NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 67

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về tài trợ xuất nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm tài trợ xuất nhập khẩu
Mỗi quốc gia trên thế giới đều sở hữu những nét đặc trưng riêng biệt về điều
kiện tự nhiên, khí hậu, nguồn nhân lực… chính điều này đã tạo cho mỗi một nước
có một nền sản xuất khác nhau. Nếu chỉ dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và nền
sản xuất trong nước thì không thể cung cấp đầy đủ nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch
vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng phục vụ cho hoạt động sản
xuất và tiêu dùng của nền kinh tế. Chính vì thế một quốc gia không những có thể
sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước về loại sản
phẩm dịch vụ đó, mà còn dư thừa để xuất khẩu sang các nước khác bằng cách khai
thác tiềm năng và lợi thế kinh tế vốn có của mình, nhờ đó thu về nguồn ngoại tệ để
phục vụ cho nhu cầu NK những hàng hoá mà trong nước không có khả năng đáp
ứng và cho các khoản chi tiêu bằng ngoại tệ khác.
Việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều được thực hiện thông qua hoạt
động ngoại thương. Như vậy, hoạt động ngoại thương tạo cầu nối gắn kết các quốc
gia, các khối kinh tế, đồng thời tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia về mặt
kinh tế.
Tuy nhiên thương mại quốc tế là một hoạt động phức tạp, do các chủ thể
tham gia đều thuộc các quốc gia khác nhau nên có sự khác biệt về mặt ngôn ngữ,
phong tục, tập quán, luật pháp cũng như về khoảng cách địa lý… là những rào cản
khiến cho hoạt động ngoại thương giữa các bên trở nên khó khăn hơn. Mặt khác,
hoạt động xuất nhập khẩu thường được thực hiện với giá trị lớn và tiềm ẩn nhiều
rủi ro do đối tác không thực hiện nghĩa vụ của mình đã được quy định trong hợp
đồng. Thêm vào đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương, nhà sản xuất
hay các thương nhân không phải lúc nào cũng có đủ vốn và uy tín để hoàn thành
nghĩa vụ của mình hoặc để tạo niềm tin cho phía đối tác. Từ những lý do đó, trong
thương mại quốc tế, các doanh nghiệp luôn cần có sự tham gia của các NHTM,
nhằm hỗ trợ doanh nghiệp gia tăng hiệu quả kinh doanh và thực hiện thương vụ
thành công. Chính vì vậy, hoạt động tài trợ XNK của NHTM ra đời được xem như

mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và đem lại nhiều thuận lợi cho sự phát triển
kinh tế.
- Hoạt động tài trợ giúp cho doanh nghiệp phát triển, tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh, mở rộng sản xuất góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, góp phần
phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước.
- Tài trợ XNK cũng được coi là một trong những công cụ để triển khai có
hiệu quả các chiến lược phát triển kinh tế – chính trị – xã hội của quốc gia. Tài trợ
XNK góp phần đáng kể hỗ trợ cho các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế,
cân bằng cán cân thanh toán, góp phần mở rộng mối quan hệ đối ngoại với các
quốc gia trên thế giới.
1.1.2.2. Đối với Ngân hàng Thương mại
Tài trợ XNK đối với NHTM là một trong những nghiệp vụ quan trọng trong
các nghiệp vụ của ngân hàng quốc tế, mang lại thu nhập cao, sử dụng vốn an toàn,
thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Thời hạn của tài trợ là ngắn hạn do gắn liền với thời gian thực hiện thương
vụ hay chu kỳ sản xuất kinh doanh của nhà XNK. Thời gian thực hiện thương vụ
đối với nhà XK kể từ khi gom hàng, xuất đi đến lúc nhận được tiền thanh toán của
người mua. Đối với nhà NK, thời gian kể từ lúc nhận hàng tại cảng cho đến khi
bán hết được hàng và thu tiền về. Kỳ hạn tài trợ ngắn phù hợp với kỳ hạn huy động
vốn của các ngân hàng là dưới một năm. Điều này giúp cho ngân hàng thu hồi vốn
nhanh và tránh được rủi ro thanh khoản.
- Tài trợ XNK đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích. Trong một số trường
hợp, vốn được tài trợ thanh toán thẳng cho bên thứ ba mà không qua bên xin tài trợ
như thanh toán tiền hàng NK, thanh toán tiền nguyên vật liệu cho các đại lý gom
hàng cho người XK… Như thế, ngân hàng sẽ dễ dàng kiểm soát tình hình sử dụng
vốn của doanh nghiệp có đúng mục đích không và kịp thời thu hồi các khoản nợ
khi doanh nghiệp có nguồn thu, tránh được tình trạng xin tài trợ sử dụng vốn sai
mục đích và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
- Tài trợ XNK nâng cao tính an toàn cho ngân hàng thông qua việc quản lý

- Tài trợ giúp làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện
hợp đồng: thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp nhận được vốn để thực
hiện thương vụ. Đối với doanh nghiệp XK, vốn tài trợ doanh nghiệp thu mua hàng
đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng thời điểm. Đối với doanh
nghiệp NK, vốn tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp mua được những lô hàng
lớn, giá hạ đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường trong nước.
- Việc tài trợ XNK của ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp có vốn để nhập
khẩu máy móc thiết bị hiện đại, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, dây chuyền sản
xuất chế biến trên cơ sở đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng quy mô, nâng cao
chất lượng hàng hoá, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, mở rộng sản xuất kinh
doanh, có thể đứng vững trong cơ chế thị trường và tạo khả năng cạnh tranh trên cả
thị trường trong nước và quốc tế.
- Tài trợ XNK làm gia tăng lợi ích cho cả nhà XK và nhà NK: có sự bảo lãnh
của ngân hàng và vốn tín dụng được ngân hàng cấp thì năng lực thực hiện hợp
đồng của các doanh nghiệp XNK đã được đảm bảo, tạo lợi thế cho doanh nghiệp
trong quá trình thực hiện thương vụ. Đối với nhà NK, thì việc đảm bảo về thanh
toán sẽ giúp cho nhà NK có thể thương lượng để được giá cả tốt hơn hoặc kéo dài
khả năng thanh toán. Đối với nhà XK khi cần tăng khả năng cạnh tranh có thể đồng
ý cho nhà NK trả chậm trên cơ sở được ngân hàng chấp nhận thanh toán hối phiếu
kỳ hạn, sau đó mang hối phiếu đã được chấp nhận đến ngân hàng phục vụ mình để
chiết khấu đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh.
- Tài trợ XNK giúp doanh nghiệp tạo lập, nâng cao uy tín trên thị trường
quốc tế: thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp thực hiện thương vụ một
cách trôi chảy, thiết lập được mối quan hệ với những khách hàng tầm cỡ trên thế
giới, từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường thế giới.
1.1.3. Vai trò của Ngân hàng Thương mại trong hoạt động tài trợ xuất nhập
khẩu
Tài trợ XNK là lĩnh vực kinh doanh mang tính chất truyền thống của
NHTM, ngày nay có nhiều tổ chức phi ngân hàng cũng tham gia vào lĩnh vực này
như thị trường chứng khoán, công ty tài chính, quỹ đầu tư phát triển… Tuy nhiên

XNK.
Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp các nghiệp vụ phái sinh như: Swap,
Forward, Future, Option… để giúp khách hàng xử lý các khoản ngoại tệ cần thiết
trong quá trình thực hiện thương vụ, đồng thời hạn chế được rủi ro tỷ giá cho
khách hàng giúp khách hàng bảo toàn lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình.
Qua những phân tích trên thì ta có thể thấy vai trò của NHTM trong hoạt
động tài trợ XNK là khó có thể bị thay thế bởi một tổ chức nào khác. Những dịch
vụ tiện ích mà ngân hàng cung cấp không chỉ giúp doanh nghiệp thực hiện thành
công thương vụ của mình mà còn giúp nâng cao uy tín, nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung khi tham gia vào
thương mại quốc tế.
1.2. Các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng Thương mại
1.2.1. Tài trợ nhập khẩu
1.2.1.1. Tài trợ phát hành L/C
Thư tín dụng (letter of credit) được định nghĩa như một bức thư, do một
ngân hàng lập ra, trên cơ sở yêu cầu của khách hàng là người NK, trong đó ngân
hàng này cam kết trả một số tiền nhất định, trong một thời hạn nhất định cho người
XK, với điều kiện người này xuất trình bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những
điều khoản và điều kiện đã quy định trong thư tín dụng. Khi ngân hàng đồng ý mở
L/C cho nhà NK, có nghĩa là ngân hàng cam kết thanh toán cho người hưởng lợi
nếu bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C. Ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ro nếu
như người NK không có khả năng thanh toán, ngân hàng mở L/C phải thanh toán
cho nhà XK nước ngoài, điều này có nghĩa là ngân hàng mở L/C cấp tín dụng cho
nhà NK.
Như vậy, trách nhiệm của ngân hàng phát hành L/C trong hình thức tài trợ
này là rất lớn, do đó ngân hàng luôn yêu cầu một tỷ lệ ký quỹ nhất định (có thể từ 0
– 100%) được xác định trên cơ sở uy tín của khách hàng, loại L/C, loại hàng hoá
nhập… Khi ngân hàng yêu cầu khách hàng ký quỹ 100% nghĩa là ngân hàng chỉ
đồng ý tài trợ cho khách hàng về mặt uy tín. Ngược lại khi tỷ lệ ký quỹ nhỏ hơn

thông báo cho người XK biết thì L/C kế tiếp mới có giá trị hiệu lực.
L/C tuần hoàn được áp dụng trong trường hợp hai bên mua bán những mặt
hàng có giá trị lớn, có quan hệ cung cấp hàng hoá hay dịch vụ thường xuyên, giao
nhiều lần trong năm với số lượng đều đặn. L/C tuần hoàn được mở ra để tạo thuận
lợi cho nhà NK trong khâu thanh toán, tránh được tình trạng ứ đọng vốn và giúp
cho nhà NK không bị tính phí mở L/C nhiều lần.
• Tài trợ bằng L/C dự phòng (Standby L/C)
Trong trường hợp nhà XK đã nhận được L/C, tiền đặt cọc và tiền ứng trước,
nhưng không có khả năng giao hàng hoặc không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
như đã quy định trong L/C, đòi hỏi ngân hàng phục vụ nhà XK phát hành một L/C
trong đó cam kết với người NK là sẽ hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước
và chi phí mở L/C cho nhà NK. Như vậy, L/C dự phòng được mở ra để đảm bảo
quyền lợi cho nhà NK và tránh được rủi ro khi người XK không hoàn thành nghĩa
vụ như đã nêu trong L/C.
1.2.1.2. Cho vay thanh toán bộ chứng từ hàng nhập
Theo hình thức này, khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh doanh
mang tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất kinh doanh. Đồng thời,
khách hàng phải lên kế hoạch tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán để đến
thời điểm thanh toán dự kiến có thể xác định khoản thiếu hụt cần ngân hàng tài trợ.
Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch cũng như phương án của khách hàng:
hiệu quả sử dụng vốn vay, khả năng tài chính, khả năng trả nợ, tài sản thế chấp…
để quyết định mức tài trợ cho nhà NK. Tất cả các công đoạn này phải được thực
hiện trước khi bộ chứng từ giao hàng của người XK về đến ngân hàng đứng ra tài
trợ. Trường hợp bộ chứng từ đã về đến rồi khách hàng mới xin tài trợ thanh toán
thì khả năng bị ngân hàng từ chối là rất lớn vì ngân hàng ít có thời gian xem xét bộ
chứng từ cũng như đánh giá khả năng hoàn vốn của khách hàng cho khoản tiền mà
ngân hàng tài trợ.
1.2.1.3. Bảo lãnh cho hoạt động nhập khẩu
a) Phát hành bảo lãnh thanh toán
Thực tế đa số các ngân hàng nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoài cho

tàu chở hàng đến trước khi ngân hàng nhận được bộ chứng từ. Điều đó có nghĩa là
người mua chưa có vận đơn để nhận hàng. Hàng hoá để ở cảng một thời gian dài
có thể sẽ bị giảm phẩm chất, ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của nhà
NK, đồng thời phải chịu chi phí lưu kho, lưu bãi rất lớn. Trong trường hợp này, để
sớm nhận được hàng nhằm tránh các rủi ro, người mua yêu cầu ngân hàng ngân
hàng của mình phát hành một cam kết (thay thế cho vận đơn) gọi là bảo lãnh nhận
hàng. Người NK sẽ xuất trình bảo lãnh nhận hàng cho công ty vận tải để tới cảng
nhận hàng.
Bảo lãnh nhận hàng được ngân hàng phát hành khi người NK chưa có vận
đơn, do vậy khi nhận được vận đơn thì sẽ tiến hành giao vận đơn đó cho hàng tàu
để giải phóng bảo lãnh nhận hàng. Thực hiện bảo lãnh nhận hàng có thể mang lại
rủi ro cho ngân hàng, vì vậy, trong bảo lãnh nhận hàng ngân hàng sẽ có quy định
cho biết bảo lãnh đó sẽ hết hạn sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận hàng hoặc kể
từ ngày nhà NK có bộ chứng từ trong tay.
d) Các hình thức bảo lãnh khác
Bên cạnh các hình thức bảo lãnh trên thì hình thức ký hậu hối phiếu (Bill of
Exchange) cũng là một trong những loại hình tài trợ uy tín của ngân hàng. Trong
hình thức này khách hàng yêu cầu ngân hàng ký chấp nhận trên hối phiếu nhận nợ
nước ngoài. Chấp nhận hối phiếu là hành vi cam kết của người có nghĩa vụ trả tiền
khi hối phiếu đến thời hạn thanh toán. Việc này được thể hiện bằng chữ ký của
người đó ở mặt trước, góc trái của hối phiếu.
Thực chất của hình thức ký chấp nhận hối phiếu là ngân hàng sẽ tiến hành
cung ứng cho nhà NK một khoản tín dụng và khoản vay này chỉ là hình thức bảo
đảm về mặt tài chính, thực chất ngân hàng chưa phải xuất tiền ngay cho người vay.
Tuy nhiên, khi hối phiếu đến hạn, nhà NK không có đủ khả năng thanh toán thì
ngân hàng (người cho vay hay người đứng ra chấp nhận hối phiếu) sẽ tiến hành trả
nợ thay.
Tài trợ chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên XK thiếu tin tưởng
vào khả năng thanh toán của bên NK nên có thể đề nghị bên NK yêu cầu một ngân
hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên XK ký phát. Việc ngân hàng ký

được điện chuyển tiền từ ngân hàng nước ngoài, ngân hàng thông báo ghi có trên
tài khoản cho vay để thu nợ. Trường hợp giữa ngân hàng mở và thông báo L/C là
đại lý có mở tài khoản tiền gửi cho nhau, việc thực hiện thanh toán bộ chứng từ để
thu nợ được tiến hành nhanh chóng thuận tiện dễ dàng nên ngân hàng có thể tài trợ
mức lãi suất ưu đãi thấp hơn mức lãi suất bình thường.
- Khi ngân hàng tài trợ không phải là ngân hàng thông báo cũng không phải
là ngân hàng thanh toán, rủi ro có thể xảy ra nếu như sau khi tài trợ doanh nghiệp
không xuất được hàng hoặc xuất được hàng nhưng gặp rủi ro trong giao nhận hàng
hay thanh toán, hoặc khách hàng không dùng số tiền trên vào mục đích xuất hàng
như đã cam kết.
b) Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Do trong thương mại quốc tế rủi ro ngày càng lớn cho nên bảo lãnh ngày
càng có vai trò quan trọng. Nhà NK không tin cậy hoàn toàn vào khả năng thực
hiện hợp đồng của người XK, họ sẽ nhờ vào bảo lãnh của ngân hàng. Hình thức
này trong ngân hàng gọi là bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Loại bảo lãnh này nhằm
chống đỡ rủi ro cho người hưởng thụ trong trường hợp người cung cấp không thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng, chẳng hạn như giao hàng chậm trễ, không đúng
chất lượng, số lượng… Bảo lãnh thực hiện hợp đồng được sử dụng thay thế cho
yêu cầu ký quỹ mà người đặt hàng đề nghị đối với người cung ứng để đảm bảo bồi
thường vi phạm hợp đồng. Do đó giá trị tối đa của bảo lãnh là tương đương với bồi
thường (tính tỷ lệ % trên giá trị hợp đồng, dao động ở mức 10%-15%). Thông
thường hiệu lực của loại bảo lãnh này chấm dứt khi người được bảo lãnh hoàn
thành nghĩa vụ cung ứng của họ.
c) Tài trợ bằng các L/C đặc biệt
• Tài trợ bằng L/C điều khoản đỏ (Red Clause L/C)
L/C điều khoản đỏ là một loại L/C không thể huỷ ngang, được phát hành
được phát hành với một điều khoản trong nội dung cho phép của ngân hàng thông
báo ứng trước cho nhà XK một phần hoặc toàn bộ giá trị L/C theo các điều khoản,
điều kiện cụ thể và ngân hàng thông báo có thể xác nhận L/C nếu khách hàng yêu
cầu điều đó.

có thể sử dụng L/C gốc làm cơ sở để phát hành L/C thứ hai cho nhà cung ứng hàng
thực sự. Nhờ đó, nhà XK trung gian có thể tiến hành kinh doanh chênh lệch giá mà
không cần phải bỏ đồng vốn nào. Nhưng nghiệp vụ tài trợ này rất phức tạp, nó đòi
hỏi phải có sự phối hợp khéo léo và chính xác các điều kiện của L/C gốc và L/C
giáp lưng, nếu không bộ chứng từ NH chuyển giao sẽ bị từ chối. Nhìn chung, NH
phát hành L/C giáp lưng sẽ phải đương đầu với nhiều rủi ro liên quan đến sự phức
tạp của chứng từ xuất trình, cũng như uy tín thanh toán, năng lực kinh doanh và
đạo đức kinh doanh của người XK trung gian.
• Tài trợ bằng L/C chuyển nhượng (Transferable L/C)
Là loại L/C không huỷ ngang, theo đó người hưởng lợi thứ nhất chuyển
nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như quyền đòi tiền mà
mình có được cho người hưởng lợi thứ hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai nhận cho
mình một phần của thương vụ.
Người hưởng lợi thứ nhất thường yêu cầu mở L/C chuyển nhượng trong
những trường hợp sau:
- Khi người hưởng thứ nhất không đủ khả năng cung ứng một phần hoặc
toàn bộ hàng hoá trong L/C và vì vậy muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ
quyền và nghĩa vụ của mình cho người thụ hưởng thứ hai.
- Khi người hưởng lợi thứ nhất không được ngân hàng phục vụ mình đồng ý
phát hành L/C giáp lưng.
- Khi người thụ hưởng thứ nhất hoạt động với tư cách là đại lý hoặc người
cung cấp chính đối với hàng hoá trong L/C cho nhà NK.Giá trị của những L/C này
thường rất lớn và người thụ hưởng thứ nhất chịu trách nhiệm phân bổ nó cho các
nhà cung cấp khác nhau thông qua ngân hàng thông báo.
L/C chuyển nhượng chỉ cho phép chuyển nhượng một lần và người hưởng
lợi ban đầu vẫn bị ràng buộc trách nhiệm với người NK bởi hợp đồng thương mại,
đồng thời phải thanh toán các khoản thủ tục phí, lệ phí chuyển nhượng. Thông
thường người hưởng đầu tiên là một người trung gian kinh doanh bằng cách bán lại
hàng hoá lượng lớn với mức chênh lệch khiêm tốn. Đây là một biện pháp hỗ trợ
cho những nhà XK (hay người hưởng lợi) thiếu vốn hoặc khả năng tài chính hạn

trường hợp mà ngân hàng sẽ quyết định tỷ lệ chiết khấu. Có hai hình thức chiết
khấu:
- Chiết khấu miễn truy đòi là hình thức người XK bán hẳn bộ chứng từ cho
ngân hàng và ngân hàng sau khi thanh toán tiền cho nhà XK thì không có quyền
truy đòi tiền nếu bộ chứng từ không được thanh toán. Giá mua sẽ thấp hơn giá trị
bộ chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại phí chiết khấu và thời gian cần thiết trung
bình để đòi tiền người NK nước ngoài.
- Chiết khấu truy đòi là hình thức chiết khấu mà ngân hàng sau khi thanh
toán tiền cho nhà XK có quyền truy đòi tiền nếu bộ chứng từ không được thanh
toán. Khi đó, trách nhiệm của nhà XK vẫn còn cho đến khi ngân hàng đòi được
tiền của người NK. Phí chiết khấu được tính dưới hình thức lãi chiết khấu tính theo
ngày và mức phí dĩ nhiên thấp hơn với trường hợp chiết khấu có truy đòi và điều
này cũng đồng nghĩa với việc rủi ro mà ngân hàng phải chịu cũng thấp hơn.
b) Ứng trước tiền hàng cho nhà xuất khẩu
Trường hợp bộ chứng từ không hội đủ điều kiện chiết khấu, có những sai sót
ngân hàng không đồng ý chiết khấu thì nhà XK có thể yêu cầu ngân hàng ứng
trước tiền hàng thông thường tỷ lệ khoảng 50%-60% giá trị hàng xuất.
Ngân hàng tiến hành thu nợ bằng cách gửi bộ chứng từ ra nước ngoài để đòi
nợ, trong vòng 60 ngày kể từ ngày gửi chứng từ đòi tiền mà không nhận được báo
Có của ngân hàng nước ngoài, ngân hàng sẽ tự động ghi Nợ vào tài khoản tiền gửi
của khách hàng. Nếu tài khoản của khách hàng không đủ số dư thì ngân hàng sẽ
chuyển số tiền chiết khấu hoặc ứng trước sang nợ quá hạn trong vòng 7 ngày làm
việc. Khi được thanh toán từ phía ngân hàng nước ngoài, sẽ khấu trừ trực tiệp
khoản vay cùng với các chi phí khác có liên quan.
1.2.2.3. Các hình thức tài trợ khác
• Bao thanh toán tương đối (Factoring)
Đây là hình thức tài trợ XNK ngắn hạn. Bản chất factoring là một nghiệp vụ
chiết khấu các khoản phải thu của nhà XK. Để thực hiện nghiệp vụ này các NHTM
lớn tiến hành thành lập các công ty Factoring và các công ty chuyên môn này sẽ
mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán để trở

Mỗi quốc gia khác nhau sử dụng một đồng tiền thanh toán khác nhau. Trong
trường hợp tỷ giá ổn định thì việc lựa chọn đồng tiền của quốc gia nào làm đồng
tiền thanh toán không quan trọng, nhưng trên thực tế tỷ giá luôn thay đổi. Từ đó
kéo theo những ảnh hưởng rất lớn tới kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp khó có
thể dự đoán được. Như vậy vấn đề đặt ra đối với mỗi ngân hàng khi ký hợp đồng
với khách hàng XNK là phải lường trước được những diễn biến về tỷ giá từ đó lựa
chọn đồng tiền cho vay một cách tối ưu.
Mặt khác việc thanh toán hàng NK cũng phải theo quy chế quản lý ngoại hối
của từng quốc gia. Do đó, ngân hàng khi thực hiện tài trợ không những phải nắm
rõ chế độ quản lý ngoại hối của nước mình mà còn phải nắm rõ quy chế của nước
đối tác.
• Sự khác biệt về luật pháp:
Mỗi quốc gia có chính sách riêng để hỗ trợ XNK thông qua các công cụ như:
hạn ngạch, thuế suất, cơ chế quản lý ngoại hối… Sự khác biệt về luật pháp giữa
các quốc gia cũng gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp và cả ngân hàng.
• Sự khác biệt về khoảng cách địa lý:
Khoảng cách về địa lý làm phát sinh một số vấn đề như thời điểm và phương
thức thanh toán. Việc xác định thời điểm và phương thức thanh toán ảnh hưởng
trực tiếp tới quyền lợi của mỗi bên, do đó vấn đề này cần được quy định rõ trong
hợp đồng. Căn cứ vào đó ngân hàng phải xác định thời điểm và phương thức thanh
toán sao cho vẫn thảo mãn nhu cầu thanh toán của khách hàng nhưng vẫn đảm bảo
hiệu quả tín dụng.
Sự khác biệt về địa lý làm hạn chế các doanh nghiệp trong việc thu thập
những thông tin về đối tác, điều này đem lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp và cho
cả ngân hàng trong việc thu hồi vốn. Hơn nữa, khi quan hệ với khách hàng XNK,
khách hàng về địa lý gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định trước khi
cho vay và giám sát sau cho vay. Việc kiểm tra mục đích sử dụng vốn của khách
hàng khó khăn hơn nhiều so với khoản tín dụng trong nước.
• Yếu tố thời tiết
Yếu tố này ảnh hưởng lớn đến hoạt động XNK, đặc biệt với hàng nông sản

kinh tế trong nước… ảnh hưởng lớn đến việc tiêu thụ hàng hoá NK. Chính vì vậy,
các ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt
động XNK của các doanh nghiệp để kịp thời có biện pháp thay đổi chính sách tài
trợ của mình.
• Cạnh tranh trên thị trường ngân hàng
Cùng hoạt động trên thị trường tiền tệ còn rất nhiều các ngân hàng và các tổ
chức khác cùng cạnh tranh để thu hút khách hàng. Vì vậy, các chính sách, đặc biệt
là chính sách khách hàng của đối thủ cạnh tranh đều có ảnh hưởng tới ngân hàng.
Khi đối thủ tung ra một sản phẩm mới, hoặc đơn giản chỉ là cải tiến, thay đổi một
đặc điểm nhỏ của sản phẩm như tăng thêm tiện ích, tăng tính hấp dẫn của sản phẩm
hay chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp XNK thì đều có ảnh hưởng tới
hoạt động tài trợ của ngân hàng. Do vậy, các ngân hàng phải thay đổi chính sách
phù hợp với tình hình cạnh tranh trên thị trường nhằm nâng cao uy tín, tăng thị
phần, tạo ra điểm khác biệt với các sản phẩm của đối thủ để thu hút khách hàng về
phía mình.
1.3.2. Nhóm nhân tố chủ quan
Khác với các nhân tố ảnh hưởng bên ngoài, các yếu tố bên trong ngân hàng
như chính sách kinh doanh đối ngoại, nguồn vốn, nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy,
trình độ công nghệ… là các yếu tố mà ngân hàng có thể chủ động của theo ý muốn
chủ quan và phù hợp với các yếu tố môi trường.
Hoạt động tài trợ XNK chịu ảnh hưởng của các chính sách ngân hàng về
hoạt động đối ngoại, nguồn nhân lực cũng như chính sách khách hàng. Muốn mở
rộng hoạt động tài trợ, ngân hàng sẽ thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng: thắt
chặt mối quan hệ với các ngân hàng đại lý của nước ngoài, tăng cường xây dựng
các mối quan hệ mới để thực hiện các nghiệp vụ có liên quan một cách nhanh
chóng và thuận tiện nhất cho khách hàng trong nước cũng như khách hàng nước
ngoài. Nếu ngân hàng được lựa chọn là ngân hàng mở L/C và thực hiện tốt các
nghiệp vụ danh tiếng, uy tín của ngân hàng sẽ được nâng cao trên thị trường quốc
tế. Đây cũng là cơ hội tốt để ngân hàng hội nhập với nền tài chính tiền tệ quốc tế
trong nền kinh tế mở.

ngừa rủi ro hiệu quả ngân hàng đó sẽ tăng được lợi nhuận, giữ vững sự phát triển
ổn định của ngân hàng, tạo được uy tín, nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị
trường. Đó là một điều kiện thuận lợi để thu hút khách hàng trong và ngoài nước
đến với ngân hàng.
1.4. Kinh nghiệm hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của một số Ngân hàng
Thương mại trên thế giới
Nhìn chung ở nhiều nước, Chính phủ rất coi trọng hoạt động XNK và sẵn
sàng hỗ trợ bằng các chính sách ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia
xuất khẩu. Nhiều nước đã thành lập những ngân hàng chuyên doanh phục vụ XNK,
thông qua đó áp dụng những biện pháp đặc biệt để hỗ trợ XNK, đặc biệt là hỗ trợ
những ngành xuất khẩu mũi nhọn. Trong từng thời điểm, giai đoạn khác nhau, tuỳ
theo tình hình phát triển kinh tế của mình, mỗi quốc gia có chính sách riêng phù
hợp với đặc điểm của từng ngành kinh tế để nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp kinh

Trích đoạn Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của Sở giao dịch Ngõn hàng Ngoại Thương Việt Nam Tỡnh hỡnh huy động vốn Tỡnh hỡnh sử dụng vốn Cỏc mặt hoạt động kinh doanh khỏc Cơ sở phỏp lý và quy chế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status