ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TỐNG VÕ LỆ HÀ
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG – LÂM NGHIỆP VÀ
DU LỊCH HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TỐNG VÕ LỆ HÀ
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG – LÂM NGHIỆP VÀ
DU LỊCH HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ hợp lý tài nguyên môi trường
Mã số: 60.85.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. TRƯƠNG QUANG HẢI
Hà Nội - 2011
CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN VÀ ĐẶC ĐIỂM CẢNH
QUAN Ở HUYỆN SÓC SƠN .....................................................................................................35
2.1. Các nhân tố thành tạo cảnh quan ........................................................................... 35
2.1.1. Vị trí địa lý ................................................................................................... 35
2.1.2. Địa chất và khoáng sản ............................................................................... 35
2.1.3. Địa hình ....................................................................................................... 36
2.1.4. Khí hậu ......................................................................................................... 38
2.1.5. Thủy văn ....................................................................................................... 39
2.1.6. Thổ nhưỡng .................................................................................................. 40
2.1.7. Sinh vật ........................................................................................................ 42
2.1.8. Dân cư và hoạt động kinh tế ........................................................................ 43
2.2. Đặc điểm cảnh quan huyện Sóc Sơn.................................................................................................... 48
2.2.1. Hệ thống phân loại cảnh quan huyện Sóc Sơn ............................................ 48
2.2.2. Một số đặc điểm cấu trúc - chức năng của cảnh quan huyện Sóc Sơn ....... 59
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN SÓC SƠN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH PHÁT
TRIỂN NÔNG - LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG .......................................................... 72
3.1. Cơ sở lý luận đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông - lâm nghiệp
và du lịch bền vững........................................................................................................................................... 72
3.2. Đánh giá cảnh quan Sóc Sơn phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp bền vững .......... 73
3.2.1. Đặc trưng sinh thái của các loại cây lựa chọn ............................................ 73
3.2.2. Lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu .............................................................. 79
3.2.3. Đánh giá riêng các chỉ tiêu sinh thái .......................................................... 80
3.2.4. Đánh giá và phân hạng mức độ thuận lợi của các dạng cảnh quan
đối với cây nông – lâm nghiệp ............................................................................... 81
3.3. Đánh giá cảnh quan cho phát triển du lịch........................................................................................... 92
3.4. Định hướng giải pháp phát triển bền vững nông – lâm nghiệp và du lịch
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9
3.10
3.11
Tên bảng
Đặc điểm dân số huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Giá trị, cơ cấu ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản huyện Sóc
Sơn giai đoạn 2005-2009
Hệ thống phân loại cảnh quan của A.G. Ixatrenko
Hệ thống phân loại cảnh quan của N.A. Gvozdetsky
Hệ thống phân loại cảnh quan của Nhikolaev
Hệ thống phân loại các diện địa lí
Hệ thống phân loại các dạng địa lí
Hệ thống phân loại các cảnh địa lí
Hệ thống các chỉ tiêu phân loại cảnh quan áp dụng cho bản đồ
cảnh quan Việt Nam tỉ lệ 1 /1.000.000
Hệ thống phân loại cảnh quan huyện Sóc Sơn, Hà Nội
Chỉ tiêu phân chia phụ lớp cảnh quan khu vực
Thống kê diện tích lớp cảnh quan huyện Sóc Sơn
Thống kê diện tích phụ lớp cảnh quan huyện Sóc Sơn
Các yếu tố để phát triển trồng rừng thông nhựa
Tổng hợp nhu cầu sinh thái của các cây nông – lâm nghiệp
Tổng hợp phân cấp chỉ tiêu đánh giá thích nghi sinh thái đối
với nhóm cây nông nghiệp, lâm nghiệp huyện Sóc Sơn
68
69
76
78
80
80
81
83
83
84
85
87
93
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
Các bước thực hiện luận văn
7
1.1
Sơ đồ quy trình đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan
68
3.1
Bản đồ thích nghi sinh thái cây nhãn huyện Sóc Sơn
89
3.2
Bản đồ thích nghi sinh thái cây chè huyện Sóc Sơn
89
3.3
Bản đồ thích nghi sinh thái cây thông nhựa huyện Sóc Sơn
90
3.4
Bản đồ thích nghi sinh thái cây keo tai tượng huyện Sóc Sơn
91
1
3.5
của ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tỷ lệ hộ đói
nghèo giảm một cách đáng kể, góp phần ổn định an ninh chính trị, an toàn xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Sóc Sơn hiện nay vẫn là một huyện
nghèo của thủ đô Hà Nội. Những thế mạnh của Huyện như tài nguyên, vị trí, lao
động… chưa được khai thác, sử dụng một cách hiệu quả.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và mong muốn góp phần củng cố, bổ sung, nâng
cao kiến thức, vận dụng phương pháp nghiên cứu khoa học làm sáng tỏ lí luận qua thực
tế, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển
bền vững nông - lâm nghiệp và du lịch khu vực huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”.
1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng được bản đồ cảnh quan và phân hạng thích nghi các đơn vị cảnh quan
cho mục đích phát triển hai loại hình sản xuất là nông nghiệp, lâm nghiệp và phát triển
du lịch.
- Đưa ra đề xuất, kiến nghị có cơ sở khoa học nhằm mục đích phát triển bền
vững ngành nông - lâm nghiệp và du lịch dựa trên những nghiên cứu về sự phân hóa
lãnh thổ và đánh giá cảnh quan huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục tiêu đề ra, nhiệm vụ chính của luận văn như sau:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu, các hướng nghiên cứu về cảnh quan,
nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
- Thu thập, phân tích và hệ thống hóa các tài liệu, tư liệu hiện có về các hợp
phần tự nhiên của khu vực nghiên cứu.
- Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan, xây dựng bản đồ cảnh quan phục
vụ cho công tác nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu phục vụ mục đích phát
- Hướng tiếp cận địa lí tự nhiên tổng hợp là sát thực trong việc đánh giá điều kiện
tự nhiên cho việc giải quyết vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường.
- Đánh giá cảnh quan nhằm làm rõ tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên, cũng như sự phân hoá lãnh thổ đối với phát triển nông lâm nghiệp và du lịch
của vùng nghiên cứu.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đưa ra định hướng phát triển nông - lâm nghiệp và du lịch phù hợp với
thực tế địa phương, ngay trên địa bàn nghiên cứu.
- Kết quả nghiên cứu đạt được sẽ góp phần giúp các nhà quản lí, hoạch định
chiến lược địa phương có thêm cơ sở khoa học cho việc đề ra định hướng phát triển,
quy hoạch và tổ chức lãnh thổ không gian sản xuất, phương hướng khai thác, sử
dụng hợp lí tài nguyên nhằm phát triển nông - lâm nghiệp và du lịch kết hợp với
bảo vệ môi trường, ổn định đời sống nhân dân.
3
6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1. Quan điểm nghiên cứu
6.1.1. Quan điểm hệ thống
Bec-tơ-lan-phi nhận xét: “Hệ thống là tổng thể các thành phần, nằm trong sự
tác động tương hỗ, mỗi đối tượng và hiện tượng địa lí đều có nhiều thành phần và
các bộ phận có mối quan hệ biện chứng tạo thành một chỉnh thể, tạo thành hệ
thống, mỗi hệ thống đều có thể phân chia thành các cấp thấp hơn, đồng thời mỗi hệ
thống có thể là một thành phần của hệ thống cấp cao hơn”.
Quan điểm hệ thống là một quan điểm khoa học chung, một trong những
quan điểm đặc trưng của Địa lý học và là quan điểm cơ bản quyết định phương
pháp tư duy, tiếp cận mọi vấn đề.
Cơ sở của quan điểm này là các yếu tố tự nhiên trên một lãnh thổ luôn có tác
động qua lại và liên hệ chặt chẽ với nhau tạo nên một hệ thống động lực mở, tự điều
chỉnh và có trạng thái cân bằng động.
nhân tố tự nhiên, nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành và phân hoá
cảnh quan cũng như tác động tổng hợp của tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến phát
triển kinh tế - xã hội, môi trường. Đây là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá quy
hoạch lãnh thổ, sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường.
6.1.3. Quan điểm lãnh thổ
Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại và phát triển trong một không gian nhất
định. Các sự vật hiện tượng địa lý cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên này. Ở
đó có sự phân hóa và thống nhất nội tại nhưng đồng thời lại có mối quan hệ lãnh thổ
với các vùng xung quanh cả về đặc điểm địa lí tự nhiên và kinh tế -xã hội.
Trong nghiên cứu địa lý, bất kỳ một sự vật hiện tượng nào cũng đều phải gắn
với một không gian lãnh thổ nhất định. Mỗi cảnh quan đều được phát sinh, hình
thành, phát triển trên một vùng cụ thể. Trong nghiên cứu, phân tích không gian và mô
hình hoá không gian được nhấn mạnh, vì rằng sự phân hoá cảnh quan khu vực nghiên
cứu được thể hiện qua bản đồ cảnh quan. Trên cơ sở phân tích bản đồ, đưa ra ý kiến
đánh giá, kiến nghị việc khai thác sử dụng hợp lý đối với từng loại cảnh quan cho các
mục đích cụ thể của từng vùng và trên toàn lãnh thổ.
6.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Đây là quan điểm chỉ đạo trong nghiên cứu bảo vệ môi trường. Địa lý học đã
vận dụng quan điểm này vào việc nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các nhân tố điều
kiện địa lí tự nhiên và kinh tế- xã hội.
5
Ngày nay, việc đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho mọi
hoạt động phát triển kinh tế đều phải tuân thủ theo nguyên tắc phát triển bền vững. Sử
dụng hợp lý tài nguyên không phải chỉ khai thác, tận dụng triệt để các nguồn tài
nguyên trên lãnh thổ phục vụ phát triển kinh tế mà còn phải đảm bảo sự cân bằng về
sinh thái và bền vững về môi trường. Nếu tác động con người dưới mức cho phép thì
đó là động lực tạo cơ sở cho sự phát triển của hệ địa sinh thái theo chiều hướng ổn
định trong trạng thái cân bằng và phát triển của toàn hệ thống. Nhưng nếu tác động
- Khí hậu, thuỷ văn
- Thổ nhưỡng, sinh vật
- Phân loại cảnh quan
Các nhân tố KT - XH
- Dân cư, lao động
- Các hoạt động kinh tế
Xây dựng bản đồ, phân tích
đặc điểm cảnh quan
3. Đánh giá cảnh quan cho phát triển
nông - lâm nghiệp và DL
4. Đề xuất hướng sử dụng
Hình 1: Các bước thực hiện luận văn
+ Phương pháp thu thập, tổng hợp/phân tích tài liệu
Quá trình thực hiện đề tài, các tài liệu, số liệu liên quan đến khu vực nghiên
cứu được thu thập có chọn lọc, bao gồm các thông tin về tự nhiên (đặc điểm tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên), thông tin kinh tế xã hội (tình hình phát triển, tốc
độ chuyển dịch kinh tế, cơ cấu và mức sống của người dân trong huyện). Phân tích
xử lí phục vụ yêu cầu đặt ra theo mục đích của đề tài sau đó đánh giá tổng hợp, rút
ra nhận xét thực trạng và tiềm năng phát triển các ngành kinh tế của lãnh thổ nghiên
cứu.
7
+ Phương pháp khảo sát thực địa
8
thực vật, kiểu khí hậu, thuỷ văn). Những bản đồ thành phần được đưa về cùng tỉ lệ
rồi chồng xếp lên nhau, tiến hành phân tích liên hợp các thành phần để xác định
ranh giới của các đơn vị cảnh quan.
+ Phương pháp phân tích liên hiệp các yếu tố thành tạo cảnh quan
Việc phân tích, nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông –
lâm nghiệp và du lịch của huyện Sóc Sơn đòi hỏi phải đặt trong mối quan hệ với các
khu vực lân cận và trong cả nước. Nắm được thuận lợi, hạn chế của khu vực trong
việc kết nối với các vùng khác sẽ là cơ sở để đưa ra những kiến nghị, đề xuất phát
huy được thế mạnh của Huyện. Trong phạm vi của đề tài, huyện Sóc Sơn được xem
xét đánh giá trong mối liên hệ với thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Các hợp phần thành tạo cảnh quan của một khu vực bao gồm địa hình và các quá
trình địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật… vì vậy để đánh giá cảnh quan đòi hỏi phải
phân tích và nhận biết cụ thể cấu trúc của từng hợp phần. Phương pháp này được thực hiện
sau khi đã xử lý các thông tin thu thập về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của
huyện Sóc Sơn để từ đó xác định ranh giới và vạch ra các dạng cảnh quan hiện có trong
khu vực nghiên cứu. Trên cơ sở so sánh vai trò của các hợp phần tự nhiên, nhận biết hợp
phần trội để gộp các dạng cảnh quan có diện tích nhỏ với dạng cảnh quan liền kề.
+ Phương pháp lát cắt cảnh quan
Mục đích của phương pháp là nghiên cứu cấu trúc đứng và cấu trúc ngang
của cảnh quan dựa trên các lát cắt qua những cảnh quan điển hình trong lãnh thổ
huyện Sóc Sơn trong giai đoạn chuẩn bị, sơ thám và khảo sát chi tiết. Trong giai
đoạn chuẩn bị, trên cơ sở các tài liệu đã có và bản đồ địa hình, vạch ra tuyến lộ trình
để phục vụ cho công tác khảo sát thực địa nhằm xác định quy luật phân hóa cấu trúc
ngang và ranh giới giữa các dạng cảnh quan. Lát cắt cảnh quan thể hiện đặc điểm,
sự phân bố và mối liên hệ giữa các yếu tố thành tạo cảnh quan.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được
sau đó D.L. Armand gọi là “địa hệ” trong công trình “Khoa học về cảnh quan”
(1975). “Khoa học về cảnh quan” là một loạt tiểu luận về các đề tài lí thuyết và
phương pháp được sắp xếp theo một trình tự lôgic rõ ràng.
Một nhà cảnh quan tiêu biểu khác của Nga là A.G. Isachenko với nhiều công
trình có giá trị. Năm 1961, ông đã hoàn thành công trình “Bản đồ cảnh quan Liên
Xô, tỉ lệ 1/4.000.000 và vấn đề phương pháp nghiên cứu cảnh quan”. Năm 1969,
ông cho ra đời tác phẩm “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lí tự nhiên”, trong
đó ông đã trình bày những cơ sở lí thuyết và các nguyên tắc cơ bản trong phân vùng
địa lí tự nhiên. 5 năm sau (1974), ông cùng với A.A. Shliapnikov công bố công
trình “Về những nội dung của bản đồ cảnh quan địa lí”. Năm 1976, ông tiếp tục
xuất bản cuốn “Cảnh quan học ứng dụng” – công trình thể hiện tầm nhìn và khả
năng nắm bắt thực tiễn rất nhạy bén của ông khi đưa quan điểm ứng dụng vào cảnh
quan học. Những năm sau, một loạt các công trình về cảnh quan ứng dụng cũng
được hoàn thành như : “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho các sơ đồ quy hoạch
11
vùng” (E.M. Rakovskaia, I.R. Dorphman – 1980) ; “Phương pháp đánh giá cảnh
quan sinh thái nhằm mục đích phát triển tối ưu lãnh thổ” (M. Ruzichka, M. Miklas
– 1980).
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa cảnh quan học với các ngành khoa học khác
cũng có nhiều đại diện xuất sắc. Trước hết phải kể đến B.B. Polưnov – người sáng
lập môn địa hoá học cảnh quan vào những năm 40 của thế kỉ XX tại Liên Xô, mà
sau đó, công trình cùng tên “Địa hoá học cảnh quan” cũng đã được công bố bởi
A.I. Perelman. Trong cuốn sách này, A.I. Perelman đã thể hiện một phương pháp
nghiên cứu mới – nghiên cứu cảnh quan trên quan điểm địa hoá. Sau đó, tiếp tục có
thêm một hướng nghiên cứu cảnh quan khác trên quan điểm địa vật lí được biết đến
qua công trình “Địa vật lí cảnh quan” do tập thể các nhà khoa học thuộc Viện Hàn
lâm Khoa học Liên Xô công bố với I.P. Geraximov làm chủ biên.
Tiếp sau các tác giả của Nga và Liên Xô là một số tác giả theo trường phái
vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ Việt Nam” (1970). Năm 1991, Trương Quang Hải đã
tiến hành phân loại và phân vùng cảnh quan miền Nam Việt Nam. Đến năm 1998,
Nguyễn Văn Nhưng và Nguyễn Văn Vinh đã công bố cuốn “Phân vùng địa lí tự
nhiên đất liền, đảo – biển Việt Nam và lân cận”. Mặc dù có khá nhiều quan điểm
phân vùng khác nhau nhưng các tài liệu này đã cung cấp cơ sở lí luận và thực tiễn
cho việc nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp của các thế hệ sau được tiến hành
thuận lợi hơn.
Đối với hướng nghiên cứu địa hoá và sinh thái cảnh quan thì ở Việt Nam, tuy
ra đời muộn hơn các nước phương Tây nhưng cũng đã đạt được những thành tựu
đáng kể, tiêu biểu là Nguyễn Văn Vinh. Năm 1983, ông có bài viết “Những yếu tố
chính cấu thành cảnh quan địa hoá Việt Nam”. Tiếp đó, trong Hội thảo về sinh thái
cảnh quan (Hà Nội, 1992), ông cùng với Nguyễn Thành Long cũng đánh dấu sự mở
đầu của hướng nghiên cứu sinh thái trong cảnh quan học tại Việt Nam bằng bài viết
“Tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan”. Năm 1994, ông và Huỳnh Nhung
hoàn thành bài viết “Quan niệm về cảnh quan, hệ sinh thái, sự phát triển của cảnh
quan học và sinh thái học cảnh quan” – cho thấy rõ hơn mối quan hệ giữa hai
ngành cảnh quan học và sinh thái học. Cũng trong năm này, ông và Nguyễn Văn
Nhưng có bài báo cáo về “Chu trình vật chất, trao đổi năng lượng trong một số cảnh
quan Việt Nam” – cho thấy quan điểm sinh thái đã được vận dụng linh hoạt hơn trong
nghiên cứu cảnh quan Việt Nam.
Ngoài các hướng nghiên cứu truyền thống, Việt Nam cũng tiếp cận rất nhanh các
hướng nghiên cứu cảnh quan có ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin. Có thể kể
đến là Nguyễn Thành Long với công trình “Nghiên cứu cảnh quan Tây Nguyên trên cơ sở
13
ảnh vệ tinh Landsat” (1987) ; Phạm Hoàng Hải và nhiều người khác với công trình “Xây
dựng bản đồ cảnh quan sinh thái tỉnh Thanh Hoá tỉ lệ 1 : 200.000 trên cơ sở sử dụng các
tư liệu viễn thám” (1990) ; Nguyễn Văn Vinh và Nguyễn Cẩm Vân với “Thành lập bản đồ
cảnh quan đồng bằng Nam Bộ tỉ lệ 1 : 250.000 bằng tư liệu viễn thám” (1992).
với "Nghiên cứu và đánh giá tài nguyên phục vụ cho công tác phát triển kinh tế, xã
hội bền vững ở huyện vùng cao a Lưới", Luận án Tiến sĩ (2001); Phạm Thế Vĩnh
với “Nghiên cứu cảnh quan sinh thái dải ven đồng bằng sông Hồng phục vụ cho
việc sử dụng hợp lý lãnh thổ”, Luận án Tiến sỹ Địa lý (2004); Trương Quang Hải
với “Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên và phát triển bền vững vùng núi đá vôi Ninh Bình”, đề tài trọng điểm
cấp ĐHQG Hà Nội (2008),.....
Đó là chưa nói đến một loạt các bản đồ cảnh quan và đánh giá cảnh quan đã
được các nhà cảnh quan học và các nhà địa lí tổng hợp xây dựng nên trong hơn 30
năm qua, giúp cho lĩnh vực nghiên cứu cảnh quan của nước ta ngày càng có những
bước phát triển mạnh mẽ và vững chắc.
1.1.3. Huyện Sóc Sơn
Hầu hết các đề tài nghiên cứu được tiến hành ở huyện Sóc Sơn là các đề tài
đánh giá từng thành phần và các đề tài kỹ thuật, chỉ đề cập đến các vấn đề trong nghiên
cứu điều tra cơ bản và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Một số đề tài tiêu biểu như sau:
- “Đánh giá tiềm năng khoáng sản đất sét đồi trong vùng Sóc Sơn để sản
xuất gạch nung”, KS. Trịnh Thị Hòa. Đề tài thuộc Dự án điều tra cơ bản môi trường
theo Thông tư liên bộ số 155/TTLB. Đề tài đã đánh giá, dự báo tiềm năng đất sét
đồi vùng Sóc Sơn phục vụ lâu dài cho công nghiệp vật liệu xây dựng của thành phố
Hà Nội, là tiền đề tiếp theo cho các dự án đầu tư khai thác cung cấp nguyên liệu và
sản xuất vật liệu xây dựng của thành phố Hà Nội. Đề tài đã nêu sơ lược tình hình
địa chất và khoáng sản sét vùng Sóc Sơn, Hà Nội.
- “Nghiên cứu áp dụng các điều kiện sinh thái nông nghiệp để bố trí lại và
chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng trên nền canh tác lúa ở hai vùng có khó khăn
về đất đai và thời tiết”, KS. Ngô Sỹ Giai. Đề tài đã thu thập, phân tích đặc điểm các
điều kiện sinh thái ở vùng Sóc Sơn, đưa ra những kiến nghị, đề xuất sử dụng hiệu
quả, khai thác tài nguyên khí hậu, đất đai.
- “Ứng dụng viễn thám và hệ thống thông tin địa lý trong đánh giá biến động
đất nông lâm nghiệp huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sỹ nông
1.2.1. Khái niệm cảnh quan
“Cảnh quan” là thuật ngữ bắt nguồn từ ngôn ngữ Đức – “landschaft”, với
nghĩa là nước, miền, địa phương, khu vực, đã bắt đầu được sử dụng trong các sách
vở địa lí từ năm 1805. Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX thì nền móng
16
của cảnh quan học mới được xây dựng trong các công trình nghiên cứu về bề mặt
Trái Đất của các nhà địa lí kinh điển Nga, Đức, Anh, Mĩ, Pháp.
Trong quá trình phát triển của cảnh quan học, đã có rất nhiều tác giả đưa ra
các quan điểm, học thuyết khác nhau về cảnh quan, thể hiện qua hàng loạt các định
nghĩa về cảnh quan với nội dung và cách diễn đạt không giống nhau. Có thể gộp các
định nghĩa ấy vào ba nhóm quan niệm cơ bản như sau :
* Quan niệm coi cảnh quan là một khái niệm chung đồng nghĩa với tổng thể
thiên nhiên ở các cấp phân vị khác nhau.
Người đầu tiên hiểu khái niệm cảnh quan theo nghĩa này là S.S. Neustruev.
Ông cho rằng, “Cảnh quan là tổng thể gồm có những vật thể và những hiện tượng
tự nhiên phụ thuộc lẫn nhau, liên quan với nhau và thể hiện dưới dạng thể tổng hợp
địa lí ở các cấp phân vị khác nhau, có lịch sử hình thành khác nhau và có quá trình
phát triển không ngừng”. Ủng hộ quan điểm này có D.L. Armand, Y.K. Eftromov,
V.I. Prokaev, E.N. Lukasov,…
D.L. Armand quan niệm cảnh quan là khái niệm chung để gọi các tổng thể tự
nhiên lớn, nhỏ như cảnh quan Trái Đất, cảnh quan lục địa, cảnh quan đồng cỏ,…
Thuật ngữ cảnh quan không những có thể dùng cho bất kì đơn vị phân loại nào như
cảnh quan bán đảo, cảnh quan các khiên cổ,…, mà còn dùng theo ý nghĩa chung
giống như khái niệm đất đai, khí hậu,…
* Quan niệm coi cảnh quan là một đơn vị cá thể trong hệ phân vị tổng thể tự
nhiên, trong đó cảnh quan là đơn vị chủ yếu được xem xét về những biến đổi do tác
động của con người.
thống nhất về nền móng, kiểu địa hình và khí hậu, quy định cả sơ đồ thống nhất về cấu
trúc bên trong của nó. Mặt khác, cảnh quan là một tổng thể phức tạp của các hệ địa lí
địa phương (cảnh khu, cảnh diện) gắn kết với nhau một cách có quy luật, được hình
thành trong phạm vi của cảnh.
Vũ Tự Lập trên cơ sở tiếp cận khoa học cảnh quan Liên Xô (cũ) có chọn lọc đã
định nghĩa : “Cảnh quan địa lí là một địa tổng thể được phân bố ra trong phạm vi một
đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng
nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ
nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng
địa lí và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất”. Định
nghĩa này nói lên quá trình phát sinh các đơn vị lớn hơn, chủ yếu là cấp đới địa lí và đai
cao địa lí, tính đồng nhất trong cấu trúc đứng và tính phân dị trong cấu trúc ngang.
18