ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
PHAN MINH TUẤN
Một số vấn đề về tập đoàn kinh tế nhà nước
ở Việt Nam hiện nay
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, 2002
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Tập đoàn kinh tế.
8
1.1. Khái niệm về Tập đoàn kinh tế.
8
1.2. Hình thức tổ chức và các đặc trưng chủ yếu của Tập đoàn kinh tế.
12
2.4. Đánh giá một số thành tựu và hạn chế.
75
Chương 3: Quan điểm, nguyên tắc và giải pháp phát triển Tập đoàn kinh tế ở
Việt Nam.
86
3.1. Quan điểm, chủ trương về sự cần thiết xây dựng, phát triển Tập đoàn kinh tế.
86
3.2. Những nguyên tắc và phướng xây dựng và phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam.
95
3.3. Những giải pháp cơ bản xây dựng và phát triển các Tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam.
102
KẾT LUẬN
119
1
9. LHXN
: LHXN.
10. MB
: Miền Bắc.
11. MN
: Miền Nam.
12. MNCs : Các công ty đa quốc gia.
13. NIEs
: Các nền kinh tế công nghiệp mới.
14. TBCN : Tư bản chủ nghĩa.
15. TCH
: Toàn cầu hoá.
16. TCT
: Tổng công ty.
17. TĐDN : Tập đoàn doanh nghiệp.
18. TĐKD : Tập đoàn kinh doanh.
19. TĐKT : Tập đoàn kinh tế.
Quá trình thành lập các Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam được đánh
dấu bằng Quyết định 91/TTg ngày 07/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là
một bộ phận quan trọng của quá trình đổi mới, tổ chức và sắp xếp lại các doanh
nghiệp Nhà nước theo hướng hình thành các tổ chức kinh tế mạnh của Nhà nước.
Cho đến nay, mặc dù đạt được một số thành tựu nhất định như: hoàn
thành nghĩa vụ nộp ngân sách, ổn định việc làm cho người lao động, nâng cao
đời sống cán bộ công nhân viên, tích cực tham gia thực hiện các chính sách xã
3
hội... Tuy nhiên, trên thực tế khách quan cần thấy rằng các TĐKT Nhà nước
chưa thực sự là một thực thể kinh tế thống nhất, chưa phát huy sức mạnh tổng
hợp toàn Tập đoàn, chưa khắc phục tình trạng rời rạc của các doanh nghiệp
thành viên bằng cơ chế, tổ chức và điều hành. Vì vậy việc thành lập các TĐKT
Nhà nước chưa đạt mục tiêu đề ra là tạo sự liên kết kinh tế, gắn bó lợi ích và thị
trường, là trụ cột đồng thời tạo “quả đấm thép” làm đối trọng trong quan hệ kinh
tế quốc tế.
Việc xây dựng và phát triển các TĐKT Nhà nước là một lĩnh vực mới mẻ
đối với Việt Nam cả trên giác độ lý luận và thực tiễn. Và hướng đi nào cho các
Tổng công ty theo mô hình TĐKT trong những năm tới để nó thực sự giữ vững
những mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế đề ra? Đó thực sự là một câu hỏi lớn cho tất
cả những ai quan tâm đến sự phát triển mô hình TĐKT ở Việt Nam.
Để góp phần nhỏ bé vào công việc to lớn và phức tạp khó khăn đó, tác giả
xin lựa chọn vấn đề: “Một số vấn đề về Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam
hiện nay” làm Luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu.
Xung quanh vấn đề về Tập đoàn kinh tế đã có một số công trình nghiên
cứu cả trong và ngoài nước. Trong đó có đề cập đến vai trò vị trí của các TĐKT
cũng như sự cần thiết và tác dụng của loại hình doanh nghiệp Tập đoàn, quy mô
yếu sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự hình thành và phát
triển TĐKT.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các TĐKT Nhà nước ở Việt
Nam.
5
- Luận chứng những phương hướng, quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm
củng cố, tổ chức lại các TĐKT ở Việt Nam trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Các vấn đề lý luận và thực tiễn của
sự hình thành, phát triển TĐKT và một số vấn đề đặt ra cho sự hình thành và
phát triển TĐKT ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Trên thực tế, có thể có nhiều loại hình
tổ chức kinh doanh, Tổng công ty phát triển theo hướng TĐKT, song, các TĐKT
được đề cập trong luận văn này là các TĐKT Nhà nước (các Tổng công ty Nhà
nước được thành lập theo Quyết định 91/TTg hay còn gọi tắt là Tổng công ty
91). Tuy nhiên, do mối quan hệ biện chứng của các quan hệ kinh tế nên trong
luận văn này cũng đề cập ở một mức độ nhất định một số Tổng công ty được
thành lập theo quyết định 90/TTg (gọi tắt là Tổng công ty 90).
Đề tài thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị nên chỉ tập trung vào các xu
hướng vận động có tính quy luật, những quan điểm có tính chất định hướng phát
triển của các TĐKT.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài, các phương pháp đã được vận
dụng: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp hệ
thống; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; kết hợp phương pháp phân
tích - tổng hợp với phương pháp quy nạp - diễn dịch; phương pháp lôgic với
Trong thời đại mở rộng nhanh chóng của quá trình toàn cầu hoá kinh tế như
hiện nay, tất cả các quốc gia đều bị cuốn hút vào hệ thống phân công lao động
quốc tế. Việc tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh theo các chuẩn mực
quốc tế, đặc biệt tổ chức các công ty theo các mẫu hình có hiệu quả như kiểu
công ty mẹ - công ty con đang được cả giới lý luận và hoạt động thực tiễn quan
tâm. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, sự phân tích được bắt đầu từ nhận diện chúng
qua khái niệm.
1.1. Khái niệm về Tập đoàn kinh tế.
TĐKT xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi CNTB chuyển từ
giai đoạn tự do cạnh tranh sang độc quyền. Cho đến nay, các TĐKT trên thế giới
tồn tại dưới nhiều hình thức kinh doanh theo kiểu các nhóm công ty xí nghiệp
lớn hoạt động trên phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia. Chúng là những công
ty mạnh về tài chính với doanh số hàng năm từ vài trăm triệu đến vài trăm tỷ
USD.
Các tập đoàn này có nhiều chi nhánh, gồm các công ty con, cháu, và có
thể hoạt động trong một hoặc nhiều lĩnh vực ngành nghề đa dạng. Tuỳ từng quốc
gia và giai đoạn lịch sử mà chúng được gọi bằng những tên khác nhau như:
Cartel, Syndicat, Trust, Consortium, Group, Cambinate, Holding company,
Concern, Conglomerate. Ở Hàn Quốc, người ta gọi chúng là các Chaebol, ở Nhật
Bản thường gọi là Zaibatsu hay Keiretsu; ở Trung Quốc gọi là các Tập đoàn
doanh nghiệp, ở Đài Loan lại gọi là Jituanque, vv....
8
Từ đó khái niệm về TĐKT cho đến nay cũng còn tồn tại nhiều quan điểm
khác nhau, dưới đây xin nêu một số quan điểm chủ yếu:
- Quan điểm thứ nhất: Theo một số nhà nghiên cứu kinh tế thì, “TĐKT
hay Tập đoàn kinh doanh (Group of Companies) là một tổ hợp các công ty độc
lập về mặt pháp lý nhưng tạo lập thành một tập đoàn gồm một công ty mẹ và
trình tạo liên kết, liên hợp hoá của nhiều công ty, xí nghiệp của nhiều chủ sở hữu
khác nhau, hoạt động kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành, thực hiện tập
trung hoá tư bản, đẩy mạnh phân công chuyên môn hoá và đầu tư theo chiều sâu,
nhanh chóng đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh
tranh để giành lợi nhuận siêu ngạch từ lợi thế hoặc độc quyền” [37].
Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi mô hình kế hoạch hoá tập trung
kiểu quan liêu bao cấp sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô (cũ), các nước XHCN đều
tiến hành đổi mới kinh tế theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, hình thức kinh doanh kiểu Tập đoàn ra đời: "Đó là một kiểu liên
hợp các DN do một số pháp nhân thành lập và có cơ cấu tổ chức bao gồm một
công ty mẹ và các công ty con được thành lập trên cơ sở một DN lớn làm nòng
cốt và kết hợp một số DN khác có quan hệ góp vốn và quan hệ trong quá trình
sản xuất, kỹ thuật, hợp đồng, vv..." [7].
Như vậy, cho đến nay, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về TĐKT. Có
nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản là do có những sự khác nhau về phương thức
hình thành, nguyên tắc tổ chức, và tư cách pháp nhân của TĐKT. Có Tập đoàn
được thành lập trên cơ sở như một hình thức tổ chức kinh tế lỏng lẻo, các công ty
thành viên ký kết các thoả thuận liên kết kinh tế với nhau lập thành một tổ chức,
trong đó có một công ty mẹ chi phối chiến lược chung của Tập đoàn, nhưng các
10
thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập kinh doanh của mình; Có loại hình Tập
đoàn hình thành trên cơ sở sáp nhập thành một tổ chức thống nhất hoạt động
theo những nguyên tắc cứng như một pháp nhân kinh tế; Có loại hình Tập đoàn
hình thành trên cơ sở các thành viên thoả thuận thành lập một công ty tài chính
riêng, công ty này đóng vai trò như một công ty mẹ chỉ đạo, chi phối hoạt động
của các công ty thành viên. Về tư cách pháp nhân của Tập đoàn, có quan điểm
cho rằng, TĐKT là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều đơn vị
hợp bao gồm công ty mẹ và các công ty con, cháu, chi nhánh tồn tại dưới nhiều
hình thức khác nhau.
Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật làm cho lực
lượng sản xuất biến đổi nhanh chóng, trình độ quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày
càng cao, nên ở các nước có nhiều con đường hình thành các TĐKT: có thể từ
các công ty tư bản độc quyền, công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
các công ty thuộc sở hữu Nhà nước. Các TĐKT, từ chỗ làm chủ thị trường quốc
gia và khu vực đã vươn ra thị trường thế giới để hình thành các công ty xuyên
quốc gia, đó cũng là một xu thế phổ biến trong điều kiện quốc tế hoá đời sống
ngày càng được đẩy mạnh.
Các TĐKT mặc dù có những đặc thù do bối cảnh kinh tế và đặc điểm từng
quốc gia hay chế độ xã hội, song chúng vẫn có những đặc trưng chung mang
"dấu ấn của thời đại” nhất định.
1.2. Hình thức tổ chức và các đặc trƣng chủ yếu của TĐKT.
1.2.1. Hình thức tổ chức của TĐKT.
Hiện nay trên thế giới, các TĐKT phát triển hết sức đa dạng, phong phú,
việc xác định các hình thức tổ chức của TĐKT cũng dựa vào nhiều tiêu chí khác
12
nhau. Căn cứ vào phương thức hình thành và các nguyên tắc tổ chức có thể khái
quát thành 2 loại hình tổ chức cơ bản sau:
Hình thức thứ nhất: Bao gồm những TĐKT được thành lập và tổ chức
theo nguyên tắc "kết hợp chặt chẽ trong một tổ chức kinh tế" hay còn gọi là các
Tập đoàn "cứng". Trong các TĐKT dạng này, các công ty thành viên kết hợp
trong một tổ chức thống nhất, có mối liên kết chặt chẽ, tính độc lập của các
công ty thành viên bị giảm thiểu, chúng phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau trong
một thể thống nhất. Cơ sở kinh tế của mối liên hệ này là quyền sở hữu, giữa các
thành viên có sự nắm giữ cổ phiếu của nhau hoặc có một công ty mạnh nhất chi
tiêu thụ...
Về tổ chức, thường có ban quản trị chung điều hành các hoạt động phối
hợp của Tập đoàn theo một đường lối chung thống nhất, nhưng các công ty
thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về tổ chức sản xuất và thương mại của
mình.Về mặt lịch sử, hình thức liên kết này có từ rất sớm, từ khoảng thế kỷ
XIX.
1.2.2. Các đặc trưng chủ yếu của TĐKT.
1.2.2.1. Đặc trưng về quy mô của các TĐKT.
Một trong các đặc trưng căn bản của một TĐKT là quy mô lớn về vốn và
lao động. Để hình thành tập đoàn, vốn được tập trung huy động từ nhiều nguồn
khác nhau, tạo thuận lợi cho việc sử dụng, bảo toàn và phát triển nguồn vốn, đẩy
nhanh tích tụ và tập trung sản xuất, đồng thời nâng cao khả năng và vị thế của nó
trong các thương vụ cũng như trong việc chi phối và cạnh tranh trên thương
trường, do đó TĐKT thường có quy mô lớn và rất lớn. Mặt khác, ưu thế về tài
chính của tập đoàn còn được thể hiện rõ nét trong việc sử dụng nhiều loại tiền tệ
14
và nhiều loại hình thanh toán trong lưu thông, từ đó tạo nên một cơ chế vận hành
linh hoạt, mềm dẻo và thuận tiện trong việc quản lý tài chính.
Từ ưu thế rất lớn về vốn, tập đoàn có khả năng mở rộng nhanh chóng quy
mô sản xuất, kinh doanh, cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm, thoả mãn tối đa nhu cầu người tiêu dùng, do đó doanh thu của các tập
đoàn là cực lớn. (Xem phụ lục số 1).
Lực lượng lao động trong tập đoàn thường lớn về số lượng, mạnh về chất
lượng, được tuyển chọn và đào tạo chặt chẽ. Trong số 50 tập đoàn lớn nhất thế
giới 1997 về lao động (Theo Fortune August 3, 1998, F14) thì tập đoàn US
Postal service ( Mỹ) có số lao động được sử dụng lớn nhất là 890.301 người, tập
đoàn có số lượng lao động ít nhất là Philip Moris ( Mỹ) với 152.000 người. (Xem
đều ít nhiều hoạt động dưới hình thức TNCs và MNCs.
Phạm vi hoạt động đa quốc gia cho phép tập đoàn có thể đồng thời phát
huy tối đa khả năng và đạt được nhiều mục tiêu như: sử dụng các lợi thế so sánh
ở từng khu vực, tránh (hoặc “lách”) được các hàng rào thuế quan, tìm được các
“kẽ hở thị trường”, chiếm lĩnh tối đa thị trường “ngách”..., từ đó mở rộng, phát
triển thị phần tiêu thụ sản phẩm.
Vì vậy, ở hầu hết các tập đoàn luôn coi việc mở rộng phạm vi hoạt động là
một trong những mục tiêu hàng đầu của họ. Ví dụ: tập đoàn dầu lửa Anh - Hà lan
là Royal - Dutch Sell hiện nay có vốn đầu tư trong hơn 2000 công ty ở hơn 130
quốc gia, có 700.000 cổ đông ở khắp thế giới, liên doanh với hơn 1000 công ty
của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam [46].
16
Cùng với sự trưởng thành và phát triển nhanh chóng của các TĐKT, sự
cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Trong điều kiện đó, các
TĐKT trên thế giới đã và đang điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ
chỗ phân tán chuyển sang hợp tác, phân công quốc tế, liên kết ngang - dọc trong
một hệ thống phân công lao động chung làm cho cơ cấu tổ chức toàn cầu tương
ứng của tập đoàn ngày càng hoàn thiện. Trong chiến lược chiếm lĩnh và khai
thác thị trường quốc tế của các TĐKT, việc mở rộng quy mô bằng cắm nhánh,
mở rộng phạm vi hoạt động ở nhiều quốc gia trở thành giải pháp hữu hiệu để
tránh xu hướng giảm sút tỷ suất lợi nhuận đồng thời củng cố vị trí tập đoàn trên
trường quốc tế. Các TĐKT khổng lồ tạo ra mạng lưới dày đặc, lấy công ty mẹ
làm trung tâm, mở rộng ra khắp các hướng tạo ra hàng trăm ngàn công ty chi
nhánh ở khắp các nước trên thế giới.
1.2.2.3. Đặc trưng về chức năng ngành nghề.
TĐKT thường hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành hoặc phát triển
dần từ đơn ngành đến đa ngành, nhưng có thể thấy rõ mỗi tập đoàn đều có định
đóng tàu...[15, 61].
Đối với Hoa Kỳ và một số nước châu Âu, phương thức tác nghiệp của các
TĐKT lại bắt đầu từ các hoạt động sản xuất, rồi mở rộng hoạt động sang các lĩnh
vực khác như thương mại, vận tải, bảo hiểm, ngân hàng....
Có nhiều lý do để các TĐKT chuyển từ kinh doanh đơn ngành sang kinh
doanh đa ngành, song chủ yếu là để hạn chế rủi ro, phân tán rủi ro, tối đa hoá lợi
nhuận. Sự bành trướng bằng hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực của các TĐKT sẽ
tận dụng tối đa cơ sở vật chất kỹ thuật và khả năng sản xuất kinh doanh, phát huy
18
lợi thế về vốn, khoa học, nguồn nhân lực,... của tập đoàn để có lợi nhuận cao
nhất.
1.2.2.4. Đặc trưng về cấu trúc tổ chức quản lý.
a. Về cơ cấu tổ chức TĐKT.
Với đặc thù là một tổ hợp các công ty, bao gồm : công ty mẹ và các công
ty con, cháu, trong đó công ty mẹ sở hữu vốn đồng thời chi phối sự hoạt động
của các công ty con, công ty cháu về tài chính và chiến lược phát triển.
Từ đó có thể khẳng định: sở hữu vốn của các TĐKT là sở hữu hỗn hợp trong đó
quyền chi phối, khống chế về tài chính thuộc về công ty mẹ.
Cơ cấu tổ chức chung của TĐKT có thể khái quát qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 1: SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CHUNG CỦA MÔ HÌNH TĐKT.
19
Trong cơ cấu tổ chức này thì công ty con - Subsidiary (có thể ở trong nước
hoặc ở nước ngoài): Là những công ty trong tập đoàn có tư cách pháp nhân
riêng, trong đó một phần đáng kể vốn cổ phần thuộc quyền sở hữu công ty mẹ
và dịch vụ liên quan với nhau. Kiểu cấu trúc này xuất hiện cuối thập kỷ 60 dựa
trên cơ sở tập hợp các đơn vị cùng một ngành hàng trong từng khu vực đặt dưới
sự điều hành của cùng một giám đốc khu vực (có nghĩa là đặt thêm một nấc quản
trị vào giữa giám đốc đơn vị với văn phòng tổng giám đốc).
Thứ tư, mô hình tổ chức theo ma trận: Mô hình này được áp dụng phổ
biến trong các Concern từ những năm 70 cho đến nay, nhiều nhất là các tập đoàn
của Đức. Cấu trúc ma trận có hai hệ thống chỉ huy cặp đôi: theo chức năng và
theo mặt hàng hoặc theo khu vực..., trong đó bao trùm lên các ngành chức năng
là các nhà quản trị trung gian chịu trách nhiệm về những mặt hàng cụ thể, về một
dự án hoặc một chương trình của tập đoàn...
Thứ năm, mô hình tổ chức đa dạng: Là loại tổ chức không giới hạn trong
việc sử dụng một loại cơ cấu riêng lẻ. Nhà quản trị có quyền tự do sử dụng và có
thể kết hợp tất cả các loại cấu trúc trên đây nhằm làm thích ứng các bộ phận khác
nhau của tổ chức với các điều kiện khác nhau của môi trường kinh doanh.
Đây là kiểu cấu trúc phức tạp nhưng khá uyển chuyển và mang lại hiệu
quả cao, đặc biệt là đối với các Tập đoàn lớn, dạng Conglomerate. Do vậy nó
thường được các TĐKT khổng lồ trên thế giới sử dụng.
b. Về dạng thức quản lý.
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, với những biến đổi sâu sắc về mọi
mặt của tình hình kinh tế - chính trị - xã hội toàn thế giới, các TĐKT, đặc biệt là
các TĐKT xuyên quốc gia đã phát triển hết sức sôi động. Dựa trên qui mô và
21
mức độ tập trung hoá các nguồn lực trong một thực thể kinh doanh và sự phân
chia quyền lực, có thể chia thể chế tổ chức quản lý của TĐKT thành 3 loại: Thể
chế " trung tâm nhất nguyên", thẳng đứng kiểu "kim tự tháp"; Thể chế "đa trung
tâm", nằm ngang "kiểu màng lưới"; Thể chế " nhị nguyên".
Về thể chế "trung tâm nhất nguyên":
Các hình thức tồn tại chủ yếu của mô hình thể chế quản lý “kiểu màng
lưới”:
Một là, dạng thức quản lý theo "quá trình nằm ngang":
Nội dung cơ bản của kết cấu tổ chức quản lý theo quá trình nằm ngang là
việc tập hợp những viên chức có kỹ năng khác nhau vào một “tế bào sản xuất”
(Cell Manufactuaring) hay một “đội mặt ngang” (Flatform Teams) để họ thấy
được đầy đủ mục tiêu của một quá trình tác nghiệp. Từ đó, họ tự quản lý sản
xuất, phát huy cao độ tinh thần hợp tác và ưu thế của một tập thể hoàn chỉnh để
giành thắng lợi trong cạnh tranh. Dạng thức này được áp dụng phổ biến ở các
TĐKT của Mỹ như: Tập đoàn ITT, Greisler, General Electric,...
Dạng thức này được xây dựng nhằm mục tiêu khắc phục những khuyết tật
của kết cấu kiểu kim tự tháp. Nó giảm bớt nhiều tầng cấp và chuyển từ việc lấy
chức năng công việc làm hạt nhân, sang lấy quá trình làm hạt nhân để tổ chức
nhân viên.
Hai là, dạng thức quản lý “kiểu tế bào sản xuất”:
Trong dạng thức này, công nhân được phân chia từng kíp, thường từ 2 đến
50 người, tập hợp quanh trang thiết bị họ cần đến. Một tế bào có thể chế tạo,
kiểm tra và thậm chí hoàn thành toàn bộ một sản phẩm. Mỗi công nhân có thể
23
làm nhiều việc và mỗi tế bào chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm. Tế bào
sản xuất là một quá trình hẹp, và thuần tuý tập trung trên sàn máy.
Mỗi tế bào làm một sản phẩm khác nhau. Nếu xảy ra rủi ro thì chỉ ảnh
hưởng đến tế bào “đương sự”. Thế mạnh của dạng thức quản lý này là tốc độ,
năng suất, tính linh hoạt và chất lượng cao, công nhân làm việc thoải mái và ý
thức đầy đủ quá trình sản xuất và vị trí công việc của mình. Kết quả là chất
lượng sản phẩm tốt hơn với sản lượng ngày càng lớn. Đây là dạng thức quản lý
điển hình của một số TĐKT lớn của Nhật Bản như: Sony, Mazda,....