BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HỮU BÌNH
ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HỮU HIỆU
ĐẾN CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP TẠI TP. HỒ CHÍ MINH.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HỮU BÌNH
ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HỮU HIỆU
ĐẾN CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP TẠI TP. HỒ CHÍ MINH.
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS Võ Văn Nhị
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
1.1.3. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và
hệ thống thông tin kế toán .......................................................................................9
1.2.
Đánh giá các nghiên cứu và xác định hướng nghiên cứu cho luận văn ..........11
Chương 2. Cơ sở lý thuyết ......................................................................................14
2.1.
Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm soát nội bộ hữu hiệu.........14
2.1.1.
Khái niệm .................................................................................................14
2.1.2.
Các thành phần và các nguyên tắc của kiểm soát nội bộ ........................17
2.1.3.
Những hạn chế tiềm tàng của kiểm soát nội bộ .......................................21
2.1.4.
Kiểm soát nội bộ hữu hiệu........................................................................22
2.2.
Chất lượng hệ thống thông tin ........................................................................24
2.4.2.
Vận hành hệ thống thông tin kế toán .......................................................41
2.4.3.
Kiểm soát và đánh giá chất lượng hệ thống thông tin kế toán ................43
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................46
3.1.
Khái niệm nghiên cứu và thang đo .................................................................46
3.2.
Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu ..................................................47
3.3.
Thiết kế câu hỏi khảo sát ................................................................................50
3.4.
Chọn mẫu ........................................................................................................51
3.4.1.
Xác định kích thước mẫu ..........................................................................51
3.4.2.
Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu .................................................71
4.2.
Bàn luận các vấn đề có liên quan đến kết quả nghiên cứu .............................73
Chương 5. Kết luận và Kiến nghị ..........................................................................77
5.1.
Kết luận ...........................................................................................................77
5.2.
Kiến nghị .........................................................................................................78
5.2.1.
bộ
Kiến nghị đối với việc nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội
..................................................................................................................78
5.2.2.
Kiến nghị đối với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin .............84
5.3.
Hạn chế và định hướng nghiên cứu trong tương lai .......................................87
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Những thang đo thực nghiệm của chất lượng hệ thống
Bảng 4.1
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thang đo khái niệm hệ thống
kiểm soát nội bộ hữu hiệu
Bảng 4.2
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thang đo khái niệm chất
lượng hệ thống thông tin kế toán
Bảng 4.3
Kiểm định KMO và Bartlett cho thang đo HTKSNB hữu hiệu
Bảng 4.4
Ma trận nhân tố cho thang đo HTKSNB hữu hiệu
Bảng 4.5
Communalities cho thang đo HTKSNB hữu hiệu
Bảng 4.6
Nhân tố và phương sai trích cho thang đo HTKSNB hữu hiệu
Bảng 4.7
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1
Các hoạt động trong hệ thống thông tin
Hình 2.2
Vai trò của hệ thống thông tin trong kinh doanh
Hình 2.3
Mô hình hệ thống thông tin thành công
Hình 3.1
Mô hình nghiên cứu định lượng
Hình 4.1
Sơ đồ điểm uốn và eigenvalue cho thang đo HTKSNB hữu hiệu
Hình 4.2
Sơ đồ điểm uốn và eigenvalue cho thang đo chất lượng HTTTKT
Hình 4.3
Đồ thị phân tán giữa phần dư và giá trị dự đoán mô hình
kế toán. Trong khi đó, kiểm soát nội bộ – một khái niệm ra đời từ rất lâu, đã ngày càng trở
nên quen thuộc đối với các doanh nghiệp. Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ ngày càng
được thể hiện rõ rệt trong việc phát hiện, ngăn chặn các rủi ro, sai sót, gian lận,… trong hệ
thống thông tin kế toán cũng như trong các hoạt động của doanh nghiệp, từ đó góp phần hỗ
trợ việc quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, có một thực tế rằng, tầm quan trọng của hệ thống
kiểm soát nội bộ chưa được nhận thức và quan tâm đúng mức tại các doanh nghiệp Việt
Nam. Từ đó dẫn đến việc doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho việc xây dựng
một hệ thống kiểm soát nội bộ đảm bảo chất lượng. Bên cạnh đó, hiện nay cũng có rất ít
nghiên cứu về tầm ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với doanh nghiệp nói
chung và đối với hệ thống thông tin kế toán nói riêng. Theo sự tìm hiểu của tác giả, phần
2
lớn các luận văn liên quan đến kiểm soát nội bộ hiện nay chỉ dừng lại ở việc đánh giá hệ
thống kiểm soát nội bộ tại một doanh nghiệp cụ thể. Chính vì thế, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đến chất lượng hệ thống thông tin
kế toán của các doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đạt được 4 mục tiêu, bao gồm: (1) xác định một hệ
thống kiểm soát nội bộ được xem là hữu hiệu và những yếu tố tác động đến sự hữu hiệu của
hệ thống kiểm soát nội bộ, (2) làm rõ mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ và chất
lượng hệ thống thông tin kế toán, (3) xác định ảnh hưởng của những thành phần của hệ
thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán, (4) xác định ảnh
hưởng của mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán đến chất lượng hệ
thống thông tin kế toán.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu
với chất lượng hệ thống thông tin kế toán.
(phỏng vấn các chuyên gia có liên quan đến vấn đề nghiên cứu), phân tích dữ liệu định tính,
từ đó đưa ra giả thuyết (lý thuyết) nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu. Những giả thuyết
được xây dựng trong phần này sẽ được kiểm định bằng nghiên cứu thực nghiệm trong tương
lai.
5. Đóng góp mới của đề tài
Nghiên cứu này được thực hiện với mong muốn sẽ có những đóng góp mới về mặt lý
luận và thực tiễn liên quan đến những vấn đề mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ
hữu hiệu, và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán với chất lượng hệ
thống thông tin kế toán được kiểm định bằng nghiên cứu thực nghiệm. Ngoài ra, nghiên cứu
cũng mong muốn sẽ đóng góp về mặt lý luận với việc xây dựng thang đo (sơ bộ) cho các
thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và xây dựng được giả thuyết (lý thuyết)
về mối quan hệ tác động của những thành phần này đối với chất lượng hệ thống thông tin kế
toán.
4
6. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của luận văn bao gồm những nội dung sau:
Phần mở đầu
Trình bày về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên
cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của đề tài, và kết cấu của đề tài.
Phần nội dung: bao gồm 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan
Chương 2. Cơ sở lý thuyết
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5. Kết luận và Kiến nghị
6
mối đe dọa, trong nhiều trường hợp thông qua việc áp dụng các thủ tục kiểm soát hữu hiệu,
và do đó cải thiện được thành quả của họ” (IFAC, 2012, p. 4). Mục đích của các công ty khi
xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ là nhằm bảo vệ tài sản của họ, đồng thời hỗ trợ cho việc
tạo ra báo cáo tài chính chính xác và đáng tin cậy. Do đó, nếu các công ty thiếu một hệ
thống kiểm soát nội bộ mạnh sẽ không thể cho thấy các khu vực có vấn đề hoặc có rủi ro
(Wang & Huang, 2013). Chính vì thế “hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp
được xem là phòng tuyến đầu tiên trong việc bảo vệ chất lượng thông tin kế toán” (Wang &
Huang, 2013, p. 76). Một hệ thống kiểm soát nội bộ có thể giúp các công ty đạt được ba
mục tiêu chính là độ tin cậy của báo cáo tài chính, các hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, và
đảm bảo việc tuân thủ luật pháp và các quy định (COSO1, 2013). Qua đó có thể thấy rằng hệ
thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của các công
ty. Đó là lý do vì sao các nhà quản lý cần phải thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu
hiệu trong công ty.
Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống quan trọng của các công ty để có thể giúp
công ty hoạt động hiệu quả. Việc duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu có tác
động đến nhiều khía cạnh trong hoạt động của các công ty. Cụ thể, sự hữu hiệu của hệ thống
kiểm soát nội bộ có thể giúp nâng cao thành quả của công ty và tính bền vững liên tục
(Adams, 1993). Đặc biệt, trong môi trường công nghệ thông tin hiện nay, kiểm soát nội bộ
càng có nhiều ảnh hưởng tích cực đến thành quả tài chính và thành quả hoạt động của các
công ty (Carter, et al., 2012; Yang, et al., 2011; Stoel & Muhanna, 2011)
Tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ còn thể hiện qua ảnh hưởng của nó đối
với việc quản lý tài chính của công ty. Sự thiếu hụt các thủ tục kiểm soát nội bộ thích hợp
làm cho việc quản lý tài chính của một tổ chức chắc chắn gặp phải những rủi ro như: (1) báo
cáo tài chính không chính xác/ mất mát tài sản của công ty, (2) việc mất cắp và quản lý yếu
kém những tài liệu thiết yếu của tổ chức do sự lạm quyền của nhân viên, (3) Sổ sách tài
chính chứa đựng nhiều sai sót và không đáng tin cậy, làm mất đi tính chính trực của tổ chức,
cùng nhau một cách hữu hiệu. Từ đó có thể thấy rằng, sự hiện hữu và hữu hiệu của năm
thành phần chính là những yếu tố quyết định, chi phối đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm
soát nội bộ. Quan điểm này được cũng cố qua những nghiên cứu thực nghiệm của Amudo &
Inanga (2009) và Jokipii (2010) khi kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chính sự hiện diện
đầy đủ và thực hiện đúng chức năng của năm thành phần liên quan đến từng loại mục tiêu
của tổ chức sẽ đảm bảo cho sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Ngoài ra, kết quả
thực nghiệm cũng cho thấy rằng công nghệ thông tin cũng được xem là một nhân tố có ảnh
hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ (Amudo & Inanga, 2009).
8
1.1.2. Nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế
toán
Hệ thống thông tin kế toán là một công cụ, được thiết kế để hỗ trợ việc quản lý và kiểm
soát lĩnh vực kinh tế - tài chính của tổ chức (Soudani, 2012). Nó có một chức năng quan
trọng trong tổ chức, và được xem như là đòn bẩy để giúp nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả
của các hoạt động và hỗ trợ hoạt động quản lý bao gồm cả việc ra quyết định quản lý (Ulric
J. Gelinas & B. Dull, 2008). Với vai trò đó, hệ thống thông tin kế toán là thực sự cần thiết
cho tất cả các tổ chức, kể cả tổ chức lợi nhuận và phi lợi nhuận (Wilkinson, et al., 2000). Hệ
thống thông tin kế toán là một trong những nhân tố quan trọng trong việc tạo dựng thành
quả của tổ chức thông qua việc thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu tài chính và kế toán và
được đánh giá bởi tác động của nó đến việc cải thiện quá trình ra quyết định, chất lượng
thông tin kế toán, đánh giá thành quả, kiểm soát nội bộ và tạo điều kiện thuận lợi cho các
giao dịch của tổ chức (Soudani, 2012; Sajady, et al., 2008). Chính vì thế mà Onaolapo &
Odetayo (2012) cho rằng hệ thống thông tin kế toán có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu
của tổ chức – mức độ mà một tổ chức thực hiện được mục tiêu của mình (Daft, 2007).
Với vai trò ngày càng quan trọng của hệ thống thông tin kế toán đối với các công ty, đặc
biệt là trong môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc liệt hiện nay, thì việc xây dựng một hệ
thống thông tin kế toán có chất lượng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của
thống thông tin kế toán. Mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung và hệ thống
kiểm soát nội bộ hữu hiệu nói riêng với hệ thống thông tin kế toán đã được nghiên cứu trên
nhiều khía cạnh khác nhau.
Trong bất kỳ hệ thống kế toán nào – hệ thống kế toán thủ công hay hệ thống kế toán
máy, để ngăn chặn hay phát hiện những sai sót, hay đảm bảo an toàn cho tài sản, thông
tin...thì điều cần thiết là phải thiết kế các thủ tục kiểm soát nội bộ (Henry, 1997). Vào tháng
5 năm 2013, COSO đã phát hành khuôn mẫu kiểm soát nội bộ cập nhật. Theo khuôn mẫu
này thì kiểm soát nội bộ là một quá trình được thiết kế nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp
lý trong việc đạt được các mục tiêu liên quan đến hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, độ tin cậy
của báo cáo – gồm cả báo cáo tài chính và báo cáo phi tài chính, tuân thủ pháp luật và các
quy định (COSO, 2013). Như vậy, có thể thấy rằng, một hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt
động hữu hiệu sẽ góp phần làm tăng độ tin cậy của các báo cáo trong hệ thống thông tin kế
toán. Hệ thống báo cáo trong một công ty không thể hữu ích nếu nó được lập dựa trên
10
những ghi chép các giao dịch không đáng tin cậy và không chính xác (Elmaleh, 2012). Nhờ
vào sự hoạt động hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ, sẽ cung cấp một sự đảm bảo cho
việc quản lý độ tin cậy của các số liệu kế toán được sử dụng trong việc tạo ra thông tin hỗ
trợ việc ra quyết định của các nhà quản lý (Amaka, 2012; Sačer & Oluić, 2013). Bởi vì, một
hệ thống thông tin kế toán với hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế thích hợp sẽ giúp bảo
vệ hệ thống khỏi những sai sót, gian lận, lỗi hệ thống hay những thảm họa (Romney &
Steinbart, 2012). Chính vì vậy, một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu là một yếu tố quyết
định, và là một nền tảng cho việc lập báo cáo tài chính có chất lượng vì khả năng ngăn chặn
những sai sót về thủ tục, đo lường, bóp méo thu nhập, cũng như khả năng hạn chế những rủi
ro tiềm tàng của hoạt động kinh doanh và các chiến lược ảnh hưởng đến việc lập báo cáo
(Doyle, et al., 2007; Brown, et al., 2008).
Kể từ khi máy tính được sử dụng trong công tác kế toán, thì kiểm soát nội bộ trong
những hệ thống dựa trên nền máy tính được mô tả gồm 2 loại: Kiểm soát chung và kiểm
của hệ thống thông tin kế toán trong việc hỗ trợ việc ra quyết định và quản trị doanh nghiệp
của nhà quản lý (Soudani, 2012; Sajady, et al., 2008), cũng như những ảnh hưởng của hệ
thống thông tin kế toán đối với hoạt động của một tổ chức (Onaolapo & Odetayo, 2012;
Wilkinson, et al., 2000). Từ đó cho thấy nhu cầu cần thiết phải xây dựng một hệ thống
thông tin kế toán có chất lượng trong các công ty hiện nay.
Có khá nhiều những nghiên cứu về những nhân tố tác động đến chất lượng hệ thống
thông tin kế toán như: văn hóa tổ chức và cơ cấu tổ chức (Rapina, 2013; Anggadini, 2013),
chất lượng dữ liệu và cam kết thực hiện của nhà quản lý (Al-Hiyari, et al., 2013; Rapina,
2014), kiến thức của nhà quản lý công tác kế toán và sự hỗ trợ của nhà quản lý cấp cao
(Komala, 2012), những đặc tính của con người như: sự cởi mở, sự hợp tác, sự tận tâm, cũng
như sự thỏa mãn và kinh nghiệm làm việc với các phần mềm tài chính của những người
dùng hệ thống (Dehghanzade, et al., 2011).
Tuy nhiên, có một thực tế rằng, hiện nay có rất ít những nghiên cứu thực nghiệm về mối
quan hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và chất lượng hệ thống thông tin kế toán.
Mặc dù tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đã được thể hiện trên nhiều
khía cạnh như: hỗ trợ các công ty trong việc quản trị rủi ro, tránh những thất bại trong kinh
doanh và nâng cao thành quả hoạt động (IFAC, 2012; Adams, 1993; Carter, et al., 2012;
Yang, et al., 2011; Stoel & Muhanna, 2011), đạt được hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, tuân
12
thủ luật pháp và các quy định (COSO, 2013), giúp bảo vệ và nâng cao chất lượng thông tin
kế toán (Wang & Huang, 2013), hay ảnh hưởng đến việc quản lý tài chính của công ty
(Amaka, 2012). Phần lớn các nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa hệ thống kiểm
soát nội bộ và hệ thống thông tin kế toán chỉ để cập đến những tác động riêng lẽ của hệ
thống kiểm soát nội bộ đến những thành phần của hệ thống thông tin kế toán. Ví dụ, hệ
thống kiểm soát nội bộ giúp giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn cho tài sản và thông tin của
hệ thống thông tin kế toán (Henry, 1997; Hanini, 2012), đảm bảo độ tin cậy của số liệu kế
toán và là nền tảng cho việc lập báo cáo tài chính có chất lượng (Amaka, 2012; Doyle, et al.,
13
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Mục đích của chương 1 là nhằm giới thiệu một cách tổng quát các nghiên cứu có liên
quan đến đề tài. Từ đó, làm cơ sở để tác giả xác định vấn đề nghiên cứu và định hướng
nghiên cứu của luận văn. Ngoài ra, kết quả tổng kết nghiên cứu cũng hỗ trợ cho tác giả
trong việc xây dựng nên các giả thuyết nghiên cứu, cũng như đánh giá được các phương
pháp nghiên cứu đã sử dụng. Để đạt được mục đích đặt ra, tác giả đã tổ chức các nghiên cứu
có liên quan thành ba phần: phần thứ nhất là những nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến
hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu; phần thứ hai, tác giả tổng kết những yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán đã được nghiên cứu trước đây; phần thứ ba là
những nghiên cứu đã thực hiện về mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và
hệ thống thông tin kế toán. Sau đó, dựa trên cơ sở những nghiên cứu đã tổng kết, tác giả tiến
hành đánh giá các nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu cũng như định hướng nghiên
cứu cho luận văn. Đồng thời, đưa ra mục tiêu nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu mà luận
văn cần giải quyết.
14
Chương 2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm soát nội bộ hữu hiệu
2.1.1. Khái niệm
Kiểm soát nội bộ là một khái niệm bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 xuất phát từ nhu
cầu phục vụ cho các kiểm toán viên trong việc kiểm toán báo cáo tài chính. Chính vì thế,
mục tiêu của kiểm soát nội bộ khi mới ra đời chỉ đơn giản là bảo vệ tiền, bảo về tài sản của
doanh nghiệp. Vào năm 1929, thuật ngữ kiểm soát nội bộ được đề cập chính thức trong một
Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, theo đó, kiểm soát nội bộ được định nghĩa là một
chấp thuận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Nó được ghi nhận như là một khuôn mẫu
dẫn đầu cho việc thiết kế, thực hiện, vận hành kiểm soát nội bộ, cũng như đánh giá tính hữu
hiệu của kiểm soát nội bộ (COSO, 2013). Trong khuôn mẫu kiểm soát nội bộ 1992, COSO
đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị ảnh
hưởng bởi hội đồng quản trị, nhà quản lý và các nhân viên của một tổ chức, được thiết kế để
cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu liên quan đến nhóm sau:
-
Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả
-
Báo cáo tài chính đáng tin cậy
-
Các luật lệ và quy định được tuân thủ
Hai mươi năm sau kể từ khi khuôn mẫu kiểm soát nội bộ 1992 của COSO ra đời, môi
trường hoạt động và kinh doanh đã thay đổi nhanh chóng, ngày càng trở nên phức tạp, chịu
ảnh hưởng bởi công nghệ, và trong phạm vi toàn cầu (COSO, 2013). Để phản ánh kịp thời
những thay đổi này, COSO đã ban hành khuôn mẫu tích hợp kiểm soát nội bộ năm 2013.
Trong khuôn mẫu này, khái niệm kiểm soát nội bộ, về mặt bản chất, không thay đổi so với
khuôn mẫu kiểm soát nội bộ 1992. Tuy nhiên, mục tiêu của kiểm soát nội bộ đã có sự mở
rộng đối với mục tiêu liên quan đến hoạt động và mục tiêu báo cáo.
Khái niệm về kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO (2013) nhấn mạnh đến bốn nội dung
quan trọng, bao gồm:
-
Quá trình: kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay một tình huống riêng lẻ
sự thông đồng, sự lạm quyền của nhà quản lý hay ảnh hưởng của những sự kiện tiềm
tàng bên ngoài.., (COSO, 2013).
-
Các mục tiêu: kiểm soát nội bộ được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý
trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Các mục tiêu này bao gồm:
Mục tiêu hoạt động: những mục tiêu này liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu
quả của các hoạt động của tổ chức, bao gồm những mục tiêu về thành quả
hoạt động, thành quả tài chính, và đảm bảo an toàn cho tài sản.
Mục tiêu báo cáo: những mục tiêu này liên quan đến việc lập các báo cáo tài
chính, phi tài chính bên trong và bên ngoài tổ chức và có thể bao gồm tính
đáng tin cậy, tính kịp thời, tính minh bạch hay những tiêu chuẩn khác.
Mục tiêu tuân thủ: những mục tiêu này liên quan đến sự tuân thủ luật pháp và
các quy định mà tổ chức bị chi phối.
17
2.1.2. Các thành phần và các nguyên tắc của kiểm soát nội bộ
COSO (2013) đã đưa ra năm thành phần của kiểm soát nội bộ và 17 nguyên tắc đại diện
cho những khái niệm nền tảng liên quan đến từng thành phần. Những thành phần và nguyên
tắc này của kiểm soát nội bộ phù hợp với tất cả các tổ chức. Tất cả 17 nguyên tắc có thể áp
dụng cho từng nhóm mục tiêu (hoạt động, báo cáo, tuân thủ), cũng như các mục tiêu cụ thể
trong mỗi nhóm.
a. Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát là tập hợp các tiêu chuẩn, các quy trình, và các cấu trúc làm cơ sở
cho việc thực hiện kiểm soát nội bộ trong tổ chức. Hội đồng quản trị và quản lý cấp cao
thiết lập sắc thái từ cấp trên liên quan đến tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ và những
tiêu chuẩn về đạo đức được mong đợi. Môi trường kiểm soát bao gồm tính chính trực và các