Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

HOÀNG THỊ LÂM OANH

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TẠI
HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU

Hà Nội – 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

HOÀNG THỊ LÂM OANH

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TẠI
HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị
Mã số: 60 31 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Vũ Văn Hùng
XÁC NHẬN CỦA

CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................ 29
2.1. Phương pháp luận ................................................................................. 29
2.1.1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ....................................................... 29
2.1.2. Chủ nghĩa duy vậy lịch sử .............................................................. 29
2.2. Các phương pháp chủ yếu áp dụng trong luận văn .............................. 30
2.2.1. Phương pháp trừu tượng hoá khoa học ......................................... 30
2.2.2. Phương pháp logic – lịch sử .......................................................... 30


2.2.5. Phương pháp phân tích và tổng hợp .............................................. 33
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH
TẾ TẠI HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN ................................... 35
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An...................................... 35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên .......................................................................... 35
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Diễn Châu ........................... 38
3.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại huyện Diễn Châu, tỉnh
Nghệ An ....................................................................................................... 43
3.3. Đánh giá chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An ................................................................................... 766
3.3.1. Những kết quả đạt được ................................................................. 76
3.3.2. Những hạn chế................................................................................ 80
3.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế. .................................................. 81
CHƢƠNG 4: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TẠI HUYỆN DIỄN
CHÂU, TỈNH NGHỆ AN. ............................................................................ 83
4.1. Bối cảnh mới ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại
huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ................................................................. 83
4.2. Quan điểm và mục tiêu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại
huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ................................................................. 86

21
22
23
24
25
26
27
28
29
30

Ký hiệu
CCKT
CCKTN
KHCN
KHKT
PTBV
GDP
CNH, HĐH
GTSX
GTTT
VA
GSS
GHH
MTQH
DN
QL
ADB
CNTT
VH

Công nghệ thông tin
Văn hóa
Hợp tác xã
Nông thôn mới
Ủy ban Nhân dân
Tiểu thủ công nghiệp
Công nghiệp
Khu công nghiệp
Khu kinh tế
Vệ sinh môi trường
Xây dựng cơ bản
Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á
Tổ chức thương mại Thế giới
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

i


DANH MỤC BẢNG
Bảng

Nội dung

1

Bảng 3.1

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành giai đoạn 2015 - 2018

76


TT
1

Hình
Hình 4.1

Nội dung
Biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện Diễn Châu so với toàn
tỉnh 2020 (%)

ii

Trang
88


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế là một trong những yếu tố quyết định sự ổn định, phát triển
của một đất nước nói chung và của một địa phương nói riêng. Nền kinh tế muốn
phát triển đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý được định hướng, xác lập và
biến đổi phù hợp với yêu cầu đòi hỏi khách quan. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng đã xác định nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng hàng đầu trong thời gian
tới là: “Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm
an ninh kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu,
chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức. Tăng trưởng kinh tế
phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,
không ngừng nâng cao chất lượng của nhân dân…”1

hội đòi hỏi phải nghiên cứu một cách khoa học, đồng bộ và có hệ thống giữa lý luận
và thực tiễn, trên cơ sở thực trạng kinh tế - xã hội của huyện.
Do vậy, học viên lựa chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại
huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế
Chính trị. Đề tài này đáp ứng yêu cầu nội dung các Nghị quyết của Trung ương
Đảng và Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVII, Quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Diễn Châu đến năm 2020; đồng thời cũng
đáp ứng được với những yêu cầu thực tiễn cấp thiết hiện nay của địa phương là tạo
ra một cơ cấu ngành kinh tế hợp lý để phát huy và khai thác tiềm năng, thế mạnh
của huyện, từ đó phát triển kinh tế toàn diện, vững chắc, từng bước nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong huyện, góp phần đưa kinh tế tỉnh
Nghệ An phát triển phù hợp với nhịp độ chung của nền kinh tế đất nước.
* Câu hỏi nghiên cứu
- Huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An cần làm gì và làm như thế nào để đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời gian tới?
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, luận văn đi sâu
phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Từ đó đề xuất giải
pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ
An.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn cấp huyện;

2


 Phân tích được thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại huyện
Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thời gian qua. Từ đó đưa ra những đánh giá cụ thể

THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1. Các công trình nghiên cứu
Nhóm thứ nhất, nghiên cứu về khung lý thuyết cho chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế trên bình diện chung nhất có các tác giả Võ Huy Khương (2014),
“Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng đến
2020” , ông cho rằng lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế ra đời khi lý thuyết kinh
tế bắt đầu có sự quan tâm đáng kể đến sự thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế. Ngoài
ra, ông dẫn nhận định của Pasinetti (1981) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một hệ
quả tất yếu của tăng trưởng kinh tế, trong quá trình tăng trưởng sẽ có ngành đạt đến
mức tới hạn, ngược lại, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách phù hợp sẽ giúp gia
tăng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào từ đó giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hay,
theo Kuznets S (1961), “Quantitative aspects of the Economic growth of Nations,
IV, Longterm Trends in apital Formation Proportions”, xem cơ cấu kinh tế là một
khung mạch lạc các bộ phận có quan hệ với nhau, mà mỗi bộ phân có vai trò riêng
biệt nhưng có cùng một số mục tiêu chung. Tóm lại, cơ cấu kinh tế được xem là
tổng thể các bộ phận của nền kinh tế, có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ
lệ nhất định cả về chất và lượng, các bộ phận kinh tế tác động qua lại với nhau trong
cùng một không gian và thời gian nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.
H. Cherry (1988), Structural transformation, cho rằng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên
tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích lũy của vốn vật chất và
con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm. Ông cho rằng, mức
thu nhập bình quân đầu người càng cao thì công nghiệp và dịch vụ càng phát triển,
đồng thời, khi công nghiệp và dịch vụ phát triển thì thì mức thu nhập bình quân đầu
người cũng tăng tương đối.
Dựa theo các công trình nghiên cứu giai đoạn 1930-1940, Fisher (1993),
“Geographical Localizaton or Knowledge Spilloves as Evidenced by Patent
4

công lao động chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất.
Nhóm thứ hai, nghiên cứu về tiêu chí phản ánh chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế. Học giả Moe T (1984), The New Economics of Organization, và North D.C
5


(1981), Structure ans Change in Economics History cho rằng cải cách thể chế giúp
cho nền kinh tế phát triển hiệu quả, tạo ra những khuyến khích để các chủ thể kinh
tế tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để
tạo ra một nền thể chế tốt phục vụ hiệu quả cho quá trình phát triển và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia, địa phương. Các học giả Jaffe A.M (1993),
Geographical Localizaton or Knowledge Spilloves as Evidenced by Patent
Citations và Lucas R (1988), On the Mechanics of Economic Development thì cho
rằng quốc gia có nguồn nhân lực trình độ cao, đóng góp vào việc nâng cao năng
suất lao động từ đó đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế. D Ricardo, (1971),
On the principles or political economy, ans taxation đã khẳng định: “Một quốc gia
sẽ thu được lợi nhuận cao khi quốc gia đó tận dụng được lợi thế về công nghệ để
sản xuất ra các loại hàng hóa dịch vụ với giá cả thấp và nhập khẩu những loại hàng
hóa, dịch vụ sẽ phải sản xuất với giá cao tại quốc gia đó”. Tức là chuyển dịch cơ
cấu kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với phát triển KHCN, chuyển dịch cơ cấu và đổi
mới công nghệ là động lực tăng trưởng năng suất, đóng vai trò quan trọng trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 đưa ra bộ chỉ số (30 chỉ
số) sử dụng cho theo dõi đánh giá thực hiện chiến lược PTBV, các chỉ tiêu riêng về
chuyển dịch CCKTN theo hướng PTBV phản ánh sự gắn kết giữa các khía cạnh
phát triển kinh tế và chuyển dịch CCKTN phù hợp với điều kiện của Việt Nam cần
tiếp tục nghiên cứu, bổ sung.
Học giả Trần Thọ Đạt (2015), Ứng dụng một số lý thuyết trong nghiên cứu
kinh tế dành cho chương trình tiền tiến sĩ đề cập đến các lý thuyết thay đổi CCKT,
các ứng dụng lý thuyết thay đổi cơ cấu trong nghiên cứu kinh tế, tốc độ chuyển dịch

liệu tham khảo trực tiếp, có giá trị đối với đề tài này.
Bên cạnh những kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu, còn có một
số khoảng trống mà tác giả nghiên cứu, mong muốn đạt được:
- Các công trình nghiên đã đưa ra một cách hệ thống các khái niệm, nội dung,
các tiêu chí để đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào chú trọng nghiên cứu về chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn cấp huyện, xây dựng được nội dung và các
tiêu chí đánh giá một cách hệ thống. Đây là những gợi mở nghiên cứu và hướng tiếp
cận cho luận văn.
7


- Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng, phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Diễn Châu, nhưng chưa có công trình nghiên cứu
về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An dưới góc độ
Kinh tế chính trị. Đặc biệt, trong giai đoạn nền kinh tế đang trong giai đoạn hội
nhập ngày càng sâu rộng, yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng bức
thiết, cạnh tranh như hiện nay đòi hỏi phải có sự thay đổi nhanh hơn nữa trong việc
thực thi chính sách, giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành nói riêng.
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn Diễn Châu cùng với những điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội hiện có, nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm phát triển
kinh tế hiệu quả. Hơn nữa, trong giai đoạn 2015 - 2018, Diễn Châu bên cạnh những
thay đổi tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, còn một số tồn tại cần thiết được
nghiên cứu, phân tích và đánh giá, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục để địa
phương có định hướng phát triển hiệu quả và bền vững trong giai đoạn sắp tới.
1.2. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.2.1. Cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.2.1.1. Cơ cấu ngành kinh tế
Trước hết, để hiểu được khái niệm cơ cấu ngành kinh tế, chúng ta cần hiểu

nhau do quan hệ sản xuất, đặc trưng văn hóa – xã hội và các yếu tố lịch sử của mỗi
dân tộc. Vì vậy, các nước dù hình thái kinh tế - xã hội giống nhau lại khác nhau
trong việc hình thành cơ cấu kinh tế do đặc trưng khác nhau về điều kiện kinh tế,
chiến lược phát triển của mỗi nước.
Cơ cấu kinh tế hợp lý được hình thành khi chủ thể quản lý nhà nước có khả
năng nắm bắt các quy luật kinh tế khách quan, đánh giá đúng các nguồn lực trong
nước và bên ngoài nhằm có các tác động đến quá trình hình thành cơ cấu kinh tế.
Việc tác động này mang tính định hướng mà không can thiệp vào tính khách quan
vốn có của nó.
Cơ cấu kinh tế là cơ sở hình thành cơ cấu xã hội. Các Mác cũng đã chỉ rõ
“…chính toàn bộ các quan hệ giữa người đảm nhận sản xuất với nhau và giữa họ
với tự nhiên, tức là điều kiện trong đó họ tiến hành sản xuất, toàn bộ những quan hệ
đó hợp thành về mặt xã hội của nó” 3.
Nội dung cơ cấu kinh tế quốc dân có thể xem xét trên các góc độ khác nhau:
2

Kinh tế chính trị Mác – Lênin. Tập 2. Những vấn đề kinh tế chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt
Nam. Nxb TT & TT, 2011.
3
C. Mác – Tư bản, quyển 3, tập II; Nxb Sự thật Hà Nội – 1973, tr281 - 283

9


- Cơ cấu theo các lĩnh vực: khu vực sản xuất, khu vực tích lũy, khu vực
tiêu dùng.
- Cơ cấu theo ngành kinh tế kỹ thuật: Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Đó
là sự kết hợp giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân hoặc từng loại hình sản
xuất, từng xí nghiệp trong nội bộ ngành. Sự vân động của các ngành kinh tế và các
mối quan hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểm chung của sự phát triển sản xuất

hiểu cơ cấu kinh tế theo những nội dung sau:
Một là, số lượng các ngành kinh tế được hình thành. Số lượng các ngành kinh
tế luôn luôn vận động, nó luôn được hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao
động xã hội. Từ đầu thế kỷ XIX, theo nhà kinh tế học Colin Clark, căn cứ vào tính
chất chuyên môn hóa của sản xuất đã chia thành 3 nhóm ngành: Nhóm ngành sản
xuất những sản phẩm dựa trên sự khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên (gồm
nông nghiệp và khai thác khoáng sản); Nhóm thứ hai, có chức năng gia công, chế
biến sản phẩm có nguồn gốc từ ngành thứ nhất: ngành công nghiệp chế biến. Ngành
thứ ba, khác với hai ngành trên, sản xuất ra sản phẩm vật chất hữu hình, sản xuất ra
sản phẩm vô hình. Đến nay, cách phân loại này vẫn được áp dụng ở phổ biến các
quốc gia. Ngoài ta, còn có nhiều cách phân loại ngành khác…và để thống nhất cách
phân loại ngành, Liên hiệp quốc (UN) thực hiện phân loại ngành kinh tế thành 3
khu vực: Khu vực I bao gồm các ngành nông-lâm-ngư nghiệp; Khu vực II là các
ngành công nghiệp – xây dựng; Khu vực III là các ngành thương mại – dịch vụ.
Hai là, mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành với nhau. Mối quan hệ này bao
gồm cả về mặt số lượng và mặt chất lượng. Mặt số lượng thể hiện ở tỷ trọng (tính
theo GDP, lao động, vốn, …) của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân;
còn mặt chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng ngành và tính chất của
sự tác động qua lại giữa các ngành với nhau. Đó có thể là sự tác động trực tiếp
(cùng chiều hay ngược chiều) hay gián tiếp (theo cấp độ) giữa các ngành với
nhau…vv. Tùy thuộc vào sự biến đổi và mức độ phức tạp của sự phát triển trong
phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế mà mối quan hệ giữa các ngành
cũng thay đổi không ngừng.
Các đặc trƣng chủ yếu của cơ cấu ngành kinh tế
- Tính khách quan
Cơ cấu ngành kinh tế được hình thành một cách khách quan do trình độ phát
triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Một cơ cấu ngành kinh tế
như thế nào và xu hướng chuyển dịch ra sao thì phụ thuộc vào những điều kiện
hoàn cảnh khách quan về thể chế chính trị, điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định
11

khoa học – kỹ thuật, cách mạng thông tin, … cơ cấu ngành kinh tế luôn vận động,
phát triển và chuyển hóa cho nhau. Cơ cấu ngành kinh tế cũ dịch chuyển dần dần và
hình thành cơ cấu ngành kinh tế mới. Cơ cấu ngành kinh tế mới này ra đời và thay
12


thế cơ cấu ngành kinh tế cũ. Sau đó, cơ cấu ngành kinh tế mới lại không phù hợp và
được thay thế bằng cơ cấu ngành kinh tế mới ở trình độ cao hơn, hoàn thiện hơn.
Cứ như thế, cơ cấu ngành kinh tế vận động biến đổi không ngừng từ đơn giản đến
phức tạp, từ đơn điệu đến đa dạng, từ ít hoàn thiện đén hoàn thiện hơn. Sự vận động
biến đổi đó do tác động của các qui luật kinh tế xã hội, do yêu cầu phát triển văn
minh nhân loại. Cơ cấu ngành kinh tế không chỉ giới hạn ở các quan hệ giữa các
ngành và có tính ổn định mà nó luôn thay đổi phù hợp với yêu cầu phát triển của
nền kinh tế trong từng thời kỳ.
1.2.1.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Quá trình thay đổi cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày
càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một phạm trù động,
thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không ổn định.
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mỗi quốc gia, mỗi ngành
hay mỗi vùng lãnh thổ, có thể đưa vào cơ cấu kinh tế những ngành mới (sản phẩm
hay dịch vụ mới) hay có thể loại ra khỏi cơ cấu kinh tế những ngành (sản phẩm hay
dịch vụ) không còn phù hợp hoặc có thể chuyển dịch theo hướng tăng hay giảm tỷ
trọng của một ngành (một sản phẩm, dịch vụ…) nào đó. Việc chuyển dịch ngành
phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ
cấu cũ, lạc hậu, hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu tiên tiến, hoàn thiện và hoàn
thiện và bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới tiên tiến, hiện đại và phù hợp hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân tạo điều kiện giải quyết sự
bất bình đẳng giữa các ngành, các vùng trong nền kinh tế.

quy luật có tính phổ biến đối với mỗi vùng kinh tế, để chuyển từ trạng thái lạc hậu,
kém phát triển và phụ thuộc sang một xã hội phát triển và văn minh.
Hai là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là đảm bảo sự phát triển
kinh tế xã hội nhanh, ổn định và vững chắc, khai thác có hiệu quả các nguồn lực
trong nội bộ các ngành, để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, xây
dựng xã hội văn minh công nghiệp. Mục tiêu này được thực hiện dần từng bước,
trong mỗi giai đoạn đều có những ưu tiên riêng.
Ba là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm những nội dung khác nhau,
có quan hệ chặt chẽ với nhau. Những nội dung cơ bản là là ứng dụng kĩ thuật,
phương pháp quản lý tiên tiến hiện đại đối với tất cả các ngành kinh tế, trước hết là
những ngành chiếm vị trí quan trọng nhất. Xây dựng cơ cấu đa ngành, trong đó sự
14


cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực trong nội bộ ngành được xem xét trong điều
kiện kinh tế mở nhằm phát huy lợi thế của các lĩnh vực trong ngành, nội bộ ngành.
Việc khai thác nguồn lực phát gắn liền với việc bảo tồn, tái tạo và phát triển các
nguồn lực đó, đặc biệt là nguồn lực do tự nhiên mang lại. Phân công lại lao động
theo ngành, theo từng lĩnh vực trong nội bộ ngành.
Bốn là, để thực hiện được mục tiêu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế cần phải có bước đi, điều kiện và giải pháp thích ứng.
1.2.2. Nội dung và tiêu chí chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.2.2.1. Nội dung chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
a, Xác định tiềm năng và nhu cầu của thị trường
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế các ngành xuất phát từ thực trạng kinh tế các
ngành, đặc điểm kỹ thuật của các ngành, tiềm năng và xu hướng phát triển của
chúng theo mục tiêu chung của đất nước, của địa phương, hướng chung của chuyển
dịch cơ cấu ngành là tăng tỷ trọng các ngành phi sản xuất vật chất, kết hợp chặt chẽ
Nông, Lâm, Ngư nghiệp và công nghiệp chế biến, cuối cùng là tập trung ưu tiên cho
phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn.

trong nội bộ ngành để hỗ trợ nhau cùng phát triển.
* Nhóm ngành Công nghiệp: bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng.
Các sản phẩm chủ yếu thuộc nhóm ngành xét ở cấp độ địa phương có thể là: (i) Chế
biến thực phẩm từ sản phẩm của ngành nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt); (ii)Cơ
khí, chế tạo (Đóng tàu, phôi thép, nông cụ cầm tay, tôn lợp, nhôm kính…); (iii)Vật
liệu xây dựng (gạch nung, ngói, đá bột, thạch cao…); (iv)Công nghiệp nhẹ (May
mặc, mộc dân dụng, sản xuất đồ nhựa…); (v)Điện, nước sinh hoạt (phân phối điện,
sản xuất nước sinh hoạt). Đối với mỗi địa phương, theo tính chất của sự phân công
lao động xã hội, sẽ có những sản phẩm chủ lực riêng của mỗi vùng, địa phương
tương ứng; Tương tự như vậy, tỷ trọng công nghiệp khai thác giảm, tăng dần tỷ
trọng công nghiệp chế biến trong cơ cấu GDP thể hiện việc chuyển dịch theo hướng
hiện đại hơn, phát triển các ngành công nghiệp hiện đại, đáp ứng nhu cầu của thị
trường.
* Nhóm ngành Dịch vụ: Ngoài việc chuyển dần các dịch vụ có hiệu quả kinh
tế thấp, mang lại giá trị gia tăng không cao. Việc phát triển các ngành dịch vụ mới
như du lịch, bảo hiểm, tài chính ngân hàng…thay thế dần cho các ngành dịch vụ có
hiệu quả kinh tế thấp, lạc hậu, không đảm bảo sự phát triển bền vững được cho là
chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành dịch vụ theo hướng hiện đại hơn. Trong cơ cấu
ngành dịch vụ của một huyện gồm các phân ngành dịch vụ quan trọng và tiêu biểu
như sau: (i) Thương mại: Ở địa phương với lực lượng dân số lớn, khách du lịch
16


tương đối; thu nhập bình quân đầu người, sức mua lớn, cơ sở hạ tầng kinh tế và
thương mại hiện đại, đó là những yếu tố thuận lợi cho phát triển thương mại hiện
đại và độ mở nền kinh tế. Đây là ngành có lợi thế lớn trong phân ngành dịch vụ cần
được khai thác phát triển; (ii) Tài chính - Ngân hàng: Đây là lĩnh vực đặc biệt quan
trọng đối với một địa phương. Với quy mô dân số đông, với lượng khách du lịch
lớn, với sự vãng lai của số đông dân cư, dịch vụ tài chính, ngân hàng trở thành nhu
cầu tất yếu và là tiền đề để tạo nên thế mạnh và lợi thế so sánh, phát triển kinh tế

Để xây dựng chiến lược, quy hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cấp
huyệnn, trước hết chính quyền cấp huyện cần xác định, đánh giá nguồn lực, tiềm
năng, lợi thế của địa phương trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Tiếp đó,
xác định nhu cầu thị trường để đưa ra chiến lược phát triển các ngành kinh tế phù
hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và bối cảnh ảnh hưởng đến chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh cũng như của cả nước. Trên cơ sở chiến lược quy
hoạch tổng thể chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước và của tỉnh, chính quyền
cấp huyện lập quy hoạch tổng thể, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cho
từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện nguồn lực, tiềm năng phát triển của các ngành
kinh tế. Quy hoạch, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau khi được cấp có thẩm
quyền phê duyệt phải công bố, công khai rộng rãi để nhân dân và các cơ quan liên
quan được biết.
c, Xây dựng cơ chế vận dụng pháp luật và chính sách thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Để khai thác tốt các nguồn lực, lợi thế, tiềm năng nhằm đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế, chính quyền địa phương cấp huyệnc cần xây dựng chính sách
đặc thù trên cơ sở khung pháp lý chung của nhà nước và của tỉnh. Chính sách
khuyến khích thu hút đầu tư vào các lĩnh vực, các ngành kinh tế phải được cụ thể
hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật, là cơ sở để các nhà đầu tư nghiên cứu, xem
xét quyết định đầu tư. Đầu tư vào các lĩnh vực, các ngành kinh tế căn cứ vào điều
kiện của địa phương, nhu cầu thị trường cũng như nguồn lực của các nhà đầu tư, từ
đó chính quyền xác định cơ chế ưu đãi cho phù hợp. Chính sách ban hành vừa đảm
bảo nguyên tắc phù hợp khung pháp lý chung, vừa tạo sự thông thoáng, hấp dẫn các
nhà đầu tư.
Địa phương có nhiều tiềm năng, lợi thế và nguồn tài nguyên phong phú đa
dạng, nhưng nếu không có chính sách phù hợp thì không thể khuyến khích các
doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực, các ngành kinh tế, từ đó đẩy mạnh quá trình
18



Tỷ trọng giá trị sản xuất của từng ngành kinh tế trong tổng sản lượng quốc
gia

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status