BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TRUNG KIÊN
QUY TẮC TAYLOR VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TRUNG KIÊN
QUY TẮC TAYLOR VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016
2.1.2. Cơ chế truyền dẫn............................................................................................ 8
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây ............................................................. 10
2.2.1. Quy tắc Taylor phiên bản gốc – “backward-looking” .................................. 11
2.2.2. Quy tắc Taylor phiên bản hướng đến tương lai- “forward-looking” ............ 13
2.2.2.1. Điểm qua về biến số “lạm phát kỳ vọng” trong nền kinh tế................... 13
2.2.2.2. Quy tắc Taylor phiên bản hướng đến tương lai- “forward-looking” ... 15
2.2.3. Quy tắc Taylor mở rộng biến ........................................................................ 16
2.2.4. Quy tắc Taylor phi tuyến ............................................................................... 17
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................... 20
3.1. Mô hình nghiên cứu ........................................................................................... 20
3.2. Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................................. 23
3.3. Phương pháp ước lượng .................................................................................... 27
3.3.1. Phương pháp bình phương bé nhất (OLS) .................................................... 27
3.3.2. Mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) ................................................................. 28
3.3.3. Phương pháp dự báo ngoài mẫu (out-of sample) .......................................... 28
3.3.4. Phương pháp thống kê chỉ số U của Theil .................................................... 29
3.3.5. Mô hình bước đi ngẫu nhiên (Random walk) ............................................... 30
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 33
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ........................................................................................... 60
5.1. Các kết quả nghiên cứu chính .......................................................................... 60
5.2. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu....................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Asym : asymmetric
Back : backward-looking
DM
suất tại Indonesia
Bảng 4.7. Kiểm định thống kê Diebold và Mariano (1995) cho các mô hình dự báo lãi
suất tại Malaysia
Bảng 4.8. Kiểm định thống kê Diebold và Mariano (1995) cho các mô hình dự báo lãi
suất tại Philippines
Bảng 4.9. Kiểm định thống kê Diebold và Mariano (1995) cho các mô hình dự báo lãi
suất tại Thái Lan
Bảng 4.10. Kiểm định thống kê Diebold và Mariano (1995) cho các mô hình dự báo
lãi suất tại Việt Nam
Bảng 4.11. Phản ứng dài hạn của lãi suất với chênh lệch lạm phát tại Indonesia
Bảng 4.12. Phản ứng dài hạn của lãi suất với chênh lệch lạm phát tại Malaysia
Bảng 4.13. Phản ứng dài hạn của lãi suất với chênh lệch lạm phát tại Philippines
Bảng 4.14. Phản ứng dài hạn của lãi suất với chênh lệch lạm phát tại Thái Lan
Bảng 4.15. Phản ứng dài hạn của lãi suất với chênh lệch lạm phát tại Việt Nam
Bảng 4.16. Phản ứng dài hạn của lãi suất với lỗ hổng sản lượng tại Indonesia
Bảng 4.17. Phản ứng dài hạn của lãi suất với lỗ hổng sản lượng tại Malaysia
Bảng 4.18. Phản ứng dài hạn của lãi suất với lỗ hổng sản lượng tại Philippines
Bảng 4.19. Phản ứng dài hạn của lãi suất với lỗ hổng sản lượng tại Thái Lan
Bảng 4.20. Phản ứng dài hạn của lãi suất với lỗ hổng sản lượng tại Việt Nam
Bảng 4.21. Phản ứng dài hạn của lãi suất với sự thay đổi của tỷ giá
1
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu đưa ra 16 mô hình theo quy tắc Tayor cho 5 quốc gia đang phát
triển ở khu vực Đông Nam Á: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam.
Sử dụng bộ số liệu theo tháng, phương pháp hồi quy tuyến tính OLS và mô hình hiệu
phương trình đại số đơn giản với số liệu thực tế của Cục dữ trữ Liên bang Mỹ (FED)
giai đoạn 1987-1992 và cú sốc giá dầu năm 1990. Từ kết quả trên, Taylor đã khái quát
thành quy tắc điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương gọi là quy tắc Taylor.
Kết quả này dẫn đến một loạt các nghiên cứu về mô hình điều hành lãi suất theo
quy tắc Taylor và hành vi của ngân hàng trung ương. Các nghiên cứu thường được áp
dụng cho các nước phát triển và dữ liệu theo quý, nhiều nghiên cứu đánh giá chính
sách tiền tệ theo quy tắc Taylor như sau: ngân hàng trung ương khi đối mặt với mức
lạm phát cao hơn dự kiến nên tăng lãi suất danh nghĩa hơn là gia tăng lạm phát kỳ
vọng, nhằm ổn định lạm phát.
3
Như đã đề cập ở trên, các nghiên cứu về quy tắc Taylor thường được áp dụng
cho các nước phát triển và theo đuổi chính sách lạm phát mục tiêu. Do đó, tác giả thực
hiện đề tài: “Quy tắc Taylor và chính sách tiền tệ của các nước đang phát triển ở
Đông Nam Á” nhằm góp phần lắp đầy khoảng trống này và làm sáng tỏ hơn về chính
sách tiền tệ của các nước đang phát triển ở Đông Nam Á.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xoay quanh 2 vấn đề chính:
Thứ nhất, tìm kiếm mô hình theo quy tắc Taylor có khả năng dự báo lãi suất lãi
suất ở mỗi quốc gia.
Thứ hai, đánh giá mức độ nghiêm khắc của chính sách tiền tệ trong việc đối phó
với sự thay đổi của lạm phát và lỗ hổng sản lượng.
Để giải quyết vấn đề thứ nhất, tác giả sẽ đề xuất 16 mô hình thay thế của quy tắc
Taylor: phiên bản gốc, phiên bản mở rộng thêm biến, phiên bản hướng đến tương lai để
tìm phiên bản phù hợp nhất mô tả được hành vi điều hành chính sách tiền tệ của mỗi
quốc gia. Sau khi tìm được mô hình có khả năng dự báo lãi suất, tác giả sẽ tính các hệ
số dài hạn giữa lãi suất và chênh lệch lạm phát/ lỗ hổng sản lượng để từ đó có thể đánh
giá mức độ nghiêm khắc của chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia (nghiêm khắc/vừa
5
Chương 1: Giới thiệu. Tác giả sẽ trình bày về lý do chọn đề tài nghiên cứu,
nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu gì? Trình bày tóm tắt về đối tượng, thời gian,
phương pháp được dùng trong bài.
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Phần này sẽ trình bày chi
tiết về chính sách tiền tệ, về lịch sử ra đời và ứng dụng quy tắc Taylor trong các nghiên
cứu trước đây.
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Ở phần này, tác giả sẽ đi vào
trình bày chi tiết về mô hình được sử dụng, cách thức thu thập dữ liệu, chi tiết hơn về
phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Sau khi đã trình bày rõ về phương pháp và dữ
liệu ở chương 3. Tác giả sẽ tiến hành chạy mô hình và trình bày kết quả nghiên cứu ở
chương này.
Chương 5: Kết luận. Cuối cùng tác giả sẽ tổng kết lại những kết quả chính đã
đạt được từ bài nghiên cứu, đồng thời cũng đưa ra những hạn chế chưa khắc phục được
và hướng nghiên cứu tiếp theo.
6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1. Chính sách tiền tệ và cơ chế truyền dẫn
2.1.1. Chính sách tiền tệ
Theo kinh tế học vĩ mô, chính sách tiền tệ là một công cụ điều hành được ngân
hàng trung ương sử dụng để trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến vĩ mô nền kinh tế.
Qua đó, thay đổi dòng chu chuyển và lượng cung tiền trong nước hướng đến mục tiêu
cuối là ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế (Mishkin,
trung ương sẽ công bố một mức mục tiêu đối với lạm phát và cam kết thực hiện mục
tiêu này bằng thay đổi lãi suất danh nghĩa khi lạm phát thực lệch khỏi mức công bố.
Quy tắc này cũng được ủng hộ mạnh bởi nhiều nhà kinh tế và áp dụng phổ biến tại
nhiều nước trên giới thế như Anh, Úc, Canada, Thụy Điển. Điều kiện tiên quyết để áp
dụng quy tắc này là sự độc lập của ngân hàng trung ương.
- Quy tắc Tayor: Đây là quy tắc được đề xuất bởi nhà kinh tế Taylor năm 1993.
Theo quy tắc này, ngân hàng trung ương sẽ thay đổi cung tiền bằng công cụ lãi suất khi
lạm phát lệch khỏi mức mục tiêu hoặc/và GDP thực lệch khỏi GDP tiềm năng của nền
kinh tế. Từ khi ra đời đến nay, quy tắc Taylor đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
nhà kinh tế, có rất nhiều nghiên cứu và nhiều phiên bản của quy tắc Taylor được
nghiên cứu ở nhiều nền kinh tế trên giới giới. Điểm nổi bật của của quy tắc này chính
là sự rõ ràng, dễ hiểu, có thể đo lường được thông qua một phương trình toán học. Và
hơn hết, chính Mỹ-nền kinh tế số một thế giới đã sử dụng quy tắc này trong việc điều
hành chính sách tiền tệ của mình trong thời gian dài.
8
Ưu điểm chính của quy tắc Taylor là tính toán đơn giản, dễ hiểu, dễ tính toán,
do đó, giúp tăng cường tính minh bạch và khả năng giải trình cho ngân hàng trung
ương, quy tắc Taylor cho phép điều chỉnh linh hoạt trọng số của sản lượng và lạm phát
phù hợp với mục tiêu trọng tâm của ngâ hàng trung ương trong việc quyết định lãi suất
điều hành. Điều này có ý nghĩa với các ngân hàng trung ương sử dụng cơ chế điều
hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát so với mục tiêu tăng trưởng trong từng
thời kỳ.
Hạn chế của quy luật Taylor là không tính tới và đưa vào mô hình các diễn biến
bất thường và các điều kiện kinh tế vĩ mô khác ngoài tăng trưởng, lạm phát có thể tác
động đến lãi suất; do đó, tính chỉ báo trong ngắn hạn hạn chế. Tuy nhiên, vì thế mà các
nhà điều hành chính sách phát huy kinh nghiệm, hiểu biết về tình hình thực tế để đưa ra
quyết định chính sách dựa trên cơ sở khoa học của quy tắc Taylor và thực trạng kinh tế
hơn là thông qua lãi suất (Mishkin, 2004, trang 621)..
- Kênh giá các tài sản khác: những thay đổi trong chính sách tiền tệ làm thay đổi
giá trị các tài sản mà các chủ thể kinh tế đang nắm giữ. Một chính sách tiền tệ thắt chặt
sẽ làm giảm giá trị thị trường của công ty, làm tăng tỷ lệ nợ/tài sản, khiến các công ty
gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ. Các chủ thể kinh tế, nói chung dễ bị
tổn thương trước những suy giảm tài chính, họ cố gắng phục hồi bảng tổng kết tài sản
của mình thông qua cắt giảm chi tiêu và vay mượn. Như vậy, đầu tư và tiêu dùng đều
giảm và kết quả cuối cùng là sản lượng của nền kinh tế giảm. Ngược lại, một chính
sách tiền tệ mở rộng sẽ làm gia tăng giá cả tài sản của các chủ thể, tạo điều kiện tốt cho
10
các chủ thể kinh tế gia tăng đầu tư và tiêu dùng, qua đó làm cho tổng sản lượng gia
tăng (Mishkin, 2004, trang 618).
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Từ khi ra đời bởi Taylor (1993), quy tắc Taylor tuyến tính đã chỉ rõ cách mà
Cục dự trữ liên bang đã điều hành Quỹ liên bang để nhắm đến mục tiêu tỷ lệ lạm phát
và lỗ hổng sản lượng. Một số nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra tính phù họp
của nguyên tắc này cho các nước khác nhau vào các thời kỳ khác nhau.
Một phần mở rộng quan trọng được thực hiện bởi Clarida và cộng sự (1998,
2000), người đã đề nghị sử dụng một phiên bản hướng đến tương lai của quy tắc
Taylor: theo đó ngân hàng trung ương nhắm mục tiêu đến lạm phát kỳ vọng và lỗ hổng
sản lượng thay vì giá trị của các biến này trong quá khứ hay hiện tại. Thực tế đó cho
phép các ngân hàng trung ương đưa các biến liên quan vào khi xem xét và thực thi
chính sách.
Gần đây, một số nghiên cứu đã mở rộng quy tắc Taylor hướng đến tương lai
bằng cách xem xét ảnh hưởng của các biến khác trong việc điều hành chính sách tiền
tệ. Một phần mở rộng quan trọng có liên quan đến biến giá tài sản và các biến tài chính
trong quy tắc. Vấn đề này đã gây ra một cuộc tranh cải lớn trong các nghiên cứu: trong
cho thấy, quy tắc này gần đúng với chính sách của FED từ 1987 đến 1992. Và 2 trường
hợp điển hình để cho thấy quy tắc này có thể áp dụng trong thực tế là trường hợp của
Cộng hòa Liên bang Đức và cú sốc giá dầu năm 1990. Quy tắt Taylor được biểu thị
qua hàm phản ứng chính sách như sau:
𝐢𝐭 = 𝐫̅ + 𝛑∗𝐭 + 𝛄𝛑 (𝛑𝐭−𝟏 − 𝛑∗𝐭 ) + 𝛄𝐲 𝐲𝐭−𝟏 + 𝛆𝐭
(2.1)
12
Trong đó:
- i t : lãi xuất danh nghĩa ngắn hạn của kỳ t. Được xem là công cụ của chính sách tiền tệ
và nó được giả định sẽ tăng nếu lạm phát thực tế cao hơn lạm phát mục tiêu hoặc sản
lượng thực tế cao hơn sản lượng tiềm năng.
- 𝛾𝜋 : hệ số thể hiện độ nhạy cảm của lãi suất danh nghĩa đối với chênh lệc lạm phát.
- 𝛾𝑦 : hệ số thể hiện độ nhạy cảm của lãi suất danh nghĩa đối với lỗ hổng sản lượng.
- i t-1 : lãi suất danh nghĩa ngắn hạn tại kỳ t-1
- π t-1 : tỷ lệ lạm phát lũy tính đến thời điểm t-1.
- π t *: tỷ lệ lạm phát mục tiêu của 12 tháng kế tiếp tính từ thời điểm t.
- r̅
: lãi suất thực
- yt-1 : lỗ hổng sản lượng tại thời điểm t-1.
Trong công thức trên thì 𝛾𝜋 >1 hàm ý rằng: khi lạm phát tăng thêm 1% so với
mục tiêu thì ngân hàng trung ương sẽ điều chỉnh lãi suất danh nghĩa tăng 𝛾𝜋 % (>1%)
không hợp lý nhưng nó có những tác động không nhỏ tới nền kinh tế thực.
Lạm phát kì vọng là một nhân tố quan trong khi điều hành mà các Ngân hàng
trung ương cần xem xét khi điều hành chính sách lãi suất bởi lẽ không chỉ vì nó mang
tính dự báo và dẫn dắt thị trường khiến cho việc điều hành của ngân hàng trung ương
chính xác hơn mà bởi lẽ, lạm phát kì vọng chính nó còn ảnh hưởng ngay cả các nhân tố
khác tại thời điểm hiện tại. Chính vì vậy nếu bỏ qua yếu tố lạm phát kì vọng thì chính
14
sách của ngân hàng trung ương ngoài chậm chạp thay đổi so với diễn biến thị trường
thì nó còn bị làm giảm đi tính hiệu lực của mình. Sau đây là một số cách khiến lạm
phát kì vọng ảnh hưởng đến nền kinh tế tại thời điểm hiện tại:
- Tác động tới đầu tư: Khi các doanh nghiệp kì vọng toàn bộ giá cả trong nền
kinh tế tăng nhiều hơn giá trị mà họ kì vọng trước đó, các doanh nghiệp sẽ đầu tư nhiều
hơn là họ đã dự kiến bởi vì các doanh nghiệp sẽ thấy lợi ích từ việc giá vốn sẽ giảm so
với trong kế hoạch của họ trước đây, và họ sẽ đầu tư nhiều hơn vào hôm nay vì biết
rằng giá vốn tương lai sẽ tăng lên theo lạm phát. Đầu tư nhiều hơn vào hôm nay có
nghĩa tiền lãi thực mà các doanh nghiệp phải trả sẽ ít hơn trong tương lai do lạm phát
tăng. Điều này có nghĩa là họ đã chuyển đầu tư từ tương lai về hôm nay.
- Tác động tới phía cung: Thứ nhất khi giá cả tăng sẽ làm giảm đi sức mua
thực của các cá nhân trong nền kinh tế. Nên người lao động sẽ đòi hỏi một mức lương
danh nghĩa cao hơn để đảm bảo thu nhập thực của mình không đổi. Điều này tạo áp lực
lên việc gia tăng chi phí của các doanh nghiệp nên họ buộc phải tăng giá để bảo tồn lợi
nhuận của mình. Thứ hai, lạm phát kỳ vọng của các doanh nghiệp đồng thời ảnh hưởng
lên lạm phát một cách trực tiếp thông qua hành vi giá cả của họ (pricing behavior). Nếu
các doanh nghiệp kỳ vọng mức giá chung sắp tới sẽ tăng lên, họ có có thể tin rằng tăng
giá trong sản phẩm sẽ không phải chịu sự suy giảm trong mức cầu.
- Tác động tới tiêu dùng: có vẻ hợp lý khi cho rằng người ta sẽ chi tiêu nhiều
hơn trong hôm nay nếu kì vọng của họ về toàn bộ giá cả hàng hóa sẽ tăng trong tương
16
- Lạm phát kì vọng của các doanh nghiệp đồng thời ảnh hưởng lên lạm phát một
cách trực tiếp thông qua hành vi giá cả của họ (pricing behavior). Nếu các doanh
nghiệp kì vọng mức giá chung sắp tới sẽ tăng lên, họ có có thể tin rằng tăng giá trong
sản phẩm sẽ không phải chịu sự suy giảm trong mức cầu.
Vì lý do đó, Clarida và cộng sự (1998) đề nghị việc sử dụng một phiên bản
hướng tới tương lai của quy tắc Taylor. Phiên bản này cho phép các ngân hàng trung
đưa các biến có liên quan khác nhau vào tính toán khi xây dựng dự báo lạm phát. Do
đó, theo Clarida và cộng sự (1998, 2000), mức độ kỳ vọng của ngân hàng trung ương
về lãi suất (i*) phụ thuộc vào độ lệch của lạm phát kỳ vọng trong k giai đoạn tới (tỷ lệ
hàng năm) từ giá trị mục tiêu và khoảng cách sản lượng mong đợi trong p giai đoạn tới.
Tương tự, Fourcant và Vranceanu (2004) và Sauer và Sturm (2007) cũng đã nhấn
mạnh sự quan trọng của việc xem xét phiên bản quy tắc Taylor hướng đến tương lai
trong khi phân tích chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương châu Âu. Điều đó
giúp tạo ra quy tắc hướng tới tương lai Taylor như sau:
i t * = 𝑟̅ + π* + β[E t (π t+k |Ω t ) – π*] + γE t [(yt+p – yt+p *)|Ω t ]
(2.2)
Trong đó, E biểu thị giá trị kỳ vọng (expectations operator) , Ω t là vector bao
gồm tất cả các thông tin có sẵn cho ngân hàng Trung ương tại thời điểm thiết lập lãi
suất. Theo nguyên tắc Taylor đã nêu ở phần trên các hệ số trong phương trình nên 𝛾𝜋 >1
và 𝛾𝑦 >0.
2.2.3. Quy tắc Taylor mở rộng biến
quy tắc lãi suất tuyến tính đơn giản đưa ra một quy tắc chính sách tối ưu dưới điều kiện
rằng các Ngân hàng trung ương đang tối thiểu hóa một hàm thua lỗ đối xứng bậc hai và
hàm tổng cung là tuyến tính. Tuy nhiên trong thực tế, điều này có thể không xảy ra vì
Ngân hàng trung ương có thể ưu tiên bất đối xứng để theo đuổi một quy tắc Taylor phi