MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài: Trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở
Việt Nam hiện nay được thực hiện dưới góc độ khoa học chuyên ngành Chủ
nghĩa xã hội khoa học. Đây là công trình nghiên cứu dựa trên hệ thống
những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa, quan điểm chủ trương của Đảng Cộng
sản Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội, về xây dựng và phát triển giai
cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Trong quá trình triển khai công trình này, tác giả đã tham
khảo kết quả nghiên cứu của nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước
có liên quan; các quyết định, nghị định của Chính phủ, báo cáo của Ban
Chấp hành Công đoàn các tập đoàn kinh tế nhà nước tại đại hội ngành
nhiệm kỳ 2013 – 2018 và số liệu khảo sát thực tiễn của tác giả tại một số tập
đoàn kinh tế nhà nước để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra.
Nội dung cơ bản của luận án là luận giải quan niệm, vai trò và đặc
điểm trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt
Nam; đánh giá thực trạng, rút ra một số vấn đề cần giải quyết; dự báo xu
hướng trí thức hoá công nhân và xác định định hướng, giải pháp cơ bản đẩy
mạnh trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt
Nam hiện nay.
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Sự ra đời, phát triển của giai cấp công nhân luôn gắn liền với sự phát
triển của đại công nghiệp, của khoa học kỹ thuật, công nghệ và các điều kiện
kinh tế - xã hội khác. Đại công nghiệp, khoa học, kỹ thuật, công nghệ càng
phát triển, thì giai cấp công nhân càng phát triển, đó là một tất yếu khách
quan. Bước sang thế kỷ XXI, trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của “Văn minh trí tuệ”, “Kinh tế tri
thức” và xu hướng toàn cầu hoá đang đặt ra cho giai cấp công nhân và sứ
mệnh của nó nhiều vấn đề mới, phức tạp, trong đó có vấn đề “trí thức hoá
công nhân”.
định đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, kinh doanh, cũng như xây dựng
các tập đoàn kinh tế nhà nước bền vững, hiện đại.
Hơn nữa, dư chấn và tác động tiêu cực do sự sụp đổ của chủ nghĩa xã
hội ở Liên Xô và Đông Âu những năm 80 của thế kỷ XX, diễn biến phức tạp
của tình hình thế giới những năm gần đây đang đặt ra cho nhân loại tiến bộ
thử thách to lớn. Việt Nam trong đổi mới đất nước vẫn kiên trì sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân, lãnh đạo cách mạng Việt Nam thông qua đội tiền
phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời Đảng ta cũng xác định, tập
đoàn kinh tế nhà nước là nòng cốt của kinh tế nhà nước và kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân Đây là hai vấn đề lớn có tính
nguyên tắc, luôn gắn bó chặt chẽ với nhau và cùng nảy sinh những yêu cầu
khách quan về xây dựng, phát triển giai cấp công nhân Việt Nam, trong đó
có chủ trương trí thức hoá công nhân.
Cho đến nay, đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu và giải quyết ở
các khía cạnh khác nhau về trí thức hoá công nhân, nhưng chưa có một công
trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ chính trị -
2
xã hội về trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt
Nam. Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: Trí thức hoá công nhân
trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay làm luận án tiến
sĩ. Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vừa cấp bách, vừa cơ bản,
lâu dài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất định hướng, giải pháp cơ
bản đẩy mạnh trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở
Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về trí thức hoá công
nhân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
Luận án được thực hiện dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng các phương pháp cụ
thể: lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, kết hợp với sử dụng phương
pháp điều tra xã hội học, quan sát, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn và
phương pháp tham vấn chuyên gia để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên
cứu liên quan đến trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà
nước ở Việt Nam.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Xây dựng quan niệm, làm rõ vai trò, đặc điểm trí thức hoá công
nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam;
- Chỉ ra những vấn đề cấp bách cần giải quyết nhằm đẩy mạnh trí thức
hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất giải pháp cơ bản đẩy mạnh trí thức hoá công nhân trong các
tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
- Luận án khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác -
Lênin về giai cấp công nhân, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ; góp
phần đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin
trong giai đoạn hiện nay.
- Luận án góp phần cung cấp những luận chứng khoa học cho các
hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của các chủ thể trong đẩy mạnh trí thức hoá
công nhân Việt Nam nói chung và trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn
kinh tế nhà nước ở Việt Nam nói riêng.
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho giảng dạy, học
tập và nghiên cứu về giai cấp công nhân và những nội dung có liên quan.
8. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, kiến nghị,
danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến
đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
4
báo, Sự chuyển biến mang tính lịch sử về hình thái tổ chức của Đảng Cộng
sản ở các nước tư bản chủ nghĩa…
Một số công trình khoa học của tác giả là người Việt Nam bàn về giai
cấp công nhân và trí thức hoá công nhân: PGS,TS Nguyễn Thị Quế, PGS,TS
Nguyễn Hoàng Giáp (đồng chủ biên, 2010) cuốn sách, Giai cấp công nhân
ở các nước tư bản phát triển từ sau chiến tranh lạnh đến nay - Thực trạng
và triển vọng; GS,TS Hoàng Chí Bảo, PGS,TS Nguyễn Viết Thông, PGS,TS
Bùi Đình Bôn (đồng chủ biên, 2010) cuốn sách, Một số vấn đề phát triển lý
5
luận về giai cấp công nhân trong điều kiện kinh tế thị trường đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế; PGS,TS Nguyễn Đức
Bách (2010), Nhận thức đúng luận điểm của Ph.Ăngghen về “Giai cấp vô
sản lao động trí óc” vận dụng vào Việt Nam trong thời đại hiện nay;
PGS,TS Cao Văn Lượng (2001), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát
triển giai cấp công nhân; PGS,TS Phan Thanh Khôi (2003), Ý thức chính trị
của công nhân trong một số doanh nghiệp ở Hà Nội hiện nay (sách tham
khảo); Chuyên đề: Đánh giá vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Trí thức hoá
công nhân một số vấn đề lý luận và thực tiễn; Nội dung và chủ thể, quan
điểm và giải pháp trí thức hoá công nhân ở nước ta hiện nay…; PGS,TS
Dương Xuân Ngọc (2004), Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; TS Đặng Ngọc Tùng (chủ biên),
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011-2020; TS Lê Thanh
Hà (2012), Trí thức hoá công nhân và nhiệm vụ của công đoàn; TS Bùi Thị
Kim Hậu (2012), Trí thức hoá công nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay; GS Văn Tạo (2007), Giai cấp công nhân Việt Nam với
kinh tế tri thức; Đổi mới tư duy về giai cấp công nhân; Kinh tế tri thức và
công nhân tri thức (2008); Phạm Ngọc Dũng (2006), Tri thức hoá công
nhân Việt Nam; Trí thức hoá công nhân - Một nội dung quan trọng trong
xây dựng giai cấp công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
- Các công trình khoa học nghiên cứu về giai cấp công nhân khá
phong phú, toàn diện và đưa ra được những nhận định xác đáng về họ. Sự
phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại và nền kinh tế tri thức
đã làm cho “diện mạo” của giai cấp công nhân hiện nay có nhiều thay đổi.
Theo đó, cơ cấu công nhân truyền thống, công nhân lao động cơ bắp giảm,
công nhân thuộc các ngành nghề kỹ thuật, công nghệ cao, công nhân lao
động trí tuệ tăng. Muốn phát triển công nhân trí thức phải tiến hành trí thức
hoá công nhân, phát triển giáo dục và đào tạo, ứng dụng khoa học và công
nghệ vào sản xuất và có cơ chế, chính sách khuyến khích, động viên công
nhân tự học, tự rèn… Quá trình nghiên cứu cho thấy, ở một bộ phận công
nhân, khi trình độ học vấn, tri thức, chuyên môn nghề nghiệp được nâng lên
thì ý thức chính trị, giác ngộ giai cấp và khả năng đoàn kết hành động tập
thể của họ lại có xu hướng giảm sút… Đó là “tình huống có vấn đề”, đòi hỏi
phải nghiên cứu về giai cấp công nhân nói chung và trí thức hoá công nhân
nói riêng một cách khách quan, nghiêm túc trong tình hình mới.
- Trực tiếp liên quan đến trí thức hoá công nhân, các công trình khoa
học cho rằng, trí thức hoá công nhân nói chung, trí thức hoá công nhân Việt
Nam nói riêng là vấn đề tất yếu, điều kiện cơ bản để thực hiện thắng lợi sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Khi khoa học kỹ thuật,
công nghệ phát triển và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, giai cấp công
nhân không ngừng phát triển về số lượng ngày càng được trí thức hoá. Giai
7
cấp công nhân được trí thức hoá nhưng không làm thay đổi bản chất cách
mạng và sứ mệnh lịch sử của họ…
Nhìn chung, các công trình khoa học đã nghiên cứu khá toàn diện về
trí thức hoá công nhân, đưa ra khái niệm, xác định mục đích, chủ thể, đối
tượng, nội dung, phương thức để thực hiện. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những
nghiên cứu ban đầu mang ý nghĩa khám phá, mở ra hướng nghiên cứu tiếp
theo có tính chuyên sâu. Những công trình khoa học trên sẽ là tài liệu quý để
TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Quan niệm trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế
nhà nước ở Việt Nam
1.1.1. Quan niệm trí thức hoá công nhân
Nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức hoá công nhân, có
thể quan niệm rằng: Trí thức hoá công nhân Việt Nam là xu thế khách quan,
là quá trình hoạt động tích cực, chủ động, tự giác của các chủ thể tác động
vào công nhân, nhằm làm cho các phẩm chất và năng lực của họ được tiếp
nhận những thuộc tính tích cực của trí thức để chuyển hoá lên trình độ mới,
chất lượng mới, mà trước hết là nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ
năng nghề nghiệp, ý thức chính trị, tác phong lao động khoa học và sáng
tạo, góp phần phát triển giai cấp công nhân Việt Nam đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Thực chất trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế
nhà nước ở Việt Nam
Từ cách tiếp cận quan niệm trí thức hoá công nhân Việt Nam, trên
cơ sở khái quát về tập đoàn kinh tế nhà nước và tình hình công nhân trong
các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam cho ta hiểu rằng: Trí thức hoá
công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
là xu thế khách quan, là quá trình hoạt động tích cực, chủ
động, tự giác, có mục đích, có kế hoạch thống nhất của các
chủ thể tác động vào công nhân các tập đoàn kinh tế nhà
nước, nhằm làm cho phẩm chất và năng lực của họ được
tiếp nhận những thuộc tính tích cực của trí thức để chuyển
hoá lên trình độ mới, chất lượng mới, mà trước hết là nâng
cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ý
thức chính trị, tác phong lao động khoa học và sáng tạo; để
Thứ nhất, trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước
ở Việt Nam là quá trình không ngừng hoàn thiện, nâng cao trình độ học vấn
của công nhân; Thứ hai, trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế
nhà nước ở Việt Nam là quá trình không ngừng hoàn thiện, nâng cao trình
độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của công nhân. Thứ ba, trí thức hoá
công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam là quá trình
không ngừng nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, nhất là hoạt động sáng
tạo của công nhân trong lao động sản xuất. Thứ tư, trí thức hoá công nhân
trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam là quá trình không ngừng
nâng cao ý thức chính trị, tác phong công nghiệp và ý thức chấp hành pháp
luật của công nhân.
10
Phương thức thực hiện trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn
kinh tế nhà nước ở Việt Nam rất đa dạng, phong phú, thông qua phát huy
vai trò của các chủ thể trong việc tạo ra môi trường, điều kiện thực hiện trí
thức hoá công nhân. Đó là chủ trương, chính sách, kế hoạch và các biện
pháp kinh tế, xã hội cụ thể, các quy định pháp lý của Đảng, Nhà nước, các
tổ chức chính trị - xã hội, các cấp, các ngành, các tập đoàn và người công
nhân.
Tóm lại, Trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước
ở Việt Nam là một quá trình có mục đích rõ ràng, do nhiều chủ thể tiến
hành, có đối tượng cụ thể, nội dung toàn diện và phương thức phong phú. Vì
thế, đánh giá trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước cần
thực hiện đầy đủ trên các mặt đó. Sự hình thành, phát triển của bộ phận công
nhân trí thức, hiệu quả sản xuất kinh doanh và những đóng góp của tập đoàn
kinh tế nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng là
một trong những chỉ số quan trọng đánh giá chất lượng, hiệu quả trí thức
hoá công nhân.
1.2. Vai trò và đặc điểm của trí thức hoá công nhân trong các tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước; Bốn là, trí thức hoá công
nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước là bộ phận quan trọng trong chiến
lược xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam, gắn kết chặt chẽ với chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và chiến lược phát triển của từng tập
đoàn; Năm là, trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước là
quá trình kết hợp chặt chẽ giữa việc tiếp nhận nguồn nhân lực trí thức gia
nhập giai cấp công nhân với đào tạo, bồi dưỡng công nhân trong các tập
đoàn.
Kết luận chương 1
Trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt
Nam là xu thế khách quan, là kết quả của sự phát triển khoa học, kỹ thuật,
công nghệ hiện đại. Đồng thời, là nhu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và yêu cầu xây dựng giai cấp công
nhân Việt Nam hiện nay.
Trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt
Nam là một quá trình có mục đích rõ ràng, do nhiều chủ thể tham gia, có đối
tượng cụ thể, nội dung toàn diện và phương thức phong phú. Trí thức hoá
công nhân có vai trò quan trọng: Trực tiếp phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh của các tập đoàn; góp phần
nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập, tự chủ của nền kinh tế trong
hội nhập kinh tế quốc tế; góp phần phát huy vai trò của giai cấp công nhân
Việt Nam, thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử đối với cách mạng dân tộc và
thế giới.
Trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt
Nam hiện nay nổi lên đặc điển cơ bản là: Trí thức hoá công nhân diễn ra
trong môi trường các tập đoàn kinh tế nhà nước mới được thành lập và đang
tiến hành cơ cấu lại; là xu thế chủ đạo, nổi trội nhất, thúc đẩy phát triển giai
12
cấp công nhân; là quá trình chủ động, tích cực, có tính kế hoạch của các chủ
tích cực của trí thức ngày càng được phát triển và nâng cao trong đội ngũ
công nhân các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
13
Những năm qua, đội ngũ công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà
nước bằng trình độ, năng lực và khả năng sáng tạo đã không ngừng nỗ lực,
cố gắng, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn
nhà nước, hoàn thành được chỉ tiêu đề ra. Các tập đoàn kinh tế nhà nước và
tổng công ty nhà nước đã đóng góp quan trọng trong bình ổn giá cả vật tư
hàng hoá, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần để Nhà nước
thực hiện chính sách vĩ mô. Tổng kinh phí hỗ trợ hoạt động an sinh xã hội,
quốc phòng – an ninh, xoá đói giảm nghèo của các tập đoàn đối với xã hội
không ngừng tăng lên hành năm.
Như vậy, trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước
ở Việt Nam đã góp phần nâng cao trình độ của công nhân, từ đó tác động
trực tiếp đến năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các
tập đoàn, cũng như đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gắn với phát triển
kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.
2.1.2. Những hạn chế của trí thức hoá công nhân trong các tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Bên cạnh những ưu điểm đạt được, trí thức hoá công nhân trong các tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam thời gian qua còn bộc lộ một số hạn chế nhất
định, cụ thể:
Một là, sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện trí thức hoá công
nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước của các chủ thể có lúc chưa tích
cực, chủ động và còn mang tính hình thức, chưa đáp ứng được nhu cầu thực
tiễn
Hai là, đổi mới giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng công nhân vẫn còn
hạn chế, chưa tạo được nền tảng vững chắc để trí thức hoá công nhân trong
các tập đoàn kinh tế nhà nước hiện nay
nước ở Việt Nam bước đầu đã tạo ra những yếu tố tích cực thúc đẩy trí thức
hoá, nâng cao trình độ của công nhân
2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế
Một là, những tác động tiêu cực của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại, của xu thế toàn cầu hoá và sự suy thoái kinh tế thế giới
là một trong những nguyên nhân hạn chế của trí thức hoá công nhân trong
các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Hai là, những hạn chế của công cuộc đổi mới đất nước đã ảnh hưởng
tiêu cực đến trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở
Việt Nam hiện nay
Ba là, những bất cập trong cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của
các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam đã gây cản trở đến thực hiện trí
thức hoá công nhân
2.2.3. Những vấn đề đặt ra từ nghiên cứu thực trạng trí thức hoá
công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
15
Từ thực trạng và nguyên nhân (ưu điểm, hạn chế) của trí thức hoá công
nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam thời gian qua, đặt ra một
số vấn đề cần tập trung giải quyết thời gian tới là:
Một là, trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở
Việt Nam là xu thế khách quan có vai trò quan trọng đặc biệt, xong nhận
thức, trách nhiệm và tổ chức thực hiện của các chủ thể còn nhiều hạn chế
Hai là, nhu cầu trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà
nước ngày càng cao trong khi các tập đoàn vẫn đang trong quá trình cơ cấu lại
Ba là, yêu cầu trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà
nước ở Việt Nam có nội dung toàn diện, trong khi đổi mới giáo dục và đào
tạo còn hạn chế nhiều mặt
Bốn là, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của
công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước tăng khá nhanh nhưng ý thức
chính trị được nâng lên không tương xứng
cao ý thức chính trị của công nhân.
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐẨY MẠNH
TRÍ THỨC HÓA CÔNG NHÂN TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Dự báo xu hướng trí thức hoá công nhân và
những định hướng đẩy mạnh trí thức hoá công nhân
trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện
nay
3.1.1. Những nhân tố tác động và xu hướng trí thức hoá công nhân
trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Nhân tố khách quan, chủ quan tác động đến trí thức hoá công trong
các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Những nhân tố khách quan đó là: Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá tiếp tục được đẩy mạnh, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa dần hoàn thiện; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ còn tiếp
tục phát triển mạnh mẽ, nền kinh tế tri thức có ảnh hưởng sâu rộng trên thế
giới; toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là một xu thế lớn đang tác động đến
mọi quốc gia; quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam tích cực, chủ động trong
quan hệ với các nước, các khu vực, các tổ chức quốc tế…
Tất cả những yếu tố trên sẽ tạo ra tiền đề khách quan có tác động đến trí
thức hoá công nhân. Tuy nhiên, đây chỉ là những nhân tố tác động, vì thế nó có
thể tác động tích cực, hoặc tiêu cực. Bởi vậy, thực hiện trí thức hoá công nhân
nói chung, trí thức hoá trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam nói
riêng rất cần sự năng động, trách nhiệm của các chủ thể tham gia.
- Những nhân tố chủ quan đó là: Đảng ta tiếp tục triển khai nâng cao
hiệu quả thực hiện Nghị quyết về Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; về phát triển khoa học
và công nghệ; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; phát triển văn
hoá - xã hội; đổi mới cơ chế chính sách đối với người lao động…; Nhà nước
vấn, tay nghề mà không quan tâm đến nhận thức chính trị, đạo đức. Có thể
số lượng công nhân bảo đảm nhưng chất lượng thấp. Trình độ mọi mặt của
công nhân không đáp ứng được yêu cầu sản xuất, kinh doanh của tập đoàn.
Cơ cấu công nhân mất cân đối giữa các ngành nghề, lĩnh vực. Có thể một bộ
phận công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước bị bần cùng hoá, thoái
hoá, thậm chí lưu manh hoá. Hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các tập đoàn
kinh tế nhà nước không cao. Lúc đó, các tập đoàn kinh tế nhà nước trở thành
gánh nặng của nền kinh tế và gây cản trở đến sự nghiệp đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Những dự báo trên đây là căn cứ khoa học để xác định định hướng và
đề xuất hệ thống giải pháp vừa mang tính lâu dài, vừa mang tính cấp bách
nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trí thức hoá công nhân trong các tập
đoàn kinh tế nhà nước. Đồng thời, nó còn là cơ sở dự kiến một số tình
huống bất lợi và những đối sách để khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực
đến trí thức hoá công nhân, và bảo đảm trí thức hoá công nhân trong các tập
đoàn kinh tế nhà nước được diễn ra trong điều kiện khó khăn nhất.
18
3.1.2. Định hướng đẩy mạnh trí thức hoá công nhân trong các tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Từ tính cấp thiết, thực trạng, nguyên nhân, những vấn đề đặt ra cần quan
tâm giải quyết và những báo xu hướng trí thức hoá công nhân trong thời gian
tới, luận án xác định 4 định hướng cơ bản thực hiện trí thức hoá công nhân trong
các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay là:
Một là, trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở
Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa lâu dài; Hai là, trí thức
hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam phải hướng
đến phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Ba là, nâng
cao vai trò, trách nhiệm của các chủ thể đối với nhiệm vụ trí thức hoá công
nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay; Bốn là, trí
trình hành động của ngành Giáo dục Việt Nam về Chiến lược phát triển giáo dục Việt
Nam 2011-2020”; Hai là, tiến hành đổi mới, sắp xếp lại hệ thống các cơ sở đào tạo
trong các đoàn kinh tế nhà nước; Ba là, coi trọng phát triển các trường nghề, các trung
tâm đào tạo nghề trong các tập đoàn kinh tế nhà nước; Bốn là, thường xuyên quan tâm
đến đào tạo lại, bồi dưỡng công nhân tại công ty, xí nghiệp của các tập đoàn kinh tế
nhà nước.
3.2.3. Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ,
hiện đại hoá sản xuất, kinh doanh trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
hiện nay
Đây là giải pháp quan trọng nhằm tạo động lực to lớn và là môi trường, điều
kiện thúc đẩy trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước. Những biện
pháp để thực hiện là: Một là, lãnh đạo, quản lý tập đoàn có nhận thức đúng về vai trò
của khoa học và công nghệ trong hiện đại hoá sản xuất, kinh doanh; Hai là, đầu tư
phát triển các trung tâm, viện nghiên cứu, gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo và
sản xuất, kinh doanh trong các tập đoàn kinh tế nhà nước; Ba là, xây dựng cơ chế,
chính sách hiện đại hoá công nghệ sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của tập đoàn; Bốn là, mở rộng hoạt động đối
ngoại giữa tập đoàn kinh tế nhà nước với các tổ chức khoa học, các tổ chức kinh tế lớn
trong khu vực và thế giới để phát triển khoa học và công nghệ, đẩy nhanh hiện đại hoá
tập đoàn.
3.2.4. Thu hút sự tham gia đông đảo của trí thức và
công nhân vào thực hiện trí thức hoá công nhân trong các
tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Đây là giải pháp phát huy vai trò của trí thức và công nhân vào thực hiện trí
thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam. Hiệu quả trí thức
hoá công nhân phụ thuộc rất nhiều vào hai chủ thể này, bởi họ là lực lượng trực tiếp,
quyết định nhất.
* Về thu hút sự tham gia đông đảo của trí thức vào thực trí thức hoá công
nhân cần triển khai các biện pháp cụ thể là: Một là, đánh giá đúng vị trí, vai trò
của đội ngũ trí thức, đổi mới tư duy về chính sách phát triển dựa vào tri thức trên
Kết luận chương 3
Trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt
Nam là xu thế khách quan. Để trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn
kinh tế nhà nước diễn ra đúng hướng, hiệu quả cần nhận thức rõ những nhân
tố tác động và dự báo xu hướng trí thức hoá công nhân sẽ diễn ra để từ đó
xác định định hướng và giải pháp đẩy mạnh trí thức hoá công nhân trong các
tập đoàn kinh tế nhà nước.
Trước hết, xác định trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế
nhà nước ở Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa lâu dài
nhằm hướng đến phát huy vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; quá trình thực hiện cần
nêu cao vai trò, trách nhiệm của các chủ thể. Trí thức hoá công nhân trong
các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam thực hiện nội dung toàn diện, phù
hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quá trình hiện đại
hoá sản xuất, kinh doanh của từng tập đoàn
Đẩy mạnh trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà nước
21
ở Việt Nam cần thực hiện tốt các giải pháp cơ bản sau: Xây dựng các tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam theo hướng bền vững, hiện đại; đổi mới
toàn diện giáo dục và đào tạo, đào tạo nghề cho công nhân; phát triển nghiên
cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, hiện đại hoá sản xuất, kinh doanh
trong các tập đoàn; đồng thời, thu hút sự tham gia đông đảo đội ngũ trí thức
và công nhân vào thực hiện trí thức hoá công nhân và thực hiện tốt các
chính sách xã hội đối với công nhân. Những giải pháp trên là một chỉnh thể
thống nhất, tác động đến nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, nội dung,
biện pháp tiến hành nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trí thức hoá, nâng
cao trình độ mọi mặt của công nhân, đáp ứng nguồn nhân lực công nhân
chất lượng cao cho sản xuất kinh doanh, cũng như xây dựng các tập đoàn
kinh tế nhà nước ở Việt Nam bền vững, hiện đại.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
công nhân; là quá trình chủ động, tích cực, có tính kế hoạch của các chủ thể;
là bộ phận quan trọng trong chiến lược xây dựng giai cấp công nhân Việt
Nam và là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa việc tiếp nhận nguồn nhân lực trí
thức gia nhập giai cấp công nhân với đào tạo, bồi dưỡng công nhân trong
các tập đoàn.
4. Bên cạnh những kết quả đạt được, thực hiện trí thức hoá công nhân
trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam thời gian qua vẫn còn hạn
chế nhất định, cả trong nhận thức, trách nhiệm và tổ chức thực hiện của các
chủ thể. Những hạn chế, bất cập trong đổi mới giáo dục và đào tạo và phát
triển khoa học và công nghệ chưa tạo được nền tảng, môi trường, điều kiện
để thực hiện trí thức hoá công nhân Một số thuộc tính tích cực của trí thức
chuyển hoá trong công nhân còn chậm hoặc chưa phát huy được trong sản
xuất, kinh doanh hiện đại của các tập đoàn, đó cũng là một trong những
nguyên nhân của tình trạng làm ăn thua lỗ, gây dư luận xấu trong xã hội đối
với các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam.
5. Những thành tựu, hạn chế của trí thức hoá công nhân trong các tập
đoàn kinh tế nhà nước có nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau.
Trong đó nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế là do những tác động
tiêu cực của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của xu thế
toàn cầu hoá và sự suy thoái kinh tế thế giới; những hạn chế của công cuộc
đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và
những bất cập trong cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của các tập đoàn
kinh tế nhà nước ở Việt Nam. Từ đó, đặt ra những vấn đề cần giải quyết kịp
thời trong thời gian tới, nhằm đẩy mạnh trí thức hoá công nhân trong các tập
đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
23
6. Để đẩy mạnh trí thức hoá công nhân trong các tập đoàn kinh tế nhà
nước ở Việt Nam cần nhận thức đầy đủ dự báo xu hướng trí thức hoá công
nhân, quán triệt và thực hiện nghiêm túc những định hướng cơ bản lớn và hệ
thống giải pháp cơ bản. Trong đó, tập trung xây dựng các tập đoàn kinh tế
- Kịp thời giải quyết những bức xúc của công nhân, phát huy quyền
làm chủ, dân chủ, thực hiện công bằng xã hội, công khai, minh bạch mọi
hoạt động; khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, đặc quyền đặc trong các tập
đoàn kinh tế nhà nước.
25