Luận văn
Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu hàng may mặc tại Công ty cổ
phần May Lê Trực
Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Việt Nam đang thực
hiện chiến lược hướng về xuất khẩu kết hợp song song với chiến lược thay
thế nhập khẩu. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng được đề
cập trong các kỳ đại hội của Đảng đã khẳng định tiếp “Đẩy mạnh sản xuất,
coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại.”
Đối với Việt Nam cũng như tất cả các nước trên thế giới, hoạt động
xuất khẩu đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế
và xây dựng đất nước. Đó là một phương tiện hữu hiệu cho phát triển kinh
tế, tăng thu ngoại tệ, phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, cải tiến công nghệ kỹ
thuật hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đặc biệt đây là yếu tố không
thể thiếu nhằm triển khai thực hiện chương trình Công nghiệp hoá - Hiện đại
hoá đất nước.
Trong điều kiện đất nước ta đang đổi mới hiện nay, ngành may mặc
được coi là một ngành quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Mục tiêu,
chiến lược, nhiệm vụ của ngành là góp phần thực hiện thắng lợi đường lối
của Đảng, góp phần thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất
nước đảm bảo nhu cầu may mặc toàn xã hội, không ngừng tăng cường xuất
khẩu và giải quyết việc làm cho người lao động.
Công ty cổ phần May Lê Trực là một doanh nghiệp được thành lập từ
một trong ba cơ sở may của công ty may Chiến Thắng - một trong những
công ty may mặc xuất khẩu đầu tiên của nước ta ra đời vào năm 1968 - bước
sang cổ phần hoá cùng với sự đổi mới về kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập
trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, công ty đã
nhanh chóng thích nghi với thị trường, ổn định sản xuất. Cùng với mặt hàng
may mặc xuất khẩu là mặt hàng chính của công ty từ trước tới nay công ty
1.1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu.
1.1.1.1. Khái niệm.
Xuất khẩu là hoạt động nhằm tiêu thụ một phần tổng sản phẩm xã hội ra
nước ngoài.
Hoạt động xuất khẩu là qúa trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các
quốc gia và lấy ngoại tệ làm phương tiện thanh toán.
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá không phải là những hành vi mua bán
riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức ở
cả bên trong và bên ngoài đất nước nhằm thu được ngoại tệ, những lợi ích
kinh tế xã hội thúc đẩy hoạt động xản xuất hàng hoá trong nước phát triển
góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế và từng bước nâng cao đời sống nhân
dân. Các mối quan hệ này xuất hiện có sự phân công lao động quốc tế và
chuyên môn hoá sản xuất.
Xuất khẩu là một phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trên thị
trường quốc tế nhằm tạo ra doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp góp
phần chuyển cơ cấu kinh tế của đất nước
Hoạt động xuất khẩu thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối ưu giữa khoa
học quản lý với nghệ thuật kinh doanh của doanh nghiệp, giữa nghệ thuật
kinh doanh với các yếu tố khác như: pháp luật, văn hoá, khoa học kỹ
thuật… không những thế hoạt động xuất khẩu còn nhằm khai thác lợi thế so
sánh của từng nước qua đó phát huy các lợi thế bên trong và tận dụng những
lợi thế bên ngoài, từ đó góp phần cải thiện đời sống nhân dân và đẩy nhanh
quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa, rút ngắn khoảng cách giữa nước
ta với các nước phát triển, mặt khác tạo ra doanh thu và lợi nhuận giúp
doanh nghiệp phát triển ngày một cao hơn.
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
4
Khoá luận tốt nghiệp
1.1.1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu.
* Đối với doanh nghiệp (DN).
vụ quá trính Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá.
- Thông qua việc xuất khẩu những mặt hàng có thế mạnh chúng ta có
thể phát huy được lợi thế so sánh, sử dụng lợi thế các nguồn lực trao đổi
thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến. Đây là yếu tố then chốt trong
chương trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước đồng thời phát triển
các ngành công nghiệp sản xuất hay xuất khẩu có tính cạnh tranh ngày càng
cao hơn.
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống của người lao động.
- Hoạt động xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy mối quan hệ
kinh tế đối ngoại của nước ta.Thông qua hoạt động xuất khẩu môi trường
kinh tế được mở rộng tính cạnh tranh ngày càng cao đòi hỏi các doanh
nghiệp luôn phải có sự đổi mới để thích nghi, đáp ứng được nhu cầu của thị
trường. Hoạt động xuất khẩu góp phần hoàn thiện các cơ chế quản lý xuất
khẩu của nhà nước và của từng điạ phương phù hợp với yêu cầu chính đáng
của doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu.
- Mặt khác, hoạt động xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng
loạt ngành sản xuất phát triển, đồng thời cũng thúc đẩy các ngành dịch vụ hỗ
trợ hoạt động xuất khẩu phát triển như ngành bảo hiểm, hàng hải, thông tin
liên lạc quốc tế, dịch vụ tài chính quốc tế đầu tư…, xuất khẩu tạo khả năng
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện tiền đề kinh tế kỹ thuật
đồng thời việc nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Điều đó chứng tỏ
xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo vốn, đưa kỹ thuật công nghệ nước
ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nước.
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
6
Khoá luận tốt nghiệp
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu.
1.1.2.1. Xuất khẩu trực tiếp.
thường là các nước phát triển, còn bên nhận gia công thường là các nước
chậm phát triển. Đó là sự khác nhau về lợi thế so sánh của mỗi quốc gia.
Đối với bên đặt gia công, họ tìm kiếm một nguồn lao động với giá rẻ hơn
giá trong nước nhằm giảm chi phí sản xuất tăng lợi nhuận, còn bên nhận gia
công có nguồn lao động dồi dào mong muốn có việc làm tạo thu nhập, cải
thiện đời sống và qua đó tiếp nhận những thành tựu khoa học công nghệ tiên
tiến.
1.1.2.3. Xuất khẩu tại chỗ.
Là hình thức mà hàng hoá xuất khẩu được bán ngay tại nước xuất
khẩu.
Doanh nghiệp ngoại thương không phải ra nước ngoài để đàm phán,
ký kết hợp đồng mà người mua tự tìm đến doanh nghiệp để mua hàng. Hơn
nữa, doanh nghiệp cũng không phải làm thủ tục hải quan, mua bảo hiểm
hàng hoá hay thuê phương tiện vận chuyển.
Đây là hình thức xuất khẩu đặc trưng, khác biệt so với hình thức xuất
khẩu khác và ngày càng được vận dụng theo nhiều xu hướng phát triển trên thế
giới.
1.1.2.4. Tái xuất khẩu.
Tái xuất khẩu là hình thức xuất khẩu những hàng hoá nhập khẩu
nhưng qua chế biến ở nước tái xuất khẩu ra nước ngoài.
Giao dịch trong hình thái tái xuất khẩu bao gồm nhập khẩu và xuất
khẩu. Với mục đích thu về lượng ngoại tệ lớn hơn so với số vốn ban đầu bỏ
ra. Giao dịch này được tiến hành dưới ba nước: nước xuất khẩu, nước tái
xuất khẩu và nước nhập khẩu.
Hình thức tái xuất khẩu có thể tiền hành theo hai cách:
+ Hàng hoá đi từ nước tái xuất khẩu đến nước tái xuất khẩu và đi từ
nước tái xuất khẩu sang nước xuất khẩu. Ngược lại, dòng tiền lại được
chuyển từ nước nhập khẩu sang nước tái xuất khẩu rồi sang nước xuất khẩu
(nước tái xuất khẩu trả tiền nước xuất khẩu rồi thu tiền nước nhập).
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
thị trường. Thông tin thu thập tại hiện trường chủ yếu được thu thập được
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
9
Khoá luận tốt nghiệp
theo trực quan của nhân viên khảo sát thị trường, thông tin này cũng có thể
thu thập theo kiểu phỏng vấn theo câu hỏi. Loại thông tin này đang ở dạng
thô cho nên cần xử lý và lựa chọn thông tin cần thiết và dáng tin cậy.
* Tổ chức phân tích thông tin và xử lý thông tin.
Phân tích thông tin về môi trường: Môi trường có ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy khi phân tích cần phải
thu thập và thông tin về môi trường một cách kịp thời và chính xác.
Phân tích thông tin về giá cả hàng hoá: Giá cả hàng hoá trên thị
trường thế giới biến động rất phức tạp và chịu chi phối bởi các nhân tố chu
kỳ, nhân tố lũng đoạn, nhân tố cạnh tranh, nhân tố lạm phát.
Phân tích thông tin về nhu cầu tiêu dùng: Nhu cầu của thị trường là
tiêu thụ được, chú ý đặc biệt trong marketing, thương mại quốc tế, bởi vì
công việc kinh doanh được bắt nguồn từ nhu cầu thị trường.
* Lựa chọn thị trường xuất khẩu.
- Các tiêu chuẩn chung như chính trị pháp luật, địa lý, kinh tế, tiêu
chuẩn quốc tế.
- Các tiêu chuẩn về quy chế thương mại và tiền tệ.
+ Bảo hộ mậu dịch: thuế quan, hạn ngạch giấy phép.
+ Tình hình tiền tệ: tỷ lệ lạm phát, sức mua của đồng tiền.
- Các tiêu chuẩn thương mại.
+ Sản xuất nội địa.
+ Xuất khẩu.
Các tiêu chuẩn trên phải được đánh giá, cân nhắc điều chỉnh theo mức
độ quan trọng. Vì thường sau khi đánh giá họ sẽ chiếm các thị trường, sau
đó chọn thị trường tốt nhất.
1.1.2. Xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất khẩu.
Hoàn giá: khi nhận được thư chào hàng nếu không chấp nhận điều
kiện trong thư mà đưa ra đề nghị mới thì đề nghị này được gọi là hoàn giá.
Chấp nhận: là đồng ý hoàn toàn bộ tất cả các diều kiện trong thư chào
hàng.
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
11
Khoá luận tốt nghiệp
Xác nhận: hai bên mua bán thống nhất với nhau về các điều kiện đã
giao dịch. Họ đồng ý với nhau và đồng ý thành lập văn bản xác nhận
(thường lập thành hai bản).
Ngày nay tồn tại hai loại giao dịch:
- Giao dịch trực tiếp: là giao dịch mà người mua và người bán thoả
thuận bàn bạc trực tiếp.
- Giao dịch gián tiếp: là giao dịch thông qua các tổ chức trung gian.
Tuỳ theo trường hợp cụ thể mà các doanh nghịêp chọn phương thức
giao dịch thích hợp. Trong thực tế hiện nay, giao dịch trực tiếp được áp
dụng rộng rãi bởi giảm được chi phí trung gian, dễ dàng thống nhất, có điều
kiện tiếp xúc với thị trường, khách hàng, chủ động trong sản xuất và tiêu thụ
hàng hoá.
* Ký kết hợp đồng.
Việc giao dịch đàm phán có kết quả tốt thì coi như đã hoàn thành
công việc ký kết hợp đồng. Ký kết hợp đồng có thể ký kết trực tiếp hay
thông qua tài liệu.
Khi ký kết cần chú ý đến vấn đề địa điểm thời gian và tuỳ từng trường
hợp mà chọn hình thức ký kết.
1.2.4. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Để thực hiện hợp đồng xuất khẩu thì doanh nghiệp phải thực hiện các
công việc khác nhau. Tuỳ theo điều khoản hợp đồng mà doanh nghiệp phải
làm một số công việc nào đó. Thông thường các doanh nghiệp cần thực hiện
các công việc được mô tả theo sơ đồ.
có được sau khi đã trừ đi toàn bộ chi phí liên quan đến việc thực hiện hợp
đồng đó và tổng doanh thu có được của hợp đồng.
0 Công thức tính lợi nhuận.
P = TR - TC
Trong đó : P : là lợi nhuận.
TR: là tổng doanh thu.
TC: là tổng chi phí.
- Tỉ suất lợi nhuận: Tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ
lệ phần trăm (%) của lợi nhuận trên tổng doanh thu.
Công thức tính: P’ = P/TR*100
- Hệ số sinh lời của chi phí P’’.
Công thức tính: P’’ = P/TC*100
Trong đó P’’ là hệ số sinh lời của chi phí.
Chỉ tiêu P’ nói lên rằng: tỷ lệ % lãi so với tổng chi phí của doanh
nghiệp sau khi thực hiện hợp đồng, hay khả năng sinh lời của một đồng chi
phí. Chỉ tiêu này có thể so sánh với tỷ suất lãi của ngân hàng hay so với một
tiêu chuẩn nào đó.
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
13
Khoá luận tốt nghiệp
- Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu: là tỷ lệ giữa tổng chi phí tính
bằng ngoại tệ trên doanh thu tính bằng ngoại tệ. Chỉ tiêu này đem so sánh
với tỷ giá hối đoái của ngân hàng, nếu chỉ tiêu trên bé hơn tỷ giá thì thực
hiện đường lối có hiệu quả và ngược lại.
Tỷ suất ngoại xuất khẩu = Chi phí (VND)/Doanh thu (ngoại tệ)
* Chỉ tiêu phản ánh kết quả định tính.
Hợp đồng xuất khẩu cũng như hợp đồng kinh doanh khác của doanh
nghiệp không chỉ nhằm vào mục tiêu lợi nhuận mà còn nhiều mục tiêu khác
như: mở rộng thị trường, định vị sẩn phẩm, cạnh tranh…
Có nhiều doanh nghiệp chịu lỗ để đạt được mục tiêu về cạnh tranh,
lao động hoặc ngược lại lao động nhiều mà không có vốn thì doanh nghiệp
sẽ không phát triển được hoặc phát triển mất cân đối. Vốn là một nhân tố
quan trọng trong hàm sản xuất và nó quyết định tốc độ tăng sản lượng của
doanh nghiệp.
+ Chất lượng sản phẩm: chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu
những đặc trưng của nó thể hiện sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện
tiêu dùng nhất định, phù hợp với công dụng sản phẩm mà người tiêu dùng
mong muốn.
+ Giá sản phẩm: giá cả ảnh hưởng đến khối lượng tiêu dùng sản
phẩm, giá rẻ thì khả năng tiêu thụ sản phẩm sẽ nhanh hơn, khả năng tiêu thụ
trên thị trường thế giới sẽ cao hơn, sẽ xuất khẩu nhiều hơn.
+ Biện pháp marketing: biện pháp này nâng cao thế lực của doanh
nghiệp trước các đối thủ cạnh tranh, marketing giúp các doanh nghiệp quảng
cáo các sản phẩm của mình cho nhiều người biết, biện pháp marketing giúp
cho doanh nghiệp nâng cao uy tín của mình quảng cáo, xúc tiến bán hàng
giới thiệu cho người tiêu dùng biết chất lượng, giá cả của sản phẩm mình.
+ Các dịch vụ đi kèm: Doanh nghiệp muốn tiêu thụ được nhiều sản
phẩm thì dịch vụ bán hàng phải phát triển những dịch vụ này giúp tạo tâm lý
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
15
Khoá luận tốt nghiệp
tích cực cho người mua, khi mua và tiêu dùng hàng hoá và sau nữa cũng thể
hiện trách nhiệm xã hội và đạo đức trong kinh doanh của doanh nghiệp. Đây
cũng là một vũ khí trong cạnh tranh lành mạnh và hữu hiệu.
b. Trình độ quản lý của doanh nghiệp.
+ Ban lãnh đạo doanh nghiệp: là bộ phận đầu não của doanh nghiệp là
nơi xây dựng những chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp đề ra mục tiêu
đồng thời giám sát, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch đã đề ra. Trình độ
quản lý kinh doanh của ban lãnh đạo có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động
xuất khẩu của doanh nghiệp. Một chiến lược doanh nghiệp đúng đắn phù hợp
của doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế.
1.3.2.2. Các yếu tố vĩ mô.
a. Tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ, của một quốc gia tính
bằng tiền của một nước khác, đó là quan hệ so sánh của hai đồng tiền của
hai quốc gia khác nhau.
TGHĐ thực tế = TGHĐ danh nghĩa * chỉ số thực / Chỉ số giá trong nước
Tỷ giá hối đoái tăng hay giảm chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác
nhau như chênh lệch lạm phát, tình trạng cán cân thanh toán, yếu tố tâm lý.
Khi giá đồng nội tệ tăng (lên giá) so với ngoại tệ thì gây khó khăn cho
xuất khẩu, song lại tạo điều kiện cho nhập khẩu.
Ngược lại khi đồng nội tệ giảm so với ngoại tệ sẽ có lợi cho xuất
khẩu. Tỷ giá hối đoái giảm sẽ tạo điều kiện cho nước ngoài đầu tư. Vì vậy
việc quy định tỷ giá hối đoái sao cho hợp lý là vấn đề quan tâm của Nhà
nước.
b. Các yếu tố pháp luật.
Mỗi quốc gia đều có những bộ luật riêng và đặc điểm tính chất của hệ
thống pháp luật của mỗi nước phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh
tế của từng nước. Các yếu tố pháp luật chi phối mạnh mẽ đến mọi hoạt động
của nên kinh tế và xã hội đang phát triển trong nước đó. Vì vậy doanh
nghiệp xuất khẩu phải hiểu rõ môi trường pháp luật của quốc gia mình và
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
17
Khoá luận tốt nghiệp
các quốc gia mà doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng hoá sang hoặc dự
định xuất khẩu sang. Hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ các mặt
sau:
+ Các quy định về thuế, chủng loại, khối lượng, quy cách.
+ Quy định về hợp đồng, giao dịch bảo vệ quyền tác giả, quyền sở
hữu trí tuệ.
giới được thành lập với quy mô ngày càng lớn thì điều đó cho phép hàng hoá
tự do qua lại biên giới các nước thì rõ ràng các hoạt động xuất khẩu cũng vì
vậy mà phát triển.
- Hệ thống tài chính ngân hàng.
Hệ thống tài chính ngân hàng hiện đang phát triển hết sức mạnh , có
ảnh hưởng trực tiếp tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh xuất khẩu. Hệ thống tài chính ngân hàng có vai trò to lớn
trong việc quản lý, cung cấp vốn đảm bảo việc thực hiện thanh toán một cách
thuận tiện nhanh chóng cho các doanh nghiệp. Chính sách kinh tế quốc gia
được thực hiện qua hệ thống tài chính ngân hàng tạo điều kiện phát triển cơ sở
hạ tầng, tạo những công trình xây dựng mới giúp cho hoạt động xuất khẩu,
hoạt động kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp được thuận lợi.
Trong hoạt động xuất khẩu, vấn đề đảm bảo việc thanh toán được thực
hiện tốt là hết sức quan trọng, đặt biệt đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất
khẩu vì qua việc này doanh nghiệp thu hồi được vốn và có lợi nhuận.
Việc thanh toán chủ yếu thông qua ngân hàng. Như vậy ngân hàng trở
thành cầu nối giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu, đảm bảo quyền lợi cho cả
hai bên.
- Sự ổn định của giá trị đồng tiền.
Nếu giá của đồng tiền dùng để thanh toán lên giá hoặc giảm giá thì lợi
ích một trong hai bên sẽ bị thiết hại và họ sẽ xem xét có nên tiếp tục quan hệ
thương mại với nhau nữa hay không khi lợi ích của họ không được đảm bảo.
e. Các yếu tố khoa học công nghệ.
Các yếu tố khoa học công nghệ quan hệ chặt chẽ với nhau hoạt động
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
19
Khoá luận tốt nghiệp
kinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Sự phát triển của khoa học
công nghệ ngày càng làm cho các doanh nghiệp đạt được trình độ công nghiệp
hoá cao, quy mô tăng lên, tiết kiệm được chi phí sản xuất, hạ giá thành, chất
**********************
Tóm tắt Phần I
Xuất khẩu là phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trên thị
trường quốc tế nhằm tạo và thu lợi nhuận cho doanh nghiệp. Xuất khẩu
không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà nó còn là phương tiện
thúc đẩy kinh tế, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hoạt động xuất khẩu
thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa học quản lý với nghệ thuật kinh
doanh, giữa nghệ thuật kinh doanh với các yếu tố khác như pháp luật, văn
hoá, xã hội, khoa học công nghệ…Quá trình thực hiện hoạt động xuất
khẩu được diễn ra trên nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đòi hỏi doanh
nghiệp phải tiến hành theo những hình thức nhất định. Hoạt động xuất
khẩu là một hoạt sản xuất kinh doanh phức tạp, không những chịu ảnh
hưởng của những điều kiện môi trường chủ quan trong doanh nghiệp mà
phần lớn sự tác động của các yếu tố của môi trường vĩ mô trong nước
cũng như quốc tế là những nhân tố giữ vai trò quan trọng và phần lớn
quyết định sự tồn tại và phát triển của hoạt động xuất khẩu.
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
21
Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
HÀNG MAY MẶC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY LÊ
TRỰC
2.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN MAY LÊ TRỰC.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty cổ phần May Lê Trực được thành lập ngày 01/01/2000.Trước
đây công ty là một trong ba cơ sở may của Công ty May Chiến Thắng.
- Cơ sở may số 8B Lê Trực - Ba Đình - Hà Nội.
- Cơ sở may số 22 Thành Công - Ba Đình - Hà Nội.
- Cơ sở dệt thảm len số 115 Nguyễn Lương Bằng - Đống Đa - Hà
Nội.
khoản riêng và con dấu riêng, hoạt động theo điều lệ công ty và Luật công
ty. Công ty có vốn điều lệ ban đầu là 4,2 tỷ VNĐ (Từ ba nguồn chính: Nhà
Nước, cán bộ công nhân viên trong công ty và các nguồn khác).
Sau năm năm hoạt động mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng công
ty đã vượt qua, không ngừng vươn lên và tự khẳng định mình. Sự phát triển
của công ty đã được thể hiện rõ qua kết quả hoạt động kinh doanh trong
những năm gần đây.
2.1.2. Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần May Lê
Trực.
Là một công ty may nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất kinh
doanh các mặt hàng may mặc, chủ yếu là nhận gia công các mặt hàng may
mặc của khách hàng nước ngoài, xuất nhập khẩu hàng may mặc. Bên cạnh
đó công ty còn kinh doanh các ngành nghề tổng hợp mà Nhà nước cho phép.
Sản phẩm sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ ở nước ngoài như các nước Đài
Loan, Hàn Quốc và một số nước Châu Âu…do vậy hàng năm Công ty cổ
phần May Lê Trực cũng đóng góp một phần vào kim ngạch xuất khẩu hàng
dệt may ở nước ta.
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
23
Khoá luận tốt nghiệp
Mục tiêu của công ty hướng tới trong hoạt động là huy động vốn có
hiệu quả cho việc phát triển sản xuất kinh doanh hàng may mặc và các lĩnh
vực khác nhằm thu lợi nhuận tối đa tạo việc làm ổn định cho người lao
động, tăng cổ tức cho các cổ đông đóng góp vào ngân sách Nhà nước và
công ty. Bên cạnh đó công ty còn chăm lo cải thiện đời sống, tổ chức bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ công nhân viên trong công
ty. Với mục tiêu hoạt động như vậy Công ty cổ phần May Lê Trực đã và
đang tham gia tích cực vào chủ trương phát triển đất nước đưa đất nước đi
lên ngày càng giàu mạnh của Đảng và Nhà nước.
2.1.3. Phương thức kinh doanh chủ yếu của công ty.
phần công ty có trụ sở duy nhất tại phố Lê Trực - Hà Nội với mặt bằng diện
tích hơn 6000 m2. Công ty hiện có ba phân xưởng sản xuất với diện tích
mặt bằng gần 4000 m2 còn lại là hệ thống kho bãi, cửa hàng giới thiệu sản
phẩm và tòa nhà văn phòng công ty. Hiện tại công ty có hệ thống cửa hàng
đại lý và giới thiệu sản phẩm trên toàn miền Bắc. Trong nước công ty có
quan hệ bạn hàng với các đơn vị sản xuất kinh doanh cung cấp nguyên liệu
đầu vào cho công ty (các nhà cung ứng nội địa). Tại nước ngoài công ty có
quan hệ làm ăn với các nước Châu Á như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc,
các nước Châu âu như Nga, Đức…
Khoa Qu¶n trÞ kinh doanh
25