CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HỔ TRỢ NGÀNH DỆT
MAY
1.1. Khái niệm chung về công nghiệp hỗ trợ
1.1.1. Khái niệm chung.
Công nghiệp hỗ trợ (supporting industry) là một khái niệm khá mới đối với Viêt
Nam. Gần đây khái niệm công nghiệp hỗ trợ đã bắt đầu được đề cập đến ngày càng
nhiều với cách nhìn nhận ngày càng rõ hơn tầm quan trọng của nó trong sự phát triển
của ngành công nghiệp của đất nước.
“ Công nghiệp hỗ trợ” là một từ tiếng Anh – Nhật được các doanh nghiệp Nhật sử
dụng từ lâu trước khi trở thành thuật ngữ chính thức. thuật ngữ này trở nên thông dụng
ở Nhật vào khoảng giữa những năm 1980. Và được chính thức sử dụng ở Việt Nam từ
năm 2003 bắt đầu từ khi Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn I ( 2003 –
2005) đề xuất việc soạn thảo quy hoạch tổn thể về phát triển công nghiệp hỗ trợ như là
một biện pháp cấp bách để xúc tiến đầu tư nước ngoài.
Hiểu theo nghĩa rộng thì CNHT là toàn bộ các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào
cho sản phẩm.
Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, công nghiệp hỗ trợ là ngành công nghiệp sản xuất
những sản phẩm trung gian, các linh kiện, phụ tung và công cụ có vai trò hỗ trợ cho
việc sản xuất một loại sản phẩm cuối cùng nhất định.
Tuỳ từng loại sản phẩm cụ thể cần sản xuất, những sản phẩm trung gian có thể
bao gồm nguyên liệu, vật liệu, linh kiện, phụ tùng, các bộ phận chi tiết lẻ, phụ liệu, bao
bì, nhãn mác, thuốc nhuộm, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v., và cũng có thể bao gồm cả
những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế,… Nếu kể các sản phẩm tương
tự thì phạm vi sẽ rất rộng nhưng nếu thêm một đặc tính nữa sẽ thấy phạm vi rõ ràng
hơn: Sản phẩm CNHT thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các DN
nhỏ và vừa. Những sản phẩm trung gian là một loại yếu tố “đầu vào” của quá trình sản
xuất công nghiệp. Do tính phức tạp của mối liên hệ sản xuất giữa các ngành công
nghiệp, việc xác định loại hình CNHT của một ngành nào đó cũng chỉ mang tính chất
tương đối.
Mỗi ngành công nghiệp đều phát triển theo chuỗi giá trị riêng biệt, song đều có
một điểm chung là được hình thành từ sự liên kết giữa 2 khu vực: khu vực thượng
sản phẩm ở khu vực hạ nguồn; mặt khác, việc thiết kế và chế tạo các sản phẩm mới ở
khu vực hạ nguồn yêu cầu CNHT phải nghiên cứu và chế tạo những vật liệu, phụ liệu,
bộ phận hay chi tiết sản phẩm phù hợp.
Sự phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử cho phép “làm các bên có cung
và có cầu gần lại với nhau” và giảm thời gian giao dịch giữa họ. Điều đó cho phép mở
rộng không gian tổ chức quan hệ giữa khu vực hỗ trợ và khu vực hạ nguồn.
- Ba là, nguồn lực tài chính. Việc giải quyết mối quan hệ giữa CNHT và khu vực hạ
nguồn cũng chính là việc giải quyết mối quan hệ liên ngành công nghiệp. Đầu tư vào
các ngành hỗ trợ bất lợi hơn so với đầu tư vào khu vực hạ nguồn do khối lượng vốn đầu
tư lớn, công nghệ phức tạp, thời hạn đầu tư và hoàn vốn đầu tư dài, độ rủi ro trong đầu
tư cao. Từ đó cho thấy việc cân đối nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển công
nghiệp và chính sách huy động các nguồn lực ấy có vai trò hết sức to lớn trong việc bảo
đảm các ngành CNHT phát triển có hiệu quả và bền vững.
Bên cạnh đó, việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một vấn đề quan trọng
đòi hỏi phải được xem xét một cách toàn diện để thấy được vai tṛ cũng như tác động
của nó đến sự phát triển của ngành CNHT. Mối liên hệ giữa FDI và CNHT có thể chia
thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Trước khi có FDI, nhiều công ty trong nước đã sản xuất sản phẩm và
CNHT cung cấp cho các công ty lắp ráp, gia công sản xuất sản phẩm chính cho thị
trường nội địa. Khi có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất CNHT sẽ phát triển
mạnh hơn nếu đựơc tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ của các DN FDI.
Sự liên kết này không phải tự nhiên hình thành mà các công ty CNHT phải tỏ ra có tiềm
năng cung ứng linh kiện, nguyên phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được
với hàng nhập.
Giai đoạn 2: Đồng thời với sự gia tăng của FDI, nhiều DN trong nước ra đời trong
các ngành CNHT chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của ngành công nghiệp chính
thông qua các DN FDI. Những DN này sớm hình thành sự liên kết với DN FDI để được
chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển một cách nhanh chóng.
Giai đoạn 3: Sau một thời gian hoạt động của DN FDI với qui mô sản xuất ngày
càng mở rộng, tạo ra thị trường ngày lớn cho CNHT, nhiều công ty vừa và nhỏ ở nước
tư phát triển CNHT, chính sách thuế đánh vào khâu nhập khẩu và khâu sản xuất các sản
phẩm hỗ trợ, mức độ đầu tư của Nhà nước vào nghiên cứu khoa học và công nghệ ở
khu vực CNHT.
1.1.3. Vai trò công nghiệp hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế
Ngành CNHT có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp
chính. Nếu được phát triển một cách hợp lý, nó sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển
của ngành công nghiệp chính, tạo nên sự phát triển theo chiều sâu cho nền công nghiệp.
Mặt khác, nếu nó kém phát triển, thì sẽ là một rào cản rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp sự
phát triển của ngành công nghiệp chính. Do đó có thể nói, CNHT có vai trò đặc biệt
quan trọng trong phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia. Vai trò ấy thể hiện trên
những mặt chủ yếu sau:
- Thứ nhất, CNHT là điều kiện quan trọng đảm bảo tính chủ động và nâng cao giá trị gia
tăng của ngành sản xuất sản phẩm của khu vực hạ nguồn. CNHT không phát triển sẽ
làm cho các công ty lắp ráp, gia công và những công ty sản xuất các thành phẩm cuối
cùng khác phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Dù những sản phẩm này có thể được cung
cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí chuyên chở, bảo hiểm
sẽ tăng lên làm tăng chi phí đầu vào. Đó là chưa kể đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian
nhận hàng nhập khẩu. Vì vậy, CNHT thiếu sẽ làm giá trị gia tăng thấp đi, ngành công
nghiệp chính thiếu sức cạnh tranh.
- Thứ hai, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, giảm xuất khẩu các sản phẩm
thô và nhập khẩu nguyên phụ liệu, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và đẩy nhanh
quá trình công nghiệp hoá theo hướng vừa mở rộng (broadening) vừa chuyên sâu
(deepening).
- Thứ ba, phát huy ảnh hưởng của tác động “lan toả” trong phát triển hệ thống công
nghiệp. Hệ thống này có thể liên kết theo chiều dọc hoặc chiều ngang, tạo thành các
cụm công nghiệp có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau. Do vậy, sự phát triển của
một ngành công nghiệp trong hệ thống đó sẽ có tác động mạnh mẽ đến các ngành công
nghiệp khác, kích thích các ngành này cũng phát triển theo sao cho đáp ứng được yêu
cầu của thời kì mới.
- Thứ tư, góp phần tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động, thu hút lao động
là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầu thiết yếu
của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội và đặc biệt nó là
ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, góp phần cân
bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước. Nó đáp ứng các nhu cầu về sản phẩm tiêu
dùng bao gồm các loại quần áo, chăn ga, gối đệm, các loại đồ dùng sinh hoạt trong gia
đình như: rèm cửa, vải bọc đồ dùng, khăn các loại…Mặt khác, sản phẩm của ngành dệt
may cũng được sử dụng trong ngành kinh tế khác như vải kỹ thuật dùng để lót đường,
thi công đê điều, các loại vải làm bọc đệm ô tô, làm vật liệu lọc vật liệu chống thấm.
Sản phẩm của ngành dệt may không chỉ là quần áo, vải vóc và các vật dụng quen thuộc
như khăn bàn, khăn tắm, chăn mền, nệm, rèm, thảm, đệm ghế, ô dù, mũ nón v.v. mà còn
cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt: lều, buồm, lưới cá, cần câu, các loại
dây nhợ, dây thừng, dây chão, các thiết bị bên trong xe hơi, xe lửa, máy bay, tàu bè
(một chiếc xe hơi trung bình dùng đến 17 kí sợi vải), vòng đai cua-roa, vỏ săm lốp, ống
dẫn, bao bì, và nói chung mọi vật liệu dùng để đóng gói, bao bọc, để lót, để lọc, để cách
nhiệt, cách âm, cách điện, cách thuỷ, và cả những dụng cụ y khoa như chỉ khâu và bông
băng.
Bất cứ một ngành công nghiệp nào muốn phát triển mạnh mẽ đều phải dựa trên
một nền tảng vững chắc, cũng như có một mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau giữa
các ngành công nghiệp cả theo chiều dọc và chiều ngang. Đối với ngành dệt may, quan
hệ theo chiều dọc của ngành này được biểu hiện dưới dạng chuỗi giá trị như sau:
Sản xuất Kéo Dệt Nhuộm, in Cắt Phân phối