BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
--------------------------BIỆN NGỌC TOÀN
CHỐNG THẤT THU THUẾ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
--------------------------BIỆN NGỌC TOÀN
CHỐNG THẤT THU THUẾ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 52340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016
LỜI CAM ĐOAN
trực tiếp nước ngoài ................................................................................................. 9
1.6 Kinh nghiệm chống thất thu thuế tại các doanh nghiệp FDI cho Việt Nam, trong
đó có thành phố Hồ Chí Minh từ các quốc gia ......................................................... 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THẤT THU THUẾ TẠI CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ........................................................................ 16
2.1 Khái quát hoạt động doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành
phố Hồ Chí Minh ....................................................................................................... 16
2.1.1 Quy mô và xu hướng phát triển ........................................................................ 16
2.1.2 Tình hình thực hiện nghĩa vụ ngân sách từ năm 2007 đến năm 2015 ............. 20
2.2 Thực trạng chống thất thu thuế tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh .............................................................................. 21
2.2.1 Đặc điểm của doanh nghiệp FDI tại thành phố Hồ Chí Minh ......................... 21
2.2.2 Tình hình thu ngân sách của khối đầu tư nước ngoài ...................................... 22
2.2.2.1 Đặc điểm quản lý đối với các doanh nghiệp FDI .......................................... 23
2.2.2.2 Các hình thức gian lận thuế mới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế .. 27
2.3 Đánh giá thực trạng chống thất thu thuế tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh .............................................................. 28
2.3.1 Những thành tựu đạt được ................................................................................ 28
2.3.1.1 Đối với cơ quan thuế ...................................................................................... 28
2.3.1.2 Đối với đối tượng nộp thuế ........................................................................... 35
2.3.2 Những điểm còn hạn chế, nguyên nhân ........................................................... 35
2.3.2.1 Về chính sách thuế ......................................................................................... 35
2.3.2.2 Về quản lý thuế .............................................................................................. 38
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FDI
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GTGT
Giá trị gia tăng
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
TK-TN
Tự khai, tự nộp
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 1.1: Hệ thống khuyến khích của Chính phủ và tác động kỳ vọng của
chúng
Bảng 2.1: Tình hình thu ngân sách đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2007 đến năm 2015
Bảng 2.2: Tình hình thất thu ngân sách đối với các doanh nghiệp FDI trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến năm 2015 nếu không thanh tra,
kiểm tra
2
hút vốn FDI trong cả nước). Hiện tại, trong công tác quản lý thuế, Việt Nam
đã chuyển sang cơ chế người nộp thuế tự kê khai, tự nộp và tự chịu trách
nhiệm. Với thực tiễn đó, chức năng quan trọng của cơ quan quản lý thuế là
kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế. Mọi hành vi
không tuân thủ thuế của người nộp thuế - dù là sơ ý, không cẩn thận, thiếu
thận trọng hay cố tình trốn thuế đều chứng minh cho thấy việc không tuân thủ
pháp luật về thuế là đều không tránh khỏi. Do đó, cơ quan thuế cần có chiến
lược và chương trình để đảm bảo rằng việc không tuân thủ pháp luật về thuế
được giảm tới mức tối thiểu.
Tuy nhiên, công tác quản lý thuế của thành phố Hồ Chí Minh trong thời
gian qua mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế,
hiệu quả quản lý thuế chưa cao, thất thu thuế vẫn còn xảy ra ở nhiều lĩnh vực.
Từ thực tế trên, tác giả chọn đề tài: “Chống thất thu thuế tại các
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng chống thất thu thuế tại các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nhằm
kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả chống thất thu thuế tại các
doanh nghiệp này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu chính sách thuế và tình hình quản lý, thu thuế các doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh, từ năm 2007 đến năm 2015.
phát triển kinh tế - xã hội.
- Yếu tố kinh tế: Thuế là một phần của nền kinh tế quốc dân tập trung
vào ngân sách Nhà nước, thuế luôn luôn gắn chặt với sản xuất kinh doanh và
nguồn thu từ thuế chỉ có thể ổn định trên cơ sở nền kinh tế được phát triển và
hiệu quả.
- Yếu tố pháp luật: Thu thuế luôn được thực thi bằng một hệ thống
pháp luật chặt chẽ, có tính chất bắt buộc và đây cũng là tính chất đặc thù nhất
của thuế.
1.1.2 Chức năng của thuế trong nền kinh tế thị trường
Hiện nay, hầu hết các nhà kinh tế cho rằng thuế có 2 chức năng chủ
yếu: chức năng phân phối và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
1.1.2.1 Thuế - Thực hiện phân phối thu nhập
Thuế là công cụ để Nhà nước can thiệp vào quá trình phân phối thu
nhập, của cải của xã hội, giảm bớt khoảng cách chênh lệch về mức sống, giảm
bớt chênh lệch về các tầng lớp dân cư trong xã hội.
5
1.1.2.2 Thuế - Điều tiết và ổn định nền kinh tế
Bên cạnh việc huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước thì thuế còn
được sử dụng như là công cụ để điều tiết nền kinh tế, qua đó khuyến khích
hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, phù hợp với lợi ích xã hội.
Việc điều tiết và ổn định nền kinh tế của thuế gắn liền với vai trò điều tiết vĩ
mô của Nhà nước, Nhà nước sử dụng thuế để tác động vào nền kinh tế quốc
dân.
1.2 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống thuế hiện đại
Chính sách thuế phải bảo đảm các nguyên tắc hiệu quả, công bằng, linh
hoạt và đơn giản, đây là những nguyên tắc cơ bản của hệ thống thuế hiện đại.
1.3 Quản lý thuế hiện nay
nguyên, các ngành nghề có lợi thế so sánh, khuyến khích và năng cao hiệu
quả đầu tư trong nước.
- FDI góp phần giải quyết lao động.
- FDI tạo ra nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước.
Bên cạnh những lợi ích trên, FDI cũng mang lại cho các nước đang
phát triển một số tiêu cực nhất định: Do chạy theo mục tiêu lợi nhuận, nhà
đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư vào các ngành và vùng có nhiều thuận lợi, dễ
tìm kiếm lợi nhuận, từ đó dẫn đến hệ quả là cơ cấu ngành và vùng của các
nước đang phát triển thường xuyên bị phá vỡ, mất cân đối. Ngoài ra, nếu
không có sự kiểm tra, giám sát thường xuyên về công nghệ, các nước đang
phát triển sẽ là nơi tiếp nhận máy móc thiết bị, công nghệ lạc hậu mà nước
chủ đầu tư đang cần thay thế. Đặc biệt, nếu thiếu một cơ chế giám sát chặt chẽ
quá trình tuân thủ các luật thuế, các doanh nghiệp FDI sẽ lợi dụng để chuyển
lợi nhuận về nước chủ đầu tư thông qua các hoạt động trả phí tiền bản quyền,
trả phí lãi tiền vay từ công ty mẹ, trả phí dịch vụ tư vấn quản lý, tư vấn kỹ
thuật và hoạt động chuyển giá,… nhằm tối đa hóa lợi nhuận, đẩy các nước
đang phát triển bị thất thu thuế nghiêm trọng và các hệ lụy khác.
7
1.4.2 Vai trò của chính sách thuế trong thu hút vốn FDI
Chính sách tiếp nhận đầu tư là một trong những yếu tố cơ bản nhất
trong việc thu hút FDI, bao gồm:
- Chính sách khuyến khích nhằm bảo đảm khả năng sinh lời cho các dự
án FDI (chính sách thuế, chế độ khấu hao, trợ cấp đầu vào, quản lý ngoại hối,
phí dịch vụ cơ sở hạ tầng, cơ chế cấp phép và hệ thống hành chính,…).
- Chính sách tạo môi trường đầu tư ổn định, giảm thiểu rủi ro trong quá
trình đầu tư của dự án FDI (chính sách ổn định về kinh tế, chính trị,…).
Bảng 1.1: Hệ thống khuyến khích của Chính phủ và tác động kỳ vọng
cao
b. Các khuyến khích đầu ra
- Trợ cấp xuất khẩu
Thưởng cho việc xuất khẩu các đầu ra
- Các cam kết duy trì thị trường
Miễn thuế đối với lợi nhuận trong
không kết hối ngoại tệ
một thời kỳ cụ thể, tùy thuộc vào
ngành nghề và địa bàn
Thừa nhận sự độc quyền cho nhà đầu
tư nước ngoài
Cho phép các doanh nghiệp FDI giữ
lại các khoản thu nhập bằng ngoại tệ
Nguồn: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh.
8
Thuế là công cụ thu hút vốn đầu tư, thực tế cho thấy, mục tiêu của nhà
đầu tư là nhằm tối đa hóa lợi nhuận, trong khi đó, thuế lại tác động trực tiếp
đến lợi nhuận làm ra, lợi nhuận còn lại của nhà đầu tư. Để thực hiện chính
sách thu hút vốn đầu tư, Nhà nước cần khuyến khích tích lũy và tích tụ trong
được hưởng thuế suất 0% và được hoàn thuế GTGT.
Chủ động ký kết hiệp định song phương tránh đánh thuế hai lần với các
nước, nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài an tâm, mạnh dạn đầu
tư.
Các khuyến khích ưu đãi thuế khá rộng song không dàn trải cho tất cả
dự án FDI mà mức độ, liều lượng ưu đãi luôn có sự chọn lọc, tùy theo từng
loại dự án, đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế của Nhà nước. Thông
thường để được hưởng các ưu đãi về thuế, đa số các dự án đầu tư phải đáp
ứng được một trong các tiêu chuẩn như: Quy mô vốn đầu tư lớn; Có trình độ
công nghệ kỹ thuật cao; Giải quyết nhiều lao động; Đầu tư vào địa bàn, lĩnh
vực, ngành nghề cần khuyến khích đầu tư.
1.5 Các nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế đối với các doanh
nghiệp FDI
Thất thu thuế là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ
hệ thống thuế khóa nào. Thất thu thuế là khoản thuế quy định trong luật thuế
phải thu được và tập trung vào ngân sách nhà nước, song do nhiều nguyên
nhân số tiền trên không được thu đủ để tập trung vào ngân sách nhà nước
đúng quy định.
- Các dạng thất thu thuế:
+ Thất thu thực tế: Có nhiều khoản thu được quy định rõ ràng trong các
luật thuế nhưng không được tập trung vào ngân sách đúng quy định.
+ Thất thu tiềm năng: Thực tế có nhiều nguồn thu cần thiết phải động
viên vào ngân sách nhưng lại không thu được vì chưa có quy định của pháp
luật.
+ Thất thu do trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật.
10
+ Thất thu do tránh thuế là lợi dụng những quy định của pháp luật thuế
cả. Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế xuất phát từ
3 lý do:
Một là, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ
thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của 1 giao dịch. Do đó, họ hoàn toàn
có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn.
Hai là, xuất phát từ mối liên hệ gắn bó chung về lợi ích nhóm liên kết
nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh
có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
Ba là, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên
trong nhóm liên kết không làm thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm
thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế
được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết ít hơn và ngược lại.
Tồn tại sự khác nhau về các chính sách thuế của các quốc gia là điều không
thể tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng
như hiện hữu của các chính sách ưu đãi thuế.
- Nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế:
+ Từ người nộp thuế: Không thực hiện đúng chế độ đăng ký kinh
doanh, đăng ký mã số thuế và không nộp thuế; Khai báo nộp thuế không đúng
(khai thấp giá bán và số lượng bán ra để ngoài sổ sách kế toán nguồn thu,…);
Chậm nộp, kéo dài thời gian nộp thuế nhằm chiếm dụng tiền thuế vào hoạt
động sản xuất kinh doanh; Lợi dụng chính sách của nhà nước tự kê khai thuế
kế tiếp nhau trong 03 tháng từ đó họ tìm cách cân đối thấp nhất số thuế phải
nộp.
+ Từ cơ quan thuế: Thu nợ đọng thuế chậm (Do yếu tố khách quan là
thời gian nộp thuế kéo dài và số tiền phạt chậm nộp thấp hơn lãi suất ngân
hàng nên không khuyến khích nộp thuế; Do yếu tố chủ quan là ý thức thực
hiện nghĩa vụ thuế của một số doanh nghiệp chưa cao và hệ thống chính sách
thuế còn nhiều bất cập, chưa theo kịp quá trình phát triển trong quá trình hội
13
Kinh nghiệm chống thất thu thuế thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc) đã
thực hiện một biện pháp khuyến khích người tiêu dùng yêu cầu các doanh
nghiệp phải cấp hóa đơn bán hàng. Người ta đã đưa vào một ô nhỏ trong hóa
đơn để biến hóa đơn thành một vé xổ số, khách hàng cào vào ô đó có thể
trúng thưởng từ 100 đến 5.000 nhân dân tệ. Để ngăn ngừa sự giả mạo, một ô
thứ hai với mã số cho phép khách hàng có thể kiểm tra thông qua Internet về
việc công ty đưa cho họ hóa đơn có giá trị hay không. Trong một chương
trình thử nghiệm, một thị trấn nhỏ ở ngoại ô Bắc Kinh đã tăng thuế lên tới 732
ngàn USD trong khi chỉ phải chi ra 17 ngàn USD tiền thưởng (theo Báo cáo
phát triển thế giới 2005 của WB, trích dẫn thông tin từ The Economist). Các
nước như: Thái Lan, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Campuchia, Lào… không cho nợ
thuế đối với hàng hóa nhập khẩu, phải nộp thuế trước khi nhận hàng. Một số
nước cho chậm nộp thuế nhưng phải có bảo lãnh, hoặc cho nộp chậm với điều
kiện có tài khoản do cơ quan Hải quan quản lý để đảm bảo việc nộp thuế.
Việc tổ chức và quản lý, chống thất thu thuế của các nước trên thế giới
có những điểm khác nhau nhất định, song hầu hết đều hướng tới mục tiêu là
thu tăng thuế cho ngân sách quốc gia nhưng phải bảo đảm tính công bằng,
tính hiệu quả (số thuế thu được so với chi phí bỏ ra để thu) và tính hiệu lực
(mức độ tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế).
- Tăng cường sự tuân thủ, tự nguyện của người nộp thuế: Để chống
thất thu thuế, bất kỳ hệ thống quản lý thuế nào cũng dựa trên nền tảng là ý
thức tuân thủ, tự nguyện của đối tượng nộp thuế. Để nâng cao sự tuân thủ, tự
nguyện, cơ quan thuế phải tập trung chủ yếu vào 3 nhiệm vụ quản lý chính
của ngành thuế gồm:
+ Tạo điều kiện cho việc tuân thủ: Tuyên truyền và thực hiện các dịch
vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế, nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho đối tượng
- Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý thuế chuyên nghiệp
Nguồn lực cán bộ của cơ quan thuế được tuyển dụng bổ sung để đáp
ứng các yêu cầu mới của công việc, có kiến thức chuyên môn và kỹ năng ứng
15
xử, giao tiếp, có trình độ ngoại ngữ và tin học. Các hành vi ứng xử của nhân
viên thuế được xây dựng thành chuẩn mực đạo đức của công chức ngành
thuế.
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế và cung cấp dịch
vụ cho người quản lý thuế
Áp dụng có hiệu quả thành tựu của công nghệ thông tin vào công tác
quản lý thuế, giúp tổ chức, cá nhân thực hiện việc kê khai, nộp thuế, tiếp nhận
và sử dụng các dịch vụ thuế qua mạng Internet. Thông qua đó, cơ quan thuế
xây dựng được một hệ thống cơ sở quản lý thuế đầy đủ, phục vụ cho công tác
quản lý thu và thanh tra thuế. Đồng thời, dựa vào hệ thống công nghệ thông
tin để thực hiện nhiều hoạt động như xác minh thông tin của đối tượng nộp
thuế, xác minh việc tuân thủ, rà soát tờ khai, tiến hành các cuộc thanh tra,
kiểm tra trên mạng (IT audit)… hoặc phối hợp với các cơ quan khác (các bên
thứ ba, tòa án…) để có những hành động thích hợp trong trường hợp đối
tượng nộp thuế có hành vi cố ý không tuân thủ, đảm bảo công bằng trong việc
thực hiện nghĩa vụ thuế cho các đối tượng nộp thuế.
16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THẤT THU THUẾ TẠI CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giai đoạn từ năm 2014 trở lại đây, nền kinh tế nước ta bước vào một
chu kỳ phát triển mới, đầu tư nước ngoài cũng tăng trưởng và có thể sẽ bùng
nổ như giai đoạn 2005-2008, do đó chỉ tiêu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) vào các khu chế xuất, khu công nghiệp ở thành phố năm 2015
nhận định khởi sắc hơn. (Xem Phụ lục 2: Các dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến năm 2015).
Cụ thể, đến cuối năm 2015, trên địa bàn thành phố đã có 5.778 dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 37,1
tỷ USD; so với cả nước, thành phố Hồ Chí Minh chiếm 14,4% số vốn đăng ký
và 30,1% số vốn dự án đăng ký còn hiệu lực (dẫn đầu cả về số dự án và quy
mô vốn đầu tư so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước). Vốn FDI đang
chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành kinh doanh bất động sản,
xây dựng (chiếm khoảng 36%), còn lại là các ngành dịch vụ, công nghiệp chế
biến. Đây là hướng đi phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành
phố, tuy nhiên tỷ trọng nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực bất động sản bất ngờ
tăng đột biến trong vài năm gần đây. Các doanh nghiệp FDI thuộc lĩnh vực
dịch vụ vẫn chiếm hơn 50% tổng vốn FDI và 38,4% tổng kim ngạch xuất
khẩu của thành phố.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoach và Đầu tư), thành phố Hồ
Chí Minh đang đứng đầu cả về lượng vốn FDI (chiếm 15,09% tổng lượng vốn
FDI cả nước) và về số dự án đầu tư (chiếm 29,88% tổng số dự án đầu tư cả
nước). Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, trong những năm gần đây
hoạt động thu hút vốn FDI cùng dự báo về làn sóng đầu tư trực tiếp theo các
doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay, giới đầu tư nước ngoài đang tận dụng các khoảng trống khi Việt