1
BÀI TIỂU LUẬN
Nhóm thực hiện:
TP HỒ CHÍ MINH, NGÀY 28 THÁNG 03 NĂM 2011
Danh sách nhóm:
1. Đinh Thị Bình K094020266
2. Đoàn Dũng K094020273
3. Đặng Thị Kim Lành K094020304
4. Lê Thị Hoàng Ly K094020312
5. Trần Kim Thục K094020359
Bảng phân công công việc ( 28/2-29/3)
1, Ngày 28/2
• Cả nhóm cùng họp và đưa ra sườn bài làm cho bài tiểu luận, và phân công nhiệm
vụ thành viên về tìm kiếm tài liệu theo sườn và phần mà mình đã nhận.
2, Tối 28/2
• Đinh Thị Bình gửi mail cho cả nhóm qua mail group sườn bài làm.
3, Từ 1/3 đến 11/3
• Đặng thị Kim Lành + Đoàn Dũng: Chịu trách nhiệm tìm kiếm thông tin, ví dụ, số
liệu thực tiễn và hoàn thành phần tính thanh khoản của tài sản.
• Lê Thị Hoàng Ly+ Trần Kim Thục: Chịu trách nhiệm tìm kiếm thông tin, ví dụ, số
liệu thực và hoàn thành phần rủi ro của tài sản.
4, Từ 12/3 đến 15/3
• Đinh Thị Bình: Chịu trách nhiệm làm phần mở đầu của tiểu luận.
2
• Trần Kim Thục: Chịu trách nhiệm làm phần mục lục và phần tài liệu tham khảo của
đề tài.
• Đoàn Dũng+ Đặng Thị Kim Lành + Lê Thị Hoàng Ly tìm kiếm thêm thông tin, ví
dụ thực tiễn và hình ảnh minh họa.
5, Từ 16/3 đến 23/3
• Cả nhóm họp lại và cùng nhau tổng hợp nội dung mà mình đã hoàn thành và thống
nhất ví dụ và số liệu đưa ra minh họa, làm phần đánh giá và hướng giải quyết.
hình thức đầu tư trở nên vô cùng đa dạng và phong phú như: Đầu tư vàng, ngoại hối hoăc
là chứng khoán …Cộng với nền kinh tế thế giới luôn thay đổi và biến động không ngừng
khiến cho các nhà đầu tư trở nên khó xử khi đứng trước quá nhiều sự lựa chọn hình thức
đầu tư có thể mang lại hiệu quả cho mình.
Trước nhu cầu bức thiết đó, một lý thuyết đã ra đời để giúp các nhà đầu tư có thể
tối thiểu hóa những rủi ro có thể có trong hoạt động đầu tư của mình và chọn ra được hình
4
thức đầu tư nào là mang lại hiệu quả cao nhất, tốn ít chi phí nhất mà khả năng thanh khoản
của nó cao nhất…Đó chính là: “ Lý thuyết lượng cầu tài sản”.
Trong đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào hai yếu tố cơ bản và quan trọng trong việc
hình thành quyết định đầu tư vài loại tài sản nào của các nhà đầu tư. Đó là: “ Tính thanh
khoản và rủi ro” của tài sản.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: RỦI RO
1.1.Định nghĩa
1.1.1 Các khái niệm rủi ro theo nghĩa thông thường
Rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lai hay là
những khả năng của kết quả bất lợi.
Chẳng hạn, khi nói việc một học sinh có sức học trung bình quyết định dự thi vào
trường ĐH Kinh tế-Luật mang nhiều rủi ro, thì phải hiểu rằng rủi ro ở đây chính là sự
5
không chắc chắn của khả năng đậu đại học nguyện vọng một, hay nói khác hơn việc dự thi
này rất có thể khiến em học sinh đó thi trượt đại học nguyện vọng một.
Rủi ro ứng với sai lệch giữa dự kiến và thực tế.
Rủi ro là sự không thể đoán trước được nguyên nhân dẫn đến kết quả thực khác với
kết quả dự đoán.
Trong lĩnh vực tài chính, rủi ro được hiểu như mức độ không chắc chắn của suất
sinh lời dự tính của tài sản, ví dụ, đối với trái phiếu ta có rủi ro biến động lãi suất, đối với
cổ phiếu ta có rủi ro liên quan đến biến động cổ tức, biến động giá trị cổ phiếu và rủi ro lớn
nhất là khi công ty phá sản (giá trị cổ phiếu bằng zero).
1.1.4. Thái độ đối với rủi ro của nhà đầu tư
Về cơ bản những nhà đầu tư luôn từ chối rủi ro. Bằng chứng là hầu hết các nhà đầu
tư không thích rủi ro thì họ luôn theo đuổi những hình thức bảo hiểm khác nhau, bao gồm
bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm xe hơi, bảo hiểm sức khỏe. Mua bảo hiểm là trả một khoản
phí tổn để phòng ngừa cho những biến cố không chắc chắn trong tương lai. Thêm một
bằng chứng của thái độ đối với rủi ro là sự khác biệt lợi tức mong đợi (tỷ suất sinh lợi
mong đợi) đối với các loại trái phiếu khác nhau, giả sử có sự khác biệt về rủi ro tín dụng.
Chẳng hạn, lợi tức mong đợi trên trái phiếu chúng ta sở hữu tăng từ AAA đến AA đến A
khi rủi ro tăng tương ứng cho thấy nhà đầu tư luôn yêu cầu một tỷ suất sinh lợi cao hơn để
có thể chấp nhận một mức rủi ro cao hơn.
7
Tuy nhiên, điều này không ám chỉ tất cả mọi người đều từ chối rủi ro hay các nhà
đầu tư hoàn toàn từ chối rủi ro đối với tất cả các cam kết tài chính. Và sự thật là không một
ai mua bảo hiểm cho tất cả mọi thứ xung quanh mình. Thêm vào đó, một vài cá nhân mua
bảo hiểm liên quan đến một vài rủi ro, nhưng họ cũng mua vé số và chơi game, đánh bạc
tại casino, nơi được biết đến với những khoản sinh lợi tiêu cực bao hàm nhiều rủi ro. Việc
kết hợp thái độ thích hay không ưa thích rủi ro có thể được giải thích bằng lượng tài sản
hiện có. Nghiên cứu của Friedman và Savage cho thấy con người thích mạo hiểm cho
những khoản tiền nhỏ nhưng lại không muốn mạo hiểm với những khoản tiền lớn. Đó là lý
do họ mua bảo hiểm để bảo vệ mình khỏi những thất thoát to lớn tiềm ẩn.
Trong khi có nhiều thái độ ứng xử khác nhau đối với rủi ro, thì giả định cơ bản của
chúng ta là trên thị trường tài chính, phần lớn các nhà đầu tư e ngại rủi ro. Vì vậy, nếu các
yếu tố là như nhau thì tài sản ít rủi ro hơn sẽ được ưa thích hơn. Ví dụ, khi đứng trước sự
lựa chọn giữa hai tài sản có cùng tỷ suất sinh lợi, nhà đầu tư sẽ chọn tài sản có mức độ rủi
ro thấp hơn.
1.1.5. Một số thuật ngữ khác liên quan đến rủi ro
• Chỉ số rủi ro
Chỉ số rủi ro đo lường sự dịch chuyển của các cổ phiếu được thể hiện trong chủ đề
đầu tư chung. Chỉ số rủi ro mà chúng ta có thể xác định được ở thị trường Mỹ và một số
thị trường cổ phiếu khác đều được phân thành nhiều nhóm:
đến giá trị của tất cả các tài sản rủi ro. Các biến kinh tế vĩ mô có thể là sự thay
đổi của tốc độ tăng cung tiền, sự biến động của lãi suất, sự biến động trong sản
xuất công nghiệp, thu nhập và dòng tiền của các công ty.
9
• Rủi ro năng động: Là sai số mô phỏng của danh mục đầu tư, nó mô tả danh mục
đầu tư này có thể theo danh mục chuẩn tốt như thế nào. Rủi ro năng động được
tính bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi năng động. (Tỷ suất sinh lợi năng
động là sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lợi danh mục của nhà quản trị và tỷ suất
sinh lợi danh mục chuẩn).
• Rủi ro thặng dư: Là rủi ro của tỷ suất sinh lợi thặng dư hay rủi ro của phần tỷ
suất sinh lợi độc lập với tỷ suất sinh lợi hệ thống.
• Lãi suất phi rủi ro: Là lãi suất được giả định bằng cách đầu tư vào các công cụ
tài chính mà không bị rủi ro vỡ nợ.
• Lãi suất rủi ro: Là lãi suất được giả định bằng cách đầu tư vào các công cụ tài
chính có thể bị rủi ro vỡ nợ.
• Rủi ro về lãi suất thị trường: khi lãi suất thị trường tăng, giá chứng khoán sẽ
giảm và ngược lại.
• Rủi ro tái đầu tư: nếu lượng tiền mặt thu vào được tái đầu tư thì thu nhập từ
những hoạt động tái đầu tư đôi khi được gọi là “lãi-trên-lãi” và phụ thuộc mức
lãi suất thị trường vào thời điểm tái đầu tư, cũng như chiến lược tái đầu tư. Khả
năng thay đổi tỷ lệ tái đầu tư theo một chiến lược do những thay đổi lãi suất thị
trường trên thị trường được gọi là rủi ro tái đầu tư.
• Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là nguy cơ công ty phát hành không có khả năng chi trả đúng
hạn. Tức là sẽ không thể chi trả mệnh giá và lãi đúng hạn. Rủi ro tín dụng được
đánh giá bằng các dịch vụ đánh giá khả năng tín dụng của cá nhân hay công ty.
• Rủi ro lạm phát
Rủi ro lạm phát hay rủi ro sức mua phát sinh bởi trị giá lưu lượng tiền mặt của
một chứng khoán thay đổi do lạm phát. Ví dụ, nếu nhà đầu tư mua một trái
10
• Rủi ro gắn với những tác nhân kinh tế bên ngoài là những tác nhân kinh tế vĩ
mô. (Bất ổn chính trị làm giá trái phiếu chính phủ giảm, lạm phát đột biến, giá
dầu biến động mạnh khiến giá cổ phiếu giảm, tỷ giá hối đoái thay đổi, sản lượng
công nghiệp thay đổi,vv..vv)
• Rủi ro gắn với các thuộc tính tiêu biểu bên trong của tài sản. Thuộc tính tiêu
biểu này có hai nhóm, nhóm chỉ tiêu cơ bản và nhóm thị trường.
Nhóm chỉ tiêu cơ bản gồm tỷ suất cổ tức, tỷ suất thu nhập, dòng tiền, giá
trị sổ sách, doanh thu,… Khi tỷ suất cổ tức, tỷ suất thu nhập giảm hoặc
không như mong đợi,…thì coi như nhà đầu tư đã gặp rủi ro.
Nhóm thị trường gồm tính biến động của một thời kì đã qua, tỷ suất sinh
lợi trước đây, doanh thu cổ phần, đà phát triển,… Một cổ phiếu có giá
tăng song không tăng đúng như kì vọng của đà phát triển thì nhà đầu tư
nắm giữ cổ phiếu cũng coi như gặp rủi ro.
Dựa trên các giai đoạn của quyết định đầu tư:
• Rủi ro trước khi quyết định (rủi ro thông tin): Là loại rủi ro xảy ra khi thu thập các
thông tin không đầy đủ, không chính xác dẫn đến nhận diện sai về bản chất của các
yếu tố liên quan đến phương án đầu tư, dẫn tới ra các quyết định đầu tư sai.
• Rủi ro khi ra quyết định (rủi ro cơ hội): Xảy ra khi lựa chọn phương án không tối
ưu.
• Rủi ro sau quyết định: Thể hiện ở sự sai lệch giữa dự kiến và thực tế.
12
Dựa trên tính chất tác động
• Rủi ro theo suy tính (rủi ro mang tính chất đầu cơ): Là loại rủi ro phụ thuộc vào
mong muốn chủ quan của nhà đầu tư, nó xảy ra trong trường hợp nhà đầu tư chủ
động lựa chọn phương án cho dù biết rằng có thể có lợi hoặc bị thiệt hại. Ví dụ:
nhà đầu tư quyết định mua vàng để bán lại nhằm hưởng chênh lệch, dù không biết
chắc giá vàng trong tương lai có tăng hay không.
• Rủi ro thuần túy: Là rủi ro mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ
quan của nhà đầu tư, rủi ro này thường chỉ mang lại thiệt hại cho nhà đầu tư.
1.3. Những phương pháp đo lường rủi ro (định lượng rủi ro)
1.0 (9.6% 9.6%) 0%
σ
= × − =
Ưu điểm của phương pháp: Dễ hiểu, rõ ràng trong thống kê. Phương pháp
này cũng được nhận định đúng và rộng, dùng trong hầu hết lý thuyết mô
hình định giá tài sản, là công cụ hữu hiệu để hình thành những danh mục đầu
tư.
Nhược điểm của phương pháp: Độ lệch chuẩn là tiêu chuẩn đánh giá khả
năng của tỷ suất sinh lợi cả trên và dưới giá trị trung bình, trong khi hầu hết
các nhà đầu tư chỉ đều định nghĩa về rủi ro như sự liên quan tỷ suất sinh lợi
thấp hoặc âm, nghĩa là khả năng tỷ suất sinh lợi ở dưới giá trị trung bình.
• Phương pháp 2: Sử dụng phạm vi tỷ suất sinh lợi để đo lường rủi ro.
Nội dung: Phạm vi tỷ suất sinh lợi tính từ tỷ suất sinh lợi thấp nhất đến tỷ
suất sinh lợi cao nhất, nghĩa là sự không chắc chắn lớn hơn và rủi ro tùy
thuộc vào tỷ suất sinh lợi mong đợi trong tương lai.
Ưu, nhược điểm của phương pháp: tương tự như ưu, nhược điểm của
phương pháp 1.
• Phương pháp 3: Sử dụng bán phương sai và căn bậc hai của bán phương sai
tỷ suất sinh lợi để đo lường rủi ro.
Sử dụng để đánh giá rủi ro sụt giảm (rủi ro sụt giá). Rủi ro sụt giảm tập trung hoàn
toàn vào tỷ suất sinh lợi không mong đợi.
Nội dung: Rủi ro sụt giá được tính bằng căn bậc hai của bán phương sai.Nếu
như tỷ suất sinh lợi cân xứng, nghĩa là tỷ suất sinh lợi đó gần như bằng nhau
14
và bằng x% trên hoặc dưới giá trị trung bình, thì bán phương sai chính xác
bằng ½ phương sai.
Ưu điểm của phương pháp: Chỉ đánh giá rủi ro liên quan đến việc tỷ suất
sinh lợi thấp hoặc âm.
Nhược điểm của phương pháp: Không rõ ràng, không có giá trị về mặt thống
kê. Khó tính toán trong xây dựng danh mục đầu tư lớn.
Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư giảm thiểu rủi ro như thế nào? Để hiểu rõ thêm
vấn đề này, chúng ta hãy xem xét một ví dụ của danh mục đầu tư với tỷ trọng vốn đầu tư
bằng nhau của 20 cổ phần của chỉ số Major Maket.Vào tháng 12/1992, những cổ phần này
có rủi ro bình quân là 27,8%, trong khi danh mục đầu tư có tỷ trọng vốn đầu tư bằng nhau
có rủi ro là 20,4%. Biểu đồ sau thể hiện sự giảm thiểu rủi ro tương ứng với sự tăng lên của
số lượng cổ phiếu.
Rõ ràng danh mục cổ phần sẽ có rủi ro thấp hơn so với từng cổ phần riêng lẻ. Các
nghiên cứu khác đã kết luận rằng một danh mục cổ phiếu được đa dạng hóa tốt phải có ít
16
nhất 30 cổ phiếu đối với một nhà đầu tư đi vay và 40 cổ phiếu đối với một nhà đầu tư cho
vay.
Tuy nhiên ta cũng phải lưu ý rằng việc đa dạng hóa danh mục đầu tư chỉ giảm thiểu
rủi ro chứ không xóa bỏ hoàn toàn rủi ro. Rủi ro còn lại (nghĩa là không thể giảm được
nữa) được gọi là rủi ro thị trường.
Nhưng nhìn chung, mục đích của đa dạng hóa là giảm độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lợi
của danh mục, nghĩa là giảm rủi ro của danh mục đầu tư. Đa dạng hóa danh mục đầu tư
không chỉ có nghĩa là đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư, mà còn có nghĩa là đa dạng hóa trong
nội bộ từng lĩnh vực đầu tư, chẳng hạn đa dạng hóa các loại chứng khoán. Khái niệm đa
dạng hóa đôi khi có thể hiểu xa là sự mở rộng phạm vi đầu tư ra thị trường quốc tế, chẳng
hạn nhà đầu tư không chỉ đầu tư ở Mỹ mà còn có thể đầu tư ở Đức, hay Nhật, hay Việt
Nam,vv..vv
1.5. Sự kết hợp cân nhắc giữa suất sinh lời và rủi ro
Chúng ta hãy bắt đầu với khái niệm mới “đường biên hiệu quả”. Đường biên hiệu
quả miêu tả tập hợp những danh mục đầu tư có tỷ suất sinh lợi lớn nhất có thể tương ứng
với mỗi mức độ rủi ro. Điều này có nghĩa là những danh mục đầu tư nằm trên đường biên
hiệu quả có tỷ suất sinh lợi lớn nhất đối với một mức độ rủi ro cho trước. Đồ thị dưới đây
là một đường biên hiệu quả, trục tung thể hiện suất sinh lợi, trục hoành thể hiện rủi ro.
17
So sánh danh mục A (nằm trên đường biên hiệu quả) và danh mục B(nằm trên
đường biên hiệu quả):