Một số vấn đề về tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ PHAN MINH TUẤN Một số vấn đề về tập đoàn kinh tế nhà nước
ở Việt Nam hiện nay LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

2.1. Chủ trương và quá trình hình thành Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam.
53
2.2. Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam.
57
2.3. Thực trạng hoạt động của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam.
64
2.4. Đánh giá một số thành tựu và hạn chế.
75
Chương 3: Quan điểm, nguyên tắc và giải pháp phát triển Tập đoàn kinh tế ở
Việt Nam.

86
3.1. Quan điểm, chủ trương về sự cần thiết xây dựng, phát triển Tập đoàn kinh tế.
86
3.2. Những nguyên tắc và phướng xây dựng và phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam.

95
3.3. Những giải pháp cơ bản xây dựng và phát triển các Tập đoàn kinh tế ở Việt
Nam.

102
KẾT LUẬN
119

2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CNH : Công nghiệp hoá.
2. CNTB : Chủ nghĩa tư bản.

nhau của các công ty xuyên quốc gia (TransNationlCoporations - TNCs) như:
Tập đoàn sản xuất (Thái Lan); CheeBol (Hàn Quốc) thời gian qua không
những mang đậm nét đặc trưng của thời đại làm tăng nhanh qúa trình toàn cầu
hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế giới, mà còn phản ánh trình độ tăng nhanh của
sản xuất kinh doanh, khả năng kinh doanh xuất khẩu và đầu tư, mở rộng thương
mại quốc tế, làm cho nền kinh tế quốc gia thích ứng với sự phát triển của sức sản
xuất xã hội.
Trong xu thế hội nhập và phát triển, đổi mới để đứng vững và từng bước
thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Việt Nam muốn tham gia vào
hoạt động hợp tác quốc tế ngày càng sâu, rộng, tất yếu và cần thiết phải xây
dựng các Tập đoàn kinh tế mạnh và tiến tới thành lập TNCs của mình.
Quá trình thành lập các Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam được đánh
dấu bằng Quyết định 91/TTg ngày 07/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là
một bộ phận quan trọng của quá trình đổi mới, tổ chức và sắp xếp lại các doanh
nghiệp Nhà nước theo hướng hình thành các tổ chức kinh tế mạnh của Nhà nước.
Cho đến nay, mặc dù đạt được một số thành tựu nhất định như: hoàn
thành nghĩa vụ nộp ngân sách, ổn định việc làm cho người lao động, nâng cao
đời sống cán bộ công nhân viên, tích cực tham gia thực hiện các chính sách xã

4
hội Tuy nhiên, trên thực tế khách quan cần thấy rằng các TĐKT Nhà nước
chưa thực sự là một thực thể kinh tế thống nhất, chưa phát huy sức mạnh tổng
hợp toàn Tập đoàn, chưa khắc phục tình trạng rời rạc của các doanh nghiệp
thành viên bằng cơ chế, tổ chức và điều hành. Vì vậy việc thành lập các TĐKT
Nhà nước chưa đạt mục tiêu đề ra là tạo sự liên kết kinh tế, gắn bó lợi ích và thị
trường, là trụ cột đồng thời tạo “quả đấm thép” làm đối trọng trong quan hệ kinh
tế quốc tế.
Việc xây dựng và phát triển các TĐKT Nhà nước là một lĩnh vực mới mẻ
đối với Việt Nam cả trên giác độ lý luận và thực tiễn. Và hướng đi nào cho các
Tổng công ty theo mô hình TĐKT trong những năm tới để nó thực sự giữ vững

Dựa trên những luận cứ khoa học ở trong nước, ngoài nước và quan điểm
của Đảng ta về TĐKT, đề tài góp phần phác thảo những đặc trưng cơ bản của mô
hình TĐKT ở Việt Nam, thực trạng và xu hướng phát triển của chúng, từ đó đề
xuất một số giải pháp chủ yếu để xây dựng, hoàn thiện và định hình một xu
hướng phát triển có tính quy luật của các TĐKT ở Việt Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được những mục đích trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ chủ
yếu sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự hình thành và phát
triển TĐKT.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các TĐKT Nhà nước ở Việt
Nam.

6
- Luận chứng những phương hướng, quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm
củng cố, tổ chức lại các TĐKT ở Việt Nam trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Các vấn đề lý luận và thực tiễn của
sự hình thành, phát triển TĐKT và một số vấn đề đặt ra cho sự hình thành và
phát triển TĐKT ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Trên thực tế, có thể có nhiều loại hình
tổ chức kinh doanh, Tổng công ty phát triển theo hướng TĐKT, song, các TĐKT
được đề cập trong luận văn này là các TĐKT Nhà nước (các Tổng công ty Nhà
nước được thành lập theo Quyết định 91/TTg hay còn gọi tắt là Tổng công ty
91). Tuy nhiên, do mối quan hệ biện chứng của các quan hệ kinh tế nên trong
luận văn này cũng đề cập ở một mức độ nhất định một số Tổng công ty được
thành lập theo quyết định 90/TTg (gọi tắt là Tổng công ty 90).
Đề tài thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị nên chỉ tập trung vào các xu
hướng vận động có tính quy luật, những quan điểm có tính chất định hướng phát
8
NỘI DUNG

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

Trong thời đại mở rộng nhanh chóng của quá trình toàn cầu hoá kinh tế như
hiện nay, tất cả các quốc gia đều bị cuốn hút vào hệ thống phân công lao động
quốc tế. Việc tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh theo các chuẩn mực
quốc tế, đặc biệt tổ chức các công ty theo các mẫu hình có hiệu quả như kiểu
công ty mẹ - công ty con đang được cả giới lý luận và hoạt động thực tiễn quan
tâm. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, sự phân tích được bắt đầu từ nhận diện chúng
qua khái niệm.
1.1. Khái niệm về Tập đoàn kinh tế.
TĐKT xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi CNTB chuyển từ
giai đoạn tự do cạnh tranh sang độc quyền. Cho đến nay, các TĐKT trên thế giới
tồn tại dưới nhiều hình thức kinh doanh theo kiểu các nhóm công ty xí nghiệp
lớn hoạt động trên phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia. Chúng là những công
ty mạnh về tài chính với doanh số hàng năm từ vài trăm triệu đến vài trăm tỷ

độc lập, các tổ chức và các chính phủ, hợp lại với nhau để tập trung các tài
nguyên và kỹ thuật của mình để đảm trách một công trình nhất định như một
chương trình xây dựng lớn hoặc sản xuất máy bay” [34].
- Quan điểm thứ năm: TĐKT là một thực thể kinh tế thực hiện sự liên kết
kinh tế giữa các thành viên là các DN có quan hệ với nhau về công nghệ và lợi

10
ích được gọi bằng các tên khác nhau như: Hiệp hội, LHXN, tổng công ty theo
mô hình tập đoàn, Tập đoàn kinh doanh, Tập đoàn kinh tế Nhà nước [33, 5].
- Quan điểm thứ sáu: Một số nhà kinh tế và một số DN ở nước ta quan
niệm như sau: “ Tập đoàn các DN - thường gọi là TĐKT hay TĐKD, là một
hình thức tổ chức kinh tế chỉ hình thành và tồn tại trong các nền kinh tế thị
trường. Nó là một loại hình tổ chức kinh tế cổ phần được hình thành trong quá
trình tạo liên kết, liên hợp hoá của nhiều công ty, xí nghiệp của nhiều chủ sở hữu
khác nhau, hoạt động kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành, thực hiện tập
trung hoá tư bản, đẩy mạnh phân công chuyên môn hoá và đầu tư theo chiều sâu,
nhanh chóng đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh
tranh để giành lợi nhuận siêu ngạch từ lợi thế hoặc độc quyền” [37].
Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi mô hình kế hoạch hoá tập trung
kiểu quan liêu bao cấp sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô (cũ), các nước XHCN đều
tiến hành đổi mới kinh tế theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, hình thức kinh doanh kiểu Tập đoàn ra đời: "Đó là một kiểu liên
hợp các DN do một số pháp nhân thành lập và có cơ cấu tổ chức bao gồm một
công ty mẹ và các công ty con được thành lập trên cơ sở một DN lớn làm nòng
cốt và kết hợp một số DN khác có quan hệ góp vốn và quan hệ trong quá trình
sản xuất, kỹ thuật, hợp đồng, vv " [7].
Như vậy, cho đến nay, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về TĐKT. Có
nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản là do có những sự khác nhau về phương thức
hình thành, nguyên tắc tổ chức, và tư cách pháp nhân của TĐKT. Có Tập đoàn
được thành lập trên cơ sở như một hình thức tổ chức kinh tế lỏng lẻo, các công ty

12
trong đó có "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các
"công ty con" về mặt tài chính và chiến lược phát triển.
Khái quát này đã phản ánh được những đặc trưng cơ bản của TĐKT: Về
quy mô, TĐKT phải là một tập hợp những công ty mạnh có vốn lớn, nhiều công
nhân, trình độ năng lực sản xuất kinh doanh cao; Về phạm vi hoạt động, nó có
thể là ở một nước (phạm vi quốc gia) hay vượt khỏi phạm vi một nước( xuyên
quốc gia - phạm vi quốc tế); Về chức năng ngành nghề, nó có thể kinh doanh
chuyên sâu một ngành hoặc đa ngành; Về cơ cấu tổ chức, TĐKT phải là một tổ
hợp bao gồm công ty mẹ và các công ty con, cháu, chi nhánh tồn tại dưới nhiều
hình thức khác nhau.
Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật làm cho lực
lượng sản xuất biến đổi nhanh chóng, trình độ quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày
càng cao, nên ở các nước có nhiều con đường hình thành các TĐKT: có thể từ
các công ty tư bản độc quyền, công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
các công ty thuộc sở hữu Nhà nước. Các TĐKT, từ chỗ làm chủ thị trường quốc
gia và khu vực đã vươn ra thị trường thế giới để hình thành các công ty xuyên
quốc gia, đó cũng là một xu thế phổ biến trong điều kiện quốc tế hoá đời sống
ngày càng được đẩy mạnh.
Các TĐKT mặc dù có những đặc thù do bối cảnh kinh tế và đặc điểm từng
quốc gia hay chế độ xã hội, song chúng vẫn có những đặc trưng chung mang
"dấu ấn của thời đại” nhất định.
1.2. Hình thức tổ chức và các đặc trƣng chủ yếu của TĐKT.
1.2.1. Hình thức tổ chức của TĐKT.
Hiện nay trên thế giới, các TĐKT phát triển hết sức đa dạng, phong phú,
việc xác định các hình thức tổ chức của TĐKT cũng dựa vào nhiều tiêu chí khác

13
nhau. Căn cứ vào phương thức hình thành và các nguyên tắc tổ chức có thể khái
quát thành 2 loại hình tổ chức cơ bản sau:

hợp tác, những hiệp ước hay hợp đồng kinh tế tuân theo nguyên tắc "liên kết
kinh tế" hay còn gọi là TĐKT hình thành theo kiểu"liên kết mềm". Các công ty
thành viên ký hợp đồng thoả thuận với nhau về những nguyên tắc chung trong
hoạt động sản xuất kinh doanh như : Xác định quy mô sản xuất; hợp tác nghiên
cứu và trao đổi bằng phát minh sáng chế kỹ thuật; quy định giá cả; thị trường
tiêu thụ
Về tổ chức, thường có ban quản trị chung điều hành các hoạt động phối
hợp của Tập đoàn theo một đường lối chung thống nhất, nhưng các công ty
thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về tổ chức sản xuất và thương mại của
mình.Về mặt lịch sử, hình thức liên kết này có từ rất sớm, từ khoảng thế kỷ
XIX.
1.2.2. Các đặc trưng chủ yếu của TĐKT.
1.2.2.1. Đặc trưng về quy mô của các TĐKT.
Một trong các đặc trưng căn bản của một TĐKT là quy mô lớn về vốn và
lao động. Để hình thành tập đoàn, vốn được tập trung huy động từ nhiều nguồn
khác nhau, tạo thuận lợi cho việc sử dụng, bảo toàn và phát triển nguồn vốn, đẩy
nhanh tích tụ và tập trung sản xuất, đồng thời nâng cao khả năng và vị thế của nó
trong các thương vụ cũng như trong việc chi phối và cạnh tranh trên thương
trường, do đó TĐKT thường có quy mô lớn và rất lớn. Mặt khác, ưu thế về tài
chính của tập đoàn còn được thể hiện rõ nét trong việc sử dụng nhiều loại tiền tệ

15
và nhiều loại hình thanh toán trong lưu thông, từ đó tạo nên một cơ chế vận hành
linh hoạt, mềm dẻo và thuận tiện trong việc quản lý tài chính.
Từ ưu thế rất lớn về vốn, tập đoàn có khả năng mở rộng nhanh chóng quy
mô sản xuất, kinh doanh, cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm, thoả mãn tối đa nhu cầu người tiêu dùng, do đó doanh thu của các tập
đoàn là cực lớn. (Xem phụ lục số 1).
Lực lượng lao động trong tập đoàn thường lớn về số lượng, mạnh về chất
lượng, được tuyển chọn và đào tạo chặt chẽ. Trong số 50 tập đoàn lớn nhất thế

đa hoá lợi nhuận. Cho đến nay đại đa số các TĐKT của các nước trên thế giới
đều ít nhiều hoạt động dưới hình thức TNCs và MNCs.
Phạm vi hoạt động đa quốc gia cho phép tập đoàn có thể đồng thời phát
huy tối đa khả năng và đạt được nhiều mục tiêu như: sử dụng các lợi thế so sánh
ở từng khu vực, tránh (hoặc “lách”) được các hàng rào thuế quan, tìm được các
“kẽ hở thị trường”, chiếm lĩnh tối đa thị trường “ngách” , từ đó mở rộng, phát
triển thị phần tiêu thụ sản phẩm.
Vì vậy, ở hầu hết các tập đoàn luôn coi việc mở rộng phạm vi hoạt động là
một trong những mục tiêu hàng đầu của họ. Ví dụ: tập đoàn dầu lửa Anh - Hà lan
là Royal - Dutch Sell hiện nay có vốn đầu tư trong hơn 2000 công ty ở hơn 130
quốc gia, có 700.000 cổ đông ở khắp thế giới, liên doanh với hơn 1000 công ty
của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam [46].

17
Cùng với sự trưởng thành và phát triển nhanh chóng của các TĐKT, sự
cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Trong điều kiện đó, các
TĐKT trên thế giới đã và đang điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ
chỗ phân tán chuyển sang hợp tác, phân công quốc tế, liên kết ngang - dọc trong
một hệ thống phân công lao động chung làm cho cơ cấu tổ chức toàn cầu tương
ứng của tập đoàn ngày càng hoàn thiện. Trong chiến lược chiếm lĩnh và khai
thác thị trường quốc tế của các TĐKT, việc mở rộng quy mô bằng cắm nhánh,
mở rộng phạm vi hoạt động ở nhiều quốc gia trở thành giải pháp hữu hiệu để
tránh xu hướng giảm sút tỷ suất lợi nhuận đồng thời củng cố vị trí tập đoàn trên
trường quốc tế. Các TĐKT khổng lồ tạo ra mạng lưới dày đặc, lấy công ty mẹ
làm trung tâm, mở rộng ra khắp các hướng tạo ra hàng trăm ngàn công ty chi
nhánh ở khắp các nước trên thế giới.
1.2.2.3. Đặc trưng về chức năng ngành nghề.
TĐKT thường hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành hoặc phát triển
dần từ đơn ngành đến đa ngành, nhưng có thể thấy rõ mỗi tập đoàn đều có định
hướng chủ đạo vào lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc trưng của

vực khác như thương mại, vận tải, bảo hiểm, ngân hàng
Có nhiều lý do để các TĐKT chuyển từ kinh doanh đơn ngành sang kinh
doanh đa ngành, song chủ yếu là để hạn chế rủi ro, phân tán rủi ro, tối đa hoá lợi
nhuận. Sự bành trướng bằng hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực của các TĐKT sẽ
tận dụng tối đa cơ sở vật chất kỹ thuật và khả năng sản xuất kinh doanh, phát huy

19
lợi thế về vốn, khoa học, nguồn nhân lực, của tập đoàn để có lợi nhuận cao
nhất.
1.2.2.4. Đặc trưng về cấu trúc tổ chức quản lý.
a. Về cơ cấu tổ chức TĐKT.
Với đặc thù là một tổ hợp các công ty, bao gồm : công ty mẹ và các công
ty con, cháu, trong đó công ty mẹ sở hữu vốn đồng thời chi phối sự hoạt động
của các công ty con, công ty cháu về tài chính và chiến lược phát triển.
Từ đó có thể khẳng định: sở hữu vốn của các TĐKT là sở hữu hỗn hợp trong đó
quyền chi phối, khống chế về tài chính thuộc về công ty mẹ.

Cơ cấu tổ chức chung của TĐKT có thể khái quát qua sơ đồ sau:

SƠ ĐỒ 1: SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CHUNG CỦA MÔ HÌNH TĐKT.


Thứ hai, mô hình tổ chức theo đơn vị kinh doanh chiến lược: Ở mô hình
này, tập đoàn được tổ chức theo các nhóm thị trường - sản phẩm. Nó thích hợp

21
với các TĐKT có các hoạt động đa dạng. Hiện nay được một số tập đoàn áp
dụng khá thành công như: Generel Electric, Generel Foods, Armco Stell
Thứ ba, mô hình tổ chức theo khu vực: Cấu trúc khu vực là một cơ chế
phối hợp hữu hiệu để tập trung các đơn vị khác nhau của tập đoàn có sản phẩm
và dịch vụ liên quan với nhau. Kiểu cấu trúc này xuất hiện cuối thập kỷ 60 dựa
trên cơ sở tập hợp các đơn vị cùng một ngành hàng trong từng khu vực đặt dưới
sự điều hành của cùng một giám đốc khu vực (có nghĩa là đặt thêm một nấc quản
trị vào giữa giám đốc đơn vị với văn phòng tổng giám đốc).
Thứ tư, mô hình tổ chức theo ma trận: Mô hình này được áp dụng phổ
biến trong các Concern từ những năm 70 cho đến nay, nhiều nhất là các tập đoàn
của Đức. Cấu trúc ma trận có hai hệ thống chỉ huy cặp đôi: theo chức năng và
theo mặt hàng hoặc theo khu vực , trong đó bao trùm lên các ngành chức năng
là các nhà quản trị trung gian chịu trách nhiệm về những mặt hàng cụ thể, về một
dự án hoặc một chương trình của tập đoàn
Thứ năm, mô hình tổ chức đa dạng: Là loại tổ chức không giới hạn trong
việc sử dụng một loại cơ cấu riêng lẻ. Nhà quản trị có quyền tự do sử dụng và có
thể kết hợp tất cả các loại cấu trúc trên đây nhằm làm thích ứng các bộ phận khác
nhau của tổ chức với các điều kiện khác nhau của môi trường kinh doanh.
Đây là kiểu cấu trúc phức tạp nhưng khá uyển chuyển và mang lại hiệu
quả cao, đặc biệt là đối với các Tập đoàn lớn, dạng Conglomerate. Do vậy nó
thường được các TĐKT khổng lồ trên thế giới sử dụng.
b. Về dạng thức quản lý.
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, với những biến đổi sâu sắc về mọi
mặt của tình hình kinh tế - chính trị - xã hội toàn thế giới, các TĐKT, đặc biệt là
các TĐKT xuyên quốc gia đã phát triển hết sức sôi động. Dựa trên qui mô và


chéo kiểu “rẻ quạt”. Mục tiêu của nó không chỉ quản lý việc kinh doanh, tiêu thụ,
quản lý nhân viên mà còn cả việc thiết kế hình tượng, xây dựng những nét đặc
thù văn hoá của xí nghiệp. Mục tiêu tối thượng của thể chế “kiểu màng lưới” là
huy động có hiệu quả nhất tài năng và ưu thế của mỗi người trong Tập đoàn .
Các hình thức tồn tại chủ yếu của mô hình thể chế quản lý “kiểu màng
lưới”:
Một là, dạng thức quản lý theo "quá trình nằm ngang":
Nội dung cơ bản của kết cấu tổ chức quản lý theo quá trình nằm ngang là
việc tập hợp những viên chức có kỹ năng khác nhau vào một “tế bào sản xuất”
(Cell Manufactuaring) hay một “đội mặt ngang” (Flatform Teams) để họ thấy
được đầy đủ mục tiêu của một quá trình tác nghiệp. Từ đó, họ tự quản lý sản
xuất, phát huy cao độ tinh thần hợp tác và ưu thế của một tập thể hoàn chỉnh để
giành thắng lợi trong cạnh tranh. Dạng thức này được áp dụng phổ biến ở các
TĐKT của Mỹ như: Tập đoàn ITT, Greisler, General Electric,
Dạng thức này được xây dựng nhằm mục tiêu khắc phục những khuyết tật
của kết cấu kiểu kim tự tháp. Nó giảm bớt nhiều tầng cấp và chuyển từ việc lấy
chức năng công việc làm hạt nhân, sang lấy quá trình làm hạt nhân để tổ chức
nhân viên.
Hai là, dạng thức quản lý “kiểu tế bào sản xuất”:
Trong dạng thức này, công nhân được phân chia từng kíp, thường từ 2 đến
50 người, tập hợp quanh trang thiết bị họ cần đến. Một tế bào có thể chế tạo,
kiểm tra và thậm chí hoàn thành toàn bộ một sản phẩm. Mỗi công nhân có thể

24
làm nhiều việc và mỗi tế bào chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm. Tế bào
sản xuất là một quá trình hẹp, và thuần tuý tập trung trên sàn máy.
Mỗi tế bào làm một sản phẩm khác nhau. Nếu xảy ra rủi ro thì chỉ ảnh
hưởng đến tế bào “đương sự”. Thế mạnh của dạng thức quản lý này là tốc độ,
năng suất, tính linh hoạt và chất lượng cao, công nhân làm việc thoải mái và ý
thức đầy đủ quá trình sản xuất và vị trí công việc của mình. Kết quả là chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status