LỜI MỞ ĐẦU
Ngành công nghiệp Dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt Nam.
Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầu
thiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội và đặc
biệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển,
góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước. Trong quá trình Công
nghiệp hoá- Hiện đại hoá hiện nay, ngành Dệt may đang chứng tỏ là một ngành mũi
nhọn trong nền kinh tế được thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trong
mấy năm gần đây, các thị trường luôn được rộng mở,số lao động trong ngành ngày
càng nhiều và chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành công nghiệp, giá trị đóng góp của
ngành vào thu nhập quốc dân…. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được,
ngành dệt may Việt Nam đã và đang gặp những vấn đề cần khắc phục như chất lượng
tăng trưởng của ngành thấp, vốn đầu tư xây dựng không hiệu quả, mất cân đối giữa
hai ngành Dệt và May…Trở ngại lớn đối với sự phát triển của ngành Dệt May hiện
nay là tỷ lệ nội địa hóa còn rất thấp, sự phụ thuộc rất lớn vào nguyên phụ liệu nhập
khẩu. Điều đó là do ngành công nghiệp hỗ trợ cho ngành DMVN chưa phát triển
tương xứng với sự phát triển của ngành dệt may để đáp ứng nhu cầu của ngành dệt
may trong nước. Những tồn tại và hạn chế của ngành CNHT đã làm cho ngành
DMVN chưa phát triển một cách tương xứng so với tiểm năng thực sự của ngành.
Trong khi đó, mục tiêu phát triển của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến
năm 2020 là trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về
xuất khẩu, thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước, tạo nhiều việc làm
cho xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế
giới; từng bước đưa ngành Dệt May thoát khỏi tình trạng gia công sản xuất.
Do đó, để đạt được mục tiêu đã định, thì việc nghiên cứu thực trạng của ngành
công nghiệp hỗ trợ ngành Dệt May Việt sẽ đóng góp một vai trò quan trọng. Nó phù
hợp với yêu cầu thực tế của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như yêu
cầu của sự phát triển ngành dệt may.
Từ yêu cầu thực tế đó và mục đích tìm hiểu những vấn đề lớn liên quan đến ngành
CNHT ngành DMVN trong giai đoạn hiện nay và thử tìm một số giải pháp để khắc
phục những vấn đề đó, sau quá trình thực tập tại Vụ Công Nghiệp, thuộc Bộ Kế
của ngành công nghiệp của đất nước.
“ Công nghiệp hỗ trợ” là một từ tiếng Anh – Nhật được các doanh nghiệp Nhật
sử dụng từ lâu trước khi trở thành thuật ngữ chính thức. thuật ngữ này trở nên thông
dụng ở Nhật vào khoảng giữa những năm 1980. Và được chính thức sử dụng ở Việt
Nam từ năm 2003 bắt đầu từ khi Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn I
( 2003 – 2005) đề xuất việc soạn thảo quy hoạch tổn thể về phát triển công nghiệp hỗ
trợ như là một biện pháp cấp bách để xúc tiến đầu tư nước ngoài.
Hiểu theo nghĩa rộng thì CNHT là toàn bộ các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào
cho sản phẩm.
Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, công nghiệp hỗ trợ là ngành công nghiệp sản xuất
những sản phẩm trung gian, các linh kiện, phụ tung và công cụ có vai trò hỗ trợ cho
việc sản xuất một loại sản phẩm cuối cùng nhất định.
Tuỳ từng loại sản phẩm cụ thể cần sản xuất, những sản phẩm trung gian có thể
bao gồm nguyên liệu, vật liệu, linh kiện, phụ tùng, các bộ phận chi tiết lẻ, phụ liệu,
bao bì, nhãn mác, thuốc nhuộm, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v., và cũng có thể bao
gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế,… Nếu kể các sản
phẩm tương tự thì phạm vi sẽ rất rộng nhưng nếu thêm một đặc tính nữa sẽ thấy
phạm vi rõ ràng hơn: Sản phẩm CNHT thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực
hiện bởi các DN nhỏ và vừa. Những sản phẩm trung gian là một loại yếu tố “đầu
vào” của quá trình sản xuất công nghiệp. Do tính phức tạp của mối liên hệ sản xuất
giữa các ngành công nghiệp, việc xác định loại hình CNHT của một ngành nào đó
cũng chỉ mang tính chất tương đối.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mỗi ngành công nghiệp đều phát triển theo chuỗi giá trị riêng biệt, song đều
có một điểm chung là được hình thành từ sự liên kết giữa 2 khu vực: khu vực thượng
nguồn (upstream) và khu vực hạ nguồn (downstream). Trong đó, khu vực thượng
nguồn thường được gọi là CNHT, làm nền tảng cơ sở để phát triển khu vực hạ nguồn.
Ngược lại, khu vực hạ nguồn là ngành công nghiệp chính, chỉ có thể phát triển khi
khu vực thượng nguồn phát triển, và khi khu vực hạ nguồn đã phát triển sẽ tạo “động
lực” thúc đẩy phát triển khu vực thượng nguồn.
cung và có cầu gần lại với nhau” và giảm thời gian giao dịch giữa họ. Điều đó cho
phép mở rộng không gian tổ chức quan hệ giữa khu vực hỗ trợ và khu vực hạ nguồn.
- Ba là, nguồn lực tài chính. Việc giải quyết mối quan hệ giữa CNHT và khu
vực hạ nguồn cũng chính là việc giải quyết mối quan hệ liên ngành công nghiệp. Đầu
tư vào các ngành hỗ trợ bất lợi hơn so với đầu tư vào khu vực hạ nguồn do khối
lượng vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp, thời hạn đầu tư và hoàn vốn đầu tư dài, độ
rủi ro trong đầu tư cao. Từ đó cho thấy việc cân đối nguồn lực tài chính cho đầu tư
phát triển công nghiệp và chính sách huy động các nguồn lực ấy có vai trò hết sức to
lớn trong việc bảo đảm các ngành CNHT phát triển có hiệu quả và bền vững.
Bên cạnh đó, việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một vấn đề quan trọng
đòi hỏi phải được xem xét một cách toàn diện để thấy được vai tṛ cũng như tác động
của nó đến sự phát triển của ngành CNHT. Mối liên hệ giữa FDI và CNHT có thể
chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Trước khi có FDI, nhiều công ty trong nước đã sản xuất sản phẩm
và CNHT cung cấp cho các công ty lắp ráp, gia công sản xuất sản phẩm chính cho thị
trường nội địa. Khi có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất CNHT sẽ phát triển
mạnh hơn nếu đựơc tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ của các DN FDI.
Sự liên kết này không phải tự nhiên hình thành mà các công ty CNHT phải tỏ ra có
tiềm năng cung ứng linh kiện, nguyên phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh
được với hàng nhập.
Giai đoạn 2: Đồng thời với sự gia tăng của FDI, nhiều DN trong nước ra đời
trong các ngành CNHT chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của ngành công nghiệp
chính thông qua các DN FDI. Những DN này sớm hình thành sự liên kết với DN FDI
để được chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển một cách nhanh chóng.
Giai đoạn 3: Sau một thời gian hoạt động của DN FDI với qui mô sản xuất ngày
càng mở rộng, tạo ra thị trường ngày lớn cho CNHT, nhiều công ty vừa và nhỏ ở
nước ngoài sẽ đến đầu tư.
Như vậy, mối liên hệ giữa CNHT và FDI có thể được hiểu: chừng nào các công ty
nước ngoài không thấy Chính phủ đưa ra các chính sách cụ thể và dài hạn để phát
triển CNHT theo hướng giai đoạn 1 và 2 cũng như không tạo điều kiện môi trường
khoa học và công nghệ ở khu vực CNHT.
1.1.3. Vai trò công nghiệp hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế
Ngành CNHT có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành công
nghiệp chính. Nếu được phát triển một cách hợp lý, nó sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chiến lược, cơ cấu và
cạnh tranh nội bộ
ngành
phát triển của ngành công nghiệp chính, tạo nên sự phát triển theo chiều sâu cho nền
công nghiệp. Mặt khác, nếu nó kém phát triển, thì sẽ là một rào cản rất lớn, ảnh
hưởng trực tiếp sự phát triển của ngành công nghiệp chính. Do đó có thể nói, CNHT
có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia. Vai trò
ấy thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
- Thứ nhất, CNHT là điều kiện quan trọng đảm bảo tính chủ động và nâng cao
giá trị gia tăng của ngành sản xuất sản phẩm của khu vực hạ nguồn. CNHT không
phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp, gia công và những công ty sản xuất các
thành phẩm cuối cùng khác phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Dù những sản phẩm này
có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí
chuyên chở, bảo hiểm sẽ tăng lên làm tăng chi phí đầu vào. Đó là chưa kể đến sự rủi
ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu. Vì vậy, CNHT thiếu sẽ làm giá trị gia
tăng thấp đi, ngành công nghiệp chính thiếu sức cạnh tranh.
- Thứ hai, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, giảm xuất khẩu các sản
phẩm thô và nhập khẩu nguyên phụ liệu, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theo hướng vừa mở rộng (broadening) vừa
chuyên sâu (deepening).
- Thứ ba, phát huy ảnh hưởng của tác động “lan toả” trong phát triển hệ thống
công nghiệp. Hệ thống này có thể liên kết theo chiều dọc hoặc chiều ngang, tạo thành
các cụm công nghiệp có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau. Do vậy, sự phát triển
của một ngành công nghiệp trong hệ thống đó sẽ có tác động mạnh mẽ đến các ngành
công nghiệp khác, kích thích các ngành này cũng phát triển theo sao cho đáp ứng
Hình 1.1: Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh ngành công nghiệp
Nguồn: Trung tâm thông tin kinh doanh và thương mại
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Điều kiện
cầu
Điều kiện các
yếu tố sản xuất
Chiến lược, cơ cấu và
cạnh tranh nội bộ
ngành
Các ngành CNHT và các
ngành liên quan
1.2. Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may.
1.2.1. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may.
Ngành công nghiệp Dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt Nam.
Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầu
thiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội và đặc
biệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển,
góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước. Nó đáp ứng các nhu cầu về
sản phẩm tiêu dùng bao gồm các loại quần áo, chăn ga, gối đệm, các loại đồ dùng
sinh hoạt trong gia đình như: rèm cửa, vải bọc đồ dùng, khăn các loại…Mặt khác, sản
phẩm của ngành dệt may cũng được sử dụng trong ngành kinh tế khác như vải kỹ
thuật dùng để lót đường, thi công đê điều, các loại vải làm bọc đệm ô tô, làm vật liệu
lọc vật liệu chống thấm. Sản phẩm của ngành dệt may không chỉ là quần áo, vải vóc
và các vật dụng quen thuộc như khăn bàn, khăn tắm, chăn mền, nệm, rèm, thảm, đệm
ghế, ô dù, mũ nón v.v. mà còn cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt: lều,
buồm, lưới cá, cần câu, các loại dây nhợ, dây thừng, dây chão, các thiết bị bên trong
xe hơi, xe lửa, máy bay, tàu bè (một chiếc xe hơi trung bình dùng đến 17 kí sợi vải),
vòng đai cua-roa, vỏ săm lốp, ống dẫn, bao bì, và nói chung mọi vật liệu dùng để
đóng gói, bao bọc, để lót, để lọc, để cách nhiệt, cách âm, cách điện, cách thuỷ, và cả
on trong sn xut to nờn thnh mt chui giỏ tr ca ngnh. Theo hỡnh trờn ta thy
chui giỏ tr ca ngnh dt may bao gm rt nhiu cụng on khỏc nhau t sn xut
x n khộo si dt vi nhum in hoa, hon tt ct v may.
Hỡnh 1.2: Quy trỡnh sn xut hon tt sn phm dt may.
Sản phẩm phụ trợ
Công nghệ dệt may Công nghệ phụ trợ
Phân bón, thuốc
phòng dịch bệnh
Công nghệ hóa dầu
Sản xuất
bông
Sản xuất xơ
sợi tổng hợp
Các laoij phụ tùng
kim khí và phi kim
loại
Các loại phụ tùng
kim khí và phi kim
loại
Các loại thuốc
nhuộm và hóa chất
phụ trợ
Các loại hóa chất
phụ trợ
Các loại phụ liệu
may
Công nghệ cơ khí,
chế tạo và điều
khiển tự động
Công nghệ cơ khí,
5 nghìn năm người Trung Quốc đã biết nuôi tằm và thuần hoá giống tằm, cuốn Biên
niên sử
[
đã đề cập tới dâu tằm vào triều vua Châu Vương (2200 trước Công nguyên).
Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và hàng quí tộc, nó thể hiện sự thuần
phục của dân đối với vua. Bí mật của ngành dâu tằm tơ được người Trung Quốc giữ
kín rất lâu, phải gần 1000 năm sau ngành nghề này mới được để lộ và lan truyền sang
các nước lân cận bằng con đường tơ lụa.
Theo một số tài liệu khác cho rằng nghề dâu tằm được lan truyền sang Triều
Tiên vào khoảng năm 1200 trước Công nguyên, sau đó là Nhật Bản thế kỷ thứ 3
trước Công nguyên, Ấn Độ giữa thế kỷ 2 trước Công nguyên.
Theo các nhà lịch sử phương Tây, cây dâu được trồng phát triển ở Ấn Độ thông
qua Tây Tạng vào khoảng năm 1400 trước Công nguyên và nghề trồng dâu, nuôi tằm
bắt đầu ở vùng châu thổ sông Hằng. Theo các nhà lịch sử Ấn Độ, nơi nuôi tằm đầu
tiên ở đây là thuộc vùng núi Hymalaya. Khi người Anh đến Ấn Độ, do buôn bán tơ
lụa mà nghề dâu tằm được phát triển và lan rộng sang vùng khác như Mysore, Jamu,
Kashmir. Ả Rập do nhập trứng tằm và hạt dâu từ Ấn Độ nên cũng là một trong
những nơi sớm có nghề dâu tằm.
Vào thế kỷ 4, nghề dâu tằm được thiết lập ở Ấn Độ như là trung tâm của châu Á
và tơ lụa được xuất khẩu tới Roma (Ý), nhưng đến thế kỷ 6 người Roma đã học được
kỹ nghệ sản xuất tơ và tơ đã được sản xuất ở châu Âu, người Roma đã hoàn toàn
chiếm lĩnh trong lĩnh vực sản xuất này. Từ Ý, dâu tằm được phát triển tới Hy Lạp,
Áo và Pháp. Vì lợi ích kinh tế đem lại nên ngành dâu tằm tơ được nhiều nước quan
tâm.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ngày nay các nước có ngành sản xuất nguyên liệu dệt may phát triển chủ yếu là
các nước Mỹ la tinh,Trung Quốc, Ân Độ. Trong đó Brazil là nước cung cấp bông sợi
lớn thứ 5 thế giới.
1.2.2.2. Ngành cơ khí.
Ngành cơ khí cung cấp các trang thiết bị máy móc cho ngành dệt may và các sản
chất và các năng lượng đầu vào. Do đòi hỏi của lĩnh vực may thời trang nên ngành
này rất phong phú theo yêu cầu về chất liệu, màu sắc của vải.
1.3. Các nhân tố tác động đến sự phát triển của ngành CNHT ngành dệt may.
1.3.1.Thị trường.
Như đã nói ở trên, ngành CNHT có vai trò sản xuất các sản phẩm trung gian hỗ
trợ cho việc sản xuất một sản phẩm cuối cùng. Như vậy nếu có sự tương thích đủ lớn
thì sự phát triển của ngành công nghiệp chính sẽ tạo ra thj trường ổn định phát triển
có hiệu quả các ngành hỗ trợ.
Đối với ngành dệt may, nếu như ngành may có quy mô nhỏ, sản xuất nhưng sản
phẩm có chủng loại đa dạng và sản lượng không lớn thì khối lượng sản xuất bông,
vải, sợi...sẽ nhỏ, giá thành sẽ tăng cao. Điều ấy dẫn đến khó tiêu thụ sản phẩm của
ngành hỗ trợ. Làm cho các ngành hỗ trợ kém phát triển. Gây ảnh hưởng trực tiếp đến
ngành dệt may, đặc biệt là dệt may xuất khẩu. Do đó để ngành hỗ trợ phát triển tương
xứng, đáp ứng được nhu cầu của dệt may trong nước thì cần một chính sách đầu tư
đồng bộ, liên kết chặt chẽ giữa các DN hỗ trợ và DN khu vực hạ nguồn. Đảm bảo
được chất lượng sản phẩm hỗ trợ và thị trường tiêu thụ.
1.3.2.Vốn.
Việc đầu tư vốn vào khu vực hỗ trợ ngành dệt may bất lợi hơn so với khu vực
hạ nguồn do khối lượng vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp, thời hạn đầu tư và hoàn
vốn dài, mức độ rủi ro cao. Do đó việc cân đối nguồn lực tài chính cho đầu tư phát
triển ngành công nghiệp dệt may và chính sách huy động phát triển các nguồn lực ấy
có vai trò rất to lớn trong việc bào đảm các ngành CNHT ngành dệt may phát triển có
hiệu quả và bền vững, đáp ứng được nhu cầu nguyên nhiêu liệu của ngành dệt may.
Bên cạnh đó việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành hỗ trợ cũng
là một vấn đề quan trọng đòi hỏi phải được xem xét một cách toàn diện. Với sự gia
tăng của vốn FDI vào ngành công nghiệp dệt may, đồng thời nhiều DN hỗ trợ cũng ra
đời và phát triển chủ yếu phục vụ cho hoạt động chính của ngành dệt may, cung cấp
nguyên liệu cho ngành dệt may phát triển. CacsDN hỗ trợ sẽ hình thành mối liên kết
với các DN FDI để chuyển giao công nghệ và phát triển một cách nhanh chóng. Khi
các DN hỗ trợ của dệt may phát triển thì sẽ thu hút được nhiều hơn nữa các nhà đầu
trong phạm vi khu vực và thế giới. Điều đó buộc mối quốc gia phải cân nhắc mức độ
đầu tư vào ngành hỗ trợ trong nước, không những chỉ dệt may trong nước cân gì thì
ngành hỗ trợ mới sản xuất cái đó. Mà cần mở rộng xuất khẩu các sản phẩm hỗ trợ dệt
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
may, và tăng cường tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm dệt may để tạo được lợi thế cho các
mặt hàng hệt may xuất khẩu.
1.4. Kinh nghiệm của các nước trong phát triển CNHT dệt may.
CNHT đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệp
chính. Thực tế các nước phát triển trên thế giới từ lâu đã rất đầu tư chú trọng phát
triển ngành CNHT để ngành CNHT làm cơ sở cho việc phát triển ngành công nghiệp
chính. Có thể rút ra được rất nhiều kinh nghiệm quý báu từ sự phát triển CNHT dệt
may của các nước có ngành dệt may phát triển như Trung Quốc, ấn Độ, Nam Phi...
1.4.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Công nghiệp dệt may của Trung Quốc đã và đang phát triển mạnh trong 2 thập
kỷ qua. Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia lớn nhất thế giới về sản xuất một số loại
sản phẩm dệt may, đồng thời cũng là quốc gia xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế
giới. Quá trình phát triển công nghiệp dệt may của Trung Quốc được chia làm 3 giai
đoạn.
- Giai đoạn 1: nhận thức được mối quan hệ mật thiết giữa ngành dệt và may,
Trung Quốc đã coi ngành dệt là ngành hỗ trợ chủ đạo cho ngành may, và sự phát
triển của 2 ngành công nghiệp này là đồng hành, song song cùng tồn tại, sự tăng
trưởng của ngành này là nền tảng cho ngành kia. Ngành dệt của Trung Quốc được bắt
đầu từ năm 1870. Từ năm 1870 cho đến 1940 là giai đoạn đầu phát triển ngành dệt.
Trong giai đoạn này, ngành dệt phát triển với tốc độ thấp, nguyên liệu tự cấp với chất
lượng thấp, thiết bị nhập khẩu. Hầu hết các nhà máy dệt là của tư nhân được bố trí ở
dọc bờ biển hoặc đường bộ để thuận tiện cho hoạt động chuyên chở và giao thương.
- Giai đoạn 2: tính từ năm 1949 đến cuối thập kỉ 70. Để đáp ứng nhu cầu may
mặc của nhân dân Trung Quốc, Chính phủ đã hết sức cố gắng mở rộng năng lực
ngành dệt. Đến cuối năm 1978, sản lượng sợi hoá học sản xuất ở Trung Quốc đạt
280000 tấn, sản xuất vải trước hết được ưu tiên cho nhu cầu thị trường nội địa. Do
để tái đầu tư…
1.4.2. Kinh nghiệm của Nam Phi
Từ năm 1994, Nam Phi đã đầu tư 1 tỷ USD để nâng cấp và hiện đại hoá ngành
công nghiệp dệt, may mặc và giày dép, giúp ngành này có thể cạnh tranh trên thị
trường quốc tế. Nhu cầu của thị trường Nam Phi ngày càng phản ảnh tính phức tạp
của một thị trường phát triển. Ngành dệt may của địa phương đã không ngừng lớn
mạnh để cung cấp cho thị trường một loạt các sản phẩm, từ sợi tự nhiên, sợi nhân tạo,
đến dệt, xe sợi, dệt kim, nhuộm…
Nhờ áp dụng những tiến bộ công nghệ, ngành dệt địa phương đã phát triển
thành một ngành dựa chủ yếu vào thiết bị sản xuất, trong đó sản xuất sợi nhân tạo
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chiếm tỷ trọng ngày càng cao. Mặc dù có quy mô tương đối nhỏ, ngành công nghiệp
dệt của Nam Phi đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ trên thị trường thế giới:
- Nhà sản xuất sợi Sans Fibres cung cấp 80% chỉ khâu (may) sử dụng trong
ngành may mặc trên thế giới)
- Nhà máy dệt vải Gelvenor Textiles cung cấp hơn 50% nhu cầu của thế giới
về vải may dù (parachute fabrics
- Nhà sản xuất quần áo vét House of Monatic đã cung cấp cho thị trường Anh
sản phẩm thứ 1 triệu
Một số nhân tố khiến cho việc đầu tư vào ngành dệt may và giày dép tại Nam
Phi trở nên hấp dẫn hơn. Nam Phi có hiệp định thương mại với EU và Mỹ theo đó
Nam Phi được hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi 17,5%. Tại thị trường Mỹ, xuất
khẩu dệt may của Nam Phi đã tăng 62% kể từ khi được hưởng ưu đãi theo đạo luật
AGOA. Nam Phi cũng được hưởng ưu đãi về thuế mà các nước SADC dành cho theo
Hiệp định Thương mại tự do SADC, thực hiện hoàn toàn vào năm 2008.
Nam Phi có lợi thế về nguyên liệu thô (sợi tự nhiên).
- Bông: Nam Phi sản xuất 40000 tấn bông một năm. Sợi bông cũng có thể nhập
từ các nước SADC để phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ.
- Da: Nam Phi có đủ nguyên liệu thô cần thiết để sản xuất bất kỳ loại giày dép
nào. Da bò, đà điểu, cá sấu sông Nile, da thú rừng, dệt và nguyên liệu nhựa PVC …
Thứ hai, ngành may mặc Ấn Độ có nguồn vải phong phú với chất lượng đa
dạng và giá khác nhau, vì vậy đã đáp ứng được mọi yêu cầu cho ngành may mặc.
Hàng nghìn loại sợi đa dạng đều có nguồn cung cấp trong nước để thích hợp với sở
thích và thời trang của khách hàng.
Thứ ba, ngành may mặc xuất khẩu đã phát triển mạnh mẽ đặc biệt từ sau cải
cách theo chiến lược định hướng xuất khẩu. Điều quan trọng đối với các nhà xuất
khẩu là cần thay đổi sản phẩm để bắt nhịp với xu hướng thời trang, trên cơ sở đó, các
qui trình sản xuất được thực hiện sao cho linh hoạt, mềm dẻo trở nên hết sức quan
trọng.
Nhìn chung, ngành may xứng đáng là một trong những ngành chủ lực trong
chiến lược xuất khẩu của Ấn Độ. Đó cũng là một trong những ngành có thu nhập
ngoại tệ nhiều nhất ở Ấn Độ, chiếm gần 16% lượng hàng xuất khẩu của nước này.
Hàng may mặc của Ấn Độ được đánh giá cao tại các thị trường lớn ở Châu Âu, Mỹ,
các nước Bắc Âu và Úc. Chính sách tự do hoá nhập khẩu và hỗ trợ xuất khẩu thời kì
cải cách đã góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất Ấn Độ về
năng suất, công nghệ và mẫu mã với các đối thủ Châu Á khá hùng mạnh như Thái
Lan, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.4.4. Bài học kinh nghiệm từ các nước có thể áp dụng ở Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích những đặc điểm của quá trình phát triển ngành dệt may nói
chung và ngành CNHT dệt may nói riêng của các nước trên, với các chính sách và giải
pháp mà các nước đã áp dụng để thúc đẩy sự phát triển của ngành CNHT, có một số
giải pháp hay và thích hợp với điều kiện của Việt Nam. Và Việt Nam hoàn toàn có thể
học hỏi và áp dụng các chính sách đó một cách linh hoạt và hợp lý. Cụ thể:
- Ở tầm vĩ mô quản lý nhà nước, Việt Nam cần xây dựng một chiến lược phát
triển ngành tổng thể và đồng bộ, trong đó định hướng và quy hoạch rõ sự phát triển
cảu ngành dệt may nói chung và ngành CNHT nói riêng theo từng giai đoạn và quá
trình cụ thể. Qua đó xây dựng các chương trình và kế hoạch cụ thể với các cấp các
địa phương để tạo một sự phát triển đồng bộ có hệ thống, không chắp vá, nhỏ lẻ gây
khó khăn cho sự phát triển chung của ngành công nghiệp dệt may.
xuyên cải tiến và đổi mới sản phẩm.
Cùng với sự dỡ bỏ hạn ngạch của WTO, thị trường nước ngoài đang đặt ra
những tiêu chuẩn cao đối với các sản phẩm không chỉ về mẫu mã, chất lượng mà còn
cả dịch vụ đi kèm. Điều này đòi hỏi các DN nếu muốn tồn tại và phát triển thì phải
không ngừng nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của
khách hàng.
Điều kiện về các yếu tố sản xuất: Các yếu tố sản xuất bao gồm yếu tố cơ bản và
yếu tố tiên tiến. Ngành DMVN được coi là có ưu thế: lao động dồi dào, ngành dệt
may có truyền thống lâu đời, vị trí địa lý thuận lợi…, đã tạo cho Việt Nam có điều
kiện về các yếu tố cơ bản khá đầy đủ. Tuy nhiên, các yếu tố tiên tiến như cơ sở hạ
tầng, thông tin liên lạc, viễn thông, nguồn nhân lực kỹ thuật cao (các kỹ thuật viên đã
qua đào tạo, các chuyên gia trong lĩnh vực dệt may) lại rất khan hiếm. Điều này đã
gây nhiều khó khăn cho ngành dệt may trong quá trình phát triển lên cấp độ cao, tức
là giai đoạn chuyển sang xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao, đòi hỏi
khả năng cạnh tranh cao hơn.
Điều kiện về chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành: Thời
gian qua, trên cơ sở xác định dệt may là ngành công nghiệp chủ đạo trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nhà nước đã thiết lập “Chiến lược phát triển
ngành dệt may đến năm 2010”. Đây là nền tảng giúp các DN DMVN có hướng đi
phù hợp với năng lực cạnh tranh của DN và đòi hỏi của tiến trình phát triển.
Trong nội bộ ngành dệt may đã xuất hiện nhiều DN có thành tích khá xuất sắc,
đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước thông qua hoạt động xuất khẩu, điều
này đã tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nội bộ ngành, thúc đẩy các DN cùng
nhau vươn lên.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Điều kiện về các ngành CNHT và các ngành liên quan: Ở các nước công
nghiệp phát triển, CNHT thường được phát triển đi trước một bước hoặc ngang bằng
so với ngành công nghiệp chính. Nhưng thực tế ở Việt Nam, ngành CNHT lại phát
triển rất yếu ớt, thể hiện qua việc 70-80% nguyên phụ liệu cho công nghiệp xuất khẩu
phải nhập khẩu từ nước ngoài.
đáng kể, cần tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành CNHT cung cấp nguồn
nguyên vật liệu cho các công ty nước ngoài, đồng thời khuyến khích đầu tư trong
nước vào các ngành này; (iii) nâng cao nội lực thông qua chuyển giao công nghệ từ
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong quá trình này, Việt Nam có thể thực hiện đan xen
giữa các bước gần giống nhau nhưng không thể đốt cháy giai đoạn…Hiện nay, Việt
Nam vẫn chưa hoàn thành được bước thứ nhất, đang tập trung ở bước này nên những
biện pháp tăng cường tỷ lệ nội địa hoá và chuyển giao công nghệ khó có thể trở thành
hiện thực”.
Quan điểm thứ hai cho rằng Việt Nam cần nhanh chóng phát triển CNHT, đặc
biệt là công nghiệp dệt may hoặc những ngành phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu như
lắp ráp xe máy, điện tử dân dụng, ô tô…Quan điểm này xuất phát từ tình trạng phụ
thuộc vào nước ngoài về các loại nguyên phụ liệu cho sản xuất sản phẩm, giá trị gia
tăng được tạo ra từ sản xuất trong nước thấp kém, kéo theo hiệu quả của sản xuất và
xuất khẩu thấp, khả năng sản xuất trong nước và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
2.2.2. Quy hoạch phát triển ngành CNHT ngành dệt may Việt Nam.
Quy hoạch phát triển công nghiệp dệt may đến năm 2015, định hướng đến năm
2020 đã được Bộ Công thương phê duyệt tại quyết định 42/2008/QĐ- BCT ngày
19/11/2008. Quy hoạch đưa ra mục tiêu tổng quát phát triển ngành dệt may trở thành
một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu đảm bảo cho
các DN dệt may phát triển bền vững, hiệu quả. Giai đoạn 2008 đến 2010, tăng trưởng
sản xuất bình quân đạt 16% đến 18%, tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 20% và
kim ngạch xuất khẩu đạt 12 tỷ USD vào năm 2010, 18 USD tỷ vào năm 2015, 20
USD tỷ vào năm 2020, sử dụng 2,5 triệu lao động đến năm 2010, 3 triệu lao động đến
năm 2020 v.v...
2.2.2.1. Quy hoạch sản phẩm chiến lược
- Tập trung sản xuất vải và phụ liệu phục vụ may xuất khẩu. Trong sản xuất vải,
khâu nhuộm và hoàn tất vải đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng
vải đáp ứng yêu cầu của thị trường và của khách hàng. Đầu tư sản xuất vải phải lựa
chọn công nghệ tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giảm chi phí nguyên liệu và
thân thiện với môi trường;
tư một nhà máy sản xuất xơ Polyester công suất 160.000 tấn/năm tại Khu công
nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng).
- Khu vực II: Vùng Đông Nam Bộ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại, thiết kế mẫu mốt, dịch vụ
công nghệ dệt may và các nhà máy may các sản phẩm thời trang, có giá trị gia tăng
cao. Di dời các cơ sở nhuộm, hoàn tất tại Thành phố Hồ Chí Minh về Khu công
nghiệp Long An và các tỉnh lân cận. Đây là khu vực đã phát triển nóng về dệt may
trong những năm qua, hiện đang gặp rất nhiều khó khăn về lao động nên không
khuyến khích đầu tư mới vào khu vực này để tránh sức ép về lao động.
- Khu vực III: Vùng duyên hải Trung bộ
Lấy Thành phố Đà Nẵng làm trung tâm để hình thành một cụm công nghiệp
may xuất khẩu và một số Khu công nghiệp dệt nhuộm - hoàn tất tại Hoà Khánh (Đà
Nẵng), Quảng Trị.
- Khu vực IV: Đồng bằng sông Cửu Long
Lấy Thành phố Cần Thơ làm trung tâm để hình thành một cụm công nghiệp
may xuất khẩu và một khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Trà Vinh.
- Khu vực V: Vùng Đông Bắc và Tây Bắc bộ
Quy hoạch theo hướng bố trí một Khu Công nghiệp dệt tại Phú Thọ, các nhà
máy may bố trí ở các tỉnh. Phát triển vùng trồng bông, nguyên liệu tơ tằm ở Sơn La,
Điện Biên.
- Khu vực VI: Vùng Bắc Trung bộ
Quy hoạch theo hướng bố trí các DN dệt may theo trục quốc lộ 1 với một số
cụm, điểm công nghiệp tại Bỉm Sơn (Thanh Hoá), Vinh (Nghệ An), Huế (Thừa Thiên
Huế). Hình thành ba khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Diễn Châu (Nghệ An),
Hà Tĩnh, Quảng Trị trong giai đoạn từ 2012 đến 2015.
- Khu vực VII: Vùng Tây nguyên
Định hướng đẩy mạnh chuyên môn hoá các cây nguyên liệu dệt như dâu tằm,
bông... gắn liền với chế biến tạo ra các sản phẩm cho thị trường xuất khẩu và nội địa.
Đồng thời kết hợp phát triển các cơ sở may phục vụ nội địa hoặc làm vệ tinh cho
vải có tưới tập trung
2.2.3.2. Vốn cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và xử lý môi
trường.
Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các Viện nghiên
cứu, các Trường đào tạo trong ngành DMVN để tăng cường cơ sở vật chất và thực
hiện các hoạt động nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt May theo
nguyên tắc phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Nhà nước cho DN Dệt May được vay vốn tín dụng nhà nước, vốn ODA và vốn của
quỹ môi trường để thực hiện các dự án xử lý môi trường.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368