Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai - Pdf 67

Chơng III
Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai
I. Cơ sở lý luận của việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân.
Hiện nay Việt Nam là nớc duy nhất trên thế giới thực hiện chế độ sở hữu toàn
dân đối với đất đai. Các nớc khác trên thế giới thì ngoài một số nớc vừa tồn tại
song song sở hữu nhà nớc và sở hữu tập thể thì đa phần thuộc sở hữu t nhân. Có
thể nói rằng, sở hữu t nhân chiếm u thế tuyệt đối trong quan niệm về sở hữu và vì
vậy mà các quan hệ đất đai đợc điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật dân sự. ở
Việt Nam, quan hệ đất đai có những đặc thù nhất định, chính vì vậy nền tảng của nó
là chế độ sở hữu đất đai cũng khác với nhiều nớc trên thế giới. Vậy cơ sở lý luận nào
và thực tiễn gì đã khiến chúng ta quy định cụ thể, rõ ràng trong khoản 1 Điều 5
Luật đất đai năm 2003 là: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nớc đại diện chủ
sở hữu. Chúng ta sẽ nghiên cứu một số luận điểm khoa học của các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác - Lênin và một số đặc trng của chế độ chiếm hữu ruộng đất ở
Việt Nam thời phong kiến nhằm rút ra các kết luận cụ thể cho vấn đề này.
1. Một số quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính tất yếu khách
quan của việc quốc hữu hoá đất đai.
Dới xã hội t bản, quyền sở hữu t nhân đối với đất đai đợc thừa nhận cả về
mặt thực tế và pháp lý, tuy nhiên phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa đã chi
phối ngời sử dụng đất khiến họ coi rằng: Ruộng đất không có ý nghĩa khác hơn là
một khoản thuế nhất định bằng tiền, mà độc quyền của hắn thu đợc của nhà t bản
công nghiệp
(1)
.
Nh vậy, tham gia vào quan hệ đất đai dới chế độ t bản bao gồm 3 thành
phần cơ bản, đó là ngời sở hữu đất đai, ngời lĩnh canh hay nói một cách khác đi là
nhà t bản nông nghiệp và ngời công nhân làm thuê cho nhà t bản. Các mối quan
hệ này luôn luôn đối lập nhau nhng lại gắn bó chặt chẽ với nhau, nếu ngời công
nhân không đi làm thuê cho nhà t bản thì họ sẽ không thể nào đầu t t bản vào
mảnh đất đi thuê và nếu nhà t bản không đi thuê đất thì quyền sở hữu của chủ đất


rằng vẫn là nhà t bản đó, thuê đúng đất đó.
Cho nên, ý thức đó đợc nh vậy ông chủ đất tìm mọi cách rút ngắn thời hạn
cho thuê đất, ngợc lại nhà t bản tìm mọi cách kéo dài thời hạn thuê theo hợp đồng.
Mâu thuẫn này tạo ra, nếu thuê ngắn hạn thì nhà t bản sợ đầu t không có lãi cho
nên tìm mọi cách bóc lột tối đa ngời công nhân làm thuê và làm kiệt quệ đất đai.
Còn nếu nh thuê đợc dài hơn thì nhà t bản có cơ hội để đầu t nhng ông chủ sẽ
không cho phép làm điều đó nếu nh
không chấp nhận sự gia tăng của giá cả nông
sản và các khoản địa tô ngày một nặng nề hơn.
Cuối cùng để đợc lợi nhuận tối đa cho nhà t bản thì ngời công nhân làm
thuê phải gánh chịu mọi hậu quả, dù hợp đồng thuê đất ngắn hạn hay dài hạn họ
cũng bị bóc lột tối đa.
Từ đó có thể kết luận rằng, quyền t hữu đất đai là cái cớ để sinh ra địa tô đất
đai, là cơ sở của việc bóc lột một cách tinh vi và thậm tệ của giai cấp thống trị đối với (2)
Sách đã dẫn trang 202.

37
giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì lẽ đó mà một câu hỏi đợc đặt ra là làm
sao để thủ tiêu đi cái quyền t hữu đất đai vốn sinh ra sự bóc lột và làm sao để ngời
công nhân thoát khỏi thân trâu ngựa đợc giải phóng khỏi sự bóc lột?
ở một khía cạnh khác thì dới chế độ t bản chủ nghĩa, quyền t hữu nói
chung và t hữu đất đai nói riêng là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Họ luôn
luôn mu toan che đậy bản chất của sự bóc lột bằng cách giải thích địa tô theo kiểu
mới và họ cho rằng, đất đai là một hàng hoá cho nên quyền sở hữu đất đai là chính
đáng, viện cớ rằng ngời mua đất đã trả một vật ngang giá để mua đất nh khi mua
bất cứ hàng hoá nào khác và Đại bộ phận tài sản ruộng đất đã đợc chuyển từ
ngời nọ sang ngời kia bằng cách đó


(1)
Sách đã dẫn trang 202, 203.
(2)
Sách đã dẫn trang 203.
(3)
Các Mac, Ph Ăngghen tuyển tập, tập 4 trang 202, Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội. 1983.

38
đất ngày càng trở thành một tất yếu xã hội và chống lại nó, mọi lý lẽ về quyền sở hữu
đều bất lực
(1)
.
Để làm rõ quan điểm này, Mác phân tích Nếu nh việc canh tác đại quy mô
(ngay cả cái phơng thức t bản chủ nghĩa ngày nay đang làm cho bản thân ngời
sản xuất trở thành trâu ngựa) vẫn có lợi hơn nhiều so với kinh doanh nông nghiệp
trên những mảnh đất nhỏ và phân tán, đang chứng minh một cách không thể bác bỏ
đợc rằng, việc quốc hữu hoá đất đai đã trở thành một tất yếu xã hội
(2)
.
Nh vậy, quốc hữu hoá đất đai có thể đặt ra trong xã hội t bản, nhng thực
hiện nh thế nào thì lại là vấn đề khác. Vì thực chất của quốc hữu hoá là xoá bỏ sở
hữu t nhân, là thiết lập sở hữu nhà nớc, là việc quyết định số phận của địa tô
tuyệt đối và việc chuyển địa tô chênh lệch vào tay nhà nớc.
Trung thành với sự nghiệp của Mác, Lênin trong Sơ thảo đề cơng về vấn đề
ruộng đất ngời đã nêu các biện pháp nhằm thực hiện việc quốc hữu hoá đất đai.
Tuy nhiên, theo Lênin, nếu không giải quyết đợc vấn đề chính quyền, không
có sự thiết lập chuyên chính vô sản thì quốc hữu hoá đất đai chỉ là một hình thức t
sản mà thôi. Trong điều kiện chuyên chính vô sản thì quốc hữu hoá đất đai tạo điều
kiện xoá bỏ giai cấp t sản, địa chủ và những tàn d của chế độ phong kiến, giải

cần nói ở đây là sự bảo lu, tồn tài một cách dai dẳng chế độ ruộng công bên cạnh sự
phát triển của chế độ t hữu, cả hai chế độ này không hề mai một đi trong suốt lịch
sử hàng nghìn năm phong kiến. Và đó chính là đặc thù của chế độ ruộng đất ở Việt
Nam.
2.1. Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của Nhà nớc.
Đây là quyền lực rất đặc trng của một nhà nớc ở phơng Đông, bên cạnh
quyền quản lý lãnh thổ, còn có quyền lực tối cao đối với toàn bộ đất đai sinh lợi nh
một ngời chủ sở hữu. Quyền sở hữu tối cao này không chỉ phản ánh ý nguyện muốn
thâu tóm mọi nguồn lợi từ đất đai vào tay nhà nớc của những ngời cầm quyền mà
còn thể hiện vai trò kinh tế của nhà nớc. Với lý do, nhà nớc là ngời có công trong
việc trợ giúp và tổ chức các cuộc khai phá ruộng đất, quản lý và tu bổ các công trình
thuỷ lợi, trị thuỷ mà nhờ đó ngời nông dân mới có thể canh tác. Nh thế trong mỗi
thửa ruộng ngời nông dân trực tiếp canh tác hàm ý có công sức mà nhà nớc bỏ ra.
Quyền sở hữu tối cao của nhà nớc về đất đai bắt đầu manh nha hình thành
vào cuối thế kỷ XI dới triều Lý, khi nhà nớc bắt đầu tiến hành xây dựng các công
trình đê điều với quy mô lớn. Quyền lực đó lớn dần lên cùng với uy tín của nhà nớc
do liên tục hai lần liền chống sự xâm lợc của nhà Tống thắng lợi và ba lần đại
thắng quân xâm lợc Mông Cổ. Vì lẽ đó mà t tởng công hữu, xem vua là đấng
chúa đất tối cao t
ơng đối thịnh hành và phổ biến trong nhân dân thời đó.
Có hai bộ phận cấu thành nên chế độ sở hữu nhà nớc thời Lý, Trần là: bộ phận
ruộng công do nhà nớc tập quyền trung ơng trực tiếp quản lý và bộ phận ruộng
đất công làng xã.
Bộ phận ruộng đất do nhà nớc trực tiếp quản lý gồm ruộng Sơn lăng, ruộng
tịch điền và ruộng đồn điền đợc đặt ra để lấy thu hoạch nhằm chi phí cho việc thờ
cúng các đời vua, chẩn cấp cho dân nghèo hoặc để tiếp khách và ban thởng cho
quan lại trong triều.
Bộ phận ruộng công làng xã thì mang nhiều nguồn gốc khác nhau, có thể là
ruộng tế tự, ruộng mộ của những ngời đợc thờ cúng ở làng, ruộng tế tự của các đời
vua Đinh, Lý, Trần, Lê hoặc của một nhân vật nào đó cúng cho làng làm quỹ chung.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status