng đáp ứng đủ
các điều kiện trên được xếp vào loại A. Loại A luôn được các ngân hàng ưu tiên vì khả
năng hoàn trả nợ đúng hạn, đầy đủ là rất cao. Loại B là các khách hàng SXKD không
ổn định, có hiệu quả thấp, không vững chắc, có khó khăn về tài chính, nhưng trước mắt
vẫn vay trả bình thường. Loại này khó cho vay ngân hàng phải xem xét kỹ. Loại C là
các khách hàng thua lỗ có khả năng giải thể…ngân hàng không cho doanh nghiệp loại
này vay vì rủi ro quá cao.
Sau khi thẩm định khách hàng ngân hàng sẽ chuyển sang thẩm định phương án

phẩm đầu ra của dự án được sử dụng như thế nào. Khi thẩm định khía cạnh này ngân
hàng đi thẩm định các nội dung: đầu tiên là về thị trường tieu thụ sản phẩm: sản phẩm
của dự án được tiêu thụ ở đâu, cung cầu của thị trường như thế nào; sau đó thẩm định
về phương thức tiêu thụ sản phẩm của dự án…
Năm là: Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án đầu tư: Đây là nôi dung được
ngân hàng thẩm định rất kĩ, nó là cơ sở chủ yếu để ngân hàng biết được khách hàng có
khả năng trả nợ hay không từ đó đưa ra quyết định cho vay đúng đắn. Thẩm định khía
cạnh này bao gồm các nội dung: thẩm định tổng mức vốn đầu tư và cơ cấu nguồn vốn
của dự án; các báo cáo tài chính dự kiến từng năm (hoặc từng giai đoạn của đời dự án),
dòng tiển của dự án; các chỉ tiêu phân tích tài chính của dự án. Đối với những dự án của
hộ sản xuất nông nghiệp do quy mô nhỏ tính chất không phức tạp nên khi thẩm định tài
chinh dự án việc tính toán cũng rất đơn giản thường cán bộ tín dụng chỉ tính toán giá trị
đầu ra và đầu vào của dự án rối so sánh hai gia tri này. Nếu đầu ra lớn hơn đầu vào thì
dự án có lãi và cho vay. Đối với những dự án của các hộ sản xuất hoạt động trong các
lĩnh vực khác thì có tính chất phức tạp hơn, quy mô lớn hơn thì ngân hàng mới đi tính
toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính cụ thể như NPV, IRR, thời gian thu hồi vốn…
Tuy nhiên trên thực tế ngân hàng chỉ chú trọng đến khâu thẩm định tài chính của
dự án mà ít chú trọng đến các nội dung khác. Lí do được ngân hàng đưa ra là vì nhân sự
không đủ, cũng như việc thẩm định dự án đầu tư là hết sức phức tạp và rộng lớn, liên
quan đến nhiều lĩnh vực. Vì thế các nhân viên thẩm định không đủ hiểu biết để thẩm
định đầy đủ các nội dung. Ngoài ra còn một lí do khác nữa được ngân hàng đưa ra đó là
việc thẩm định các dự án tại ngân hàng được tiến hành sau khi dự án đã qua thẩm định

Trích đoạn Những hạn chế trong hoạt động sử dụng vốn để cho vay hộ sản xuất 1 Đầu tư còn nhỏ lẻ, dàn trả Công tác thẩm định còn nhiều hạn chế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status