NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 64

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1.1. Khái quát về NHTM.
Ngân hàng được coi là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng
hoá, một động lực quan trọng cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Ngân
hàng không thể đứng ngoài hoạt động của bất cứ quốc gia nào. Mỗi nước khác
nhau với chế độ xã hội và hệ thống pháp luật khác nhau sẽ có một khái niệm và
mô hình tổ chức Ngân hàng khác nhau. Thông thường, để định nghĩa Ngân
hàng, người ta phải dựa vào tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động của
nó trên thị trường tài chính.
Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 định nghĩa: “Ngân hàng là những xí
nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình
thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các
nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”.
Luật Ngân hàng của ấn Độ, năm 1950: “Ngân hàng là cơ sở nhận các
khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”.
Luật Ngân hàng của Đan Mạch, năm 1930 :“ Những nhà băng thiết yếu
gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương
mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp
vụ chuyển ngân...”.
Việt Nam, bước chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung, bao cấp sang kinh
tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh
tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi người được tự do
kinh doanh theo pháp luật được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp,
các hình thức sở hữu đan xen với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa
dạng. Theo hướng này, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra tiền đề
cần thiết đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình Ngân hàng Thương mại và tổ
chức tín dụng.
Pháp lệnh Ngân hàng, HTX tín dụng và công ty tài chính năm 1990 định

Ngân hàng với chức năng, vai trò nhận và kinh doanh tiền gửi vì mục tiêu lợi
nhuận…đó là các NHTM và các tổ chức tín dụng khác .
NHTW muốn thực hiện hoạt động quản lý, điều tiết thị trường tài chính
thì phải thông qua các công cụ tài chính tác động vào hoạt động của hệ thống
NHTM, do vậy, NHTM là kênh truyền dẫn để NHTW thực thi chức năng, vai trò
của mình .
Như ta đã nói ở trên, bản chất hoạt động của NHTM là “đi vay để cho
vay”, NHTM là một trung gian tài chính và trong khi thực hiện vai trò trung
gian luân chuyển vốn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn, NHTM đã tạo
ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền mặt làm phương tiện thanh toán:
séc, hệ thống tài khoản tiền gửi, chứng từ, thẻ … do đó, phần lớn tiền giao dịch
trong quan hệ kinh tế là tiền qua Ngân hàng. Hoạt động của Ngân hàng gắn
liền với hệ thống lưu thông tiền tệ.
Hoạt động thanh toán luôn gắn với quá trình sản xuất, lưu thông hàng
hoá không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà nó còn mang tính toàn cầu.
Thanh toán qua Ngân hàng tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình luân
chuyển vốn, hàng hoá, làm tăng nhanh vòng quay của vốn, tăng hiệu quả kinh
doanh. Hoạt động của NHTM gắn liền với hoạt động thanh toán quốc gia và
thanh toán quốc tế.
1.1.2.3. Hoạt động của NHTM đa dạng phong phú và có phạm vi rộng
lớn .
Thông qua các hình thức huy động vốn, NHTM tập trung, tích luỹ các
nguồn vốn trong xã hội tạo thành quỹ tài chính và thông qua hoạt động tín
dụng, đầu tư,… Ngân hàng tiến hành cung ứng và phân bổ vốn cho nền kinh tế.
Do vậy, hoạt động của NHTM liên quan đến mọi lĩnh vực, ngành nghề sản xuất
kinh doanh. Phạm vi hoạt động của NHTM không chỉ giới hạn trong nước mà
còn mang tính quốc tế. Và để thoả mãn được mọi nhu cầu của khách hàng thì
hình thức hoạt động của Ngân hàng rất đa dạng, sản phẩm dịch vụ phong phú,
mạng lưới chi nhánh rộng khắp .
Trong môi trường kinh tế đầy sự biến động và cạnh tranh gay gắt, khốc

1.1.3.2. Nghiệp vụ tài sản Nợ và vốn tự có của Ngân hàng .
Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng, gồm các nghiệp vụ sau:
a. Nghiệp vụ tiền gửi .
Đây là nghiệp vụ phản ánh các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp vào
Ngân hàng để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà từ đó Ngân
hàng có thể huy động và được sử dụng vào kinh doanh. Ngoài ra, Ngân hàng
còn huy động các khoản tiền nhàn rỗi của các cá nhân hay hộ gia đình được
gửi vào Ngân hàng với mục đích hưởng lãi.
b. Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá.
Các NHTM sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có thời hạn
dài, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư các khoản vốn dài hạn của Ngân hàng
vào nền kinh tế. Ngoài ra, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM tăng cường tính
ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
c. Nghiệp vụ đi vay.
Đối với nghiệp vụ này, NHTM tiến hành tạo vốn cho mình bằng việc vay
các TCTD khác trên thị trường tiền tệ và vay NHTƯ dưới các hình thức tái
chiết khấu hay vay có đảm bảo, nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của
bản thân NHTM khi mà họ không tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ.
d. Nghiệp vụ huy động vốn khác.
Các NHTM còn có thể tiến hành tạo vốn cho mình thông qua việc nhận
làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Ngoài
ra, thông qua việc sử dụng các phương tiện trong thanh toán, đòi hỏi khách
hàng phải ký gửi một bộ phận tiền vào Ngân hàng và trên cơ sở đó các NH có
thể sử dụng những vốn nhàn rỗi trên tài khoản đưa vào hoạt động kinh doanh.
Để mở rộng nghiệp vụ này các NHTM cần phát triển các dịch vụ và không
ngừng nâng cao uy tín của mình trên thị trường .
e. Nghiệp vụ vốn tự có.
Đây là vốn thuộc sở hữu riêng có của các Ngân hàng. Trong thực tế
khoản vốn này không ngừng tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản

Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh
nghiệp và Nhà nước trong nền kinh tế. Như vậy, muốn có nhiều vốn phải tăng
thu nhập quốc dân và có mức chi tiêu hợp lý. Tăng thu nhập quốc dân đồng
nghĩa với việc mở rộng quy mô về cả chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và
lưu thông hàng hoá. Tuy nhiên, để đẩy mạnh sự tăng trưởng và phát triển của
các ngành trong nền kinh tế thì vốn là yếu tố đặc biệt quan trọng. Như vậy,
NHTM với vai trò của một trung gian tín dụng, luân chuyển và phân phối vốn
một cách hợp lý trong nền kinh tế đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi của mọi cá nhân, tổ chức, thành phần kinh tế tạo thành quỹ tài chính
và thông qua nghiệp vụ tín dụng, NHTM cung ứng vốn cho nền kinh tế, đáp ứng
kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Chính nhờ hoạt động của hệ thống Ngân
hàng Thương mại, đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế có điều kiện cải thiện hoạt động kinh doanh của mình, góp phần nâng
cao hiệu quả của cả nền kinh tế. Vì vậy, có thể khẳng định chủ thể chính đáp
ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính là NHTM.
1.1.4.2. NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường .
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế trong quá trình vận động chịu tác động
của rất nhiều các quy luật kinh tế khách quan . Các doanh nghiệp hoạt động trong nền
kinh tế thì không thể thoát khỏi sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách
quan đó. Họ không những phải đáp ứng nhu cầu thị trường về phương diện giá cả,
khối lượng, chất lượng, chủng loại... mà còn phải thoả mãn trên phương diện thời
gian, địa điểm. Do vậy, nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế
quản lý kinh tế, cải tiến máy móc trang thiết bị, tìm tòi sử dụng các nguyên vật liệu
mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp chính là nhân tố quan trọng giúp
cho doanh nghiệp đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường, tăng cường khả
năng cạnh tranh, nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp. Tuy nhiên những hoạt
động này đòi hỏi một khối lượng vốn lớn. Để giải quyết khó khăn này, các doanh
nghiệp tìm đến Ngân hàng xin vay vốn. Đến đây ta thấy, hoạt động tín dụng của Ngân
hàng có vai trò quan trọng, là chiếc cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.
1.1.4.3. NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

xuất hàng hoá, hay “trái tim” cung cấp “máu” cho mọi hoạt động của đời sống
kinh tế xã hội, thì hoạt động huy động vốn có vai trò đặc biệt quan trọng.
1.2.1. Khái niệm về vốn của Ngân hàng Thương mại.
NHTM là một trung gian tài chính, với vai trò chủ đạo là tập trung, phân
phối lại các nguồn vốn trong xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển của nền
kinh tế. Để có được vị trí đó, NHTM phải luôn đặt yếu tố lợi nhuận lên hàng
đầu và công cụ duy nhất có tính chất quyết định mà các NHTM phải có trước
tiên là vốn.
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động
được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Về thực chất, vốn của Ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm
thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng, mà người chủ
sở hữu vì nhiều lý do khác nhau đã gửi vào Ngân hàng. Như vậy, Ngân hàng
Thương mại đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thức
tiền tệ, tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt
động kinh tế phát triển.
1.2.2.Vai trò của vốn đối với hoạt động của NHTM .
Trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có
vốn, vốn là năng lực chủ yếu quyết định đến khả năng và quy mô hoạt động.
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ nó đòi hỏi
một lượng vốn lớn mới có thể tiến hành hoạt động kinh doanh. Vốn cho phép
Ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hoá các hình thức kinh doanh,
tăng khả năng cạnh tranh...
1.2.2.1. Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh .
Vốn là điểm đầu tiên và có tính chất quyết định trong chu kỳ kinh doanh
của Ngân hàng vì khác với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bình thường,
vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ
yếu của Ngân hàng. Quá trình kinh doanh của Ngân hàng được mã hoá bằng
công thức sau: T-T’, trong đó T là yếu tố vốn bỏ ra ban đầu, T’ là vốn thu về sau
quá trình cho vay, đầu tư. Từ công thức trên cho thấy, Ngân hàng nào trường

tranh của NHTM.
1.2.3. Các loại vốn của Ngân hàng Thương mại.
Một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, thu được lợi nhuận cao là một
doanh nghiệp biết tận dụng mọi “khả năng”, nắm bắt thông tin và chớp mọi
thời cơ. Vốn chính là “khả năng” của Ngân hàng. Trong tổng các nguồn vốn
hoạt động của Ngân hàng, thì mỗi loại lại có những tính chất và vai trò riêng,
do vậy nhiệm vụ của Ngân hàng là phải biết phân loại vốn “đầu vào”, trên cơ sở
đó sẽ phân bổ “đầu ra” một cách hợp lý. Xét về kết cấu và tính chất, vốn kinh
doanh của Ngân hàng Thương mại bao gồm: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi
vay, vốn khác.
1.2.3.1 Vốn tự có (Vốn CSH).
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập được,
đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng, nó chỉ chiếm một tỷ
trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, nhưng lại là điều kiện pháp lý bắt buộc
khi thành lập một Ngân hàng, là nguồn vốn có tính chất thường xuyên ổn định
và với ba chức năng quan trọng: chức năng bảo vệ, chức năng điều chỉnh, chức
năng hoạt động, vốn tự có không thể thiếu trong hoạt động của mỗi Ngân
hàng. Vốn tự có gồm:
a. Vốn tự có ban đầu (vốn pháp định ).
Vốn này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ và là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt
đầu thành lập Ngân hàng. Nó được hình thành do ngân sách Nhà nước cấp
(NHTM quốc doanh), từ cá nhân (NHTM tư nhân), do các cổ đông đóng góp
(NHTM cổ phần), hay từ sự đóng góp giữa các bên tham gia (NHTM liên
doanh).
b. Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động .
Vốn này có thể là được cấp thêm hay bổ sung từ lợi nhuận, ngoài ra vốn
tự có còn được bổ sung từ quỹ phúc lợi, khen thưởng, dự phòng rủi ro… quỹ
thặng dư vốn (phần chênh lệch đánh giá lại tài sản mang lại).
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: theo quy định của NHTW, hàng năm
Ngân hàng phải trích 5% trên lợi nhuận ròng để lập quỹ này. Quỹ này được lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status