MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. VAI TRÒ - CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Ngân hàng thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị
trường.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong các ngành công nghiệp ra
đời sớm nhất. Ở Mỹ Ngân hàng thương mại đầu tiên được thành lapạ năm
1782, trước khi Hiến pháp liên bang được thông qua và nhiều Ngân hàng
thương mại được thành lập từ những năm 1800 đến nay vẫn đang hoạt động.
Ở mỗi mỗi một nước, luật Ngân hàng thương mại có quy định khác nhau,
người ta thường dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của Ngân hàng trên
thị trường tài chính để đưa ra cách hiểu về Ngân hàng thương mại.
Ở Pháp, theo luật ngân hàng hàng năm 1941 thì "được coi là Ngân hàng
là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công
chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ dùng cho
chính họ và các nghiệp vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài chính". Hay
như ở Ấn Độ, luật ngân hàng năm 1950 và được bổ sung năm 1959 đã nêu:
"Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay, tài trợ, đầu tư".
Và theo luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: "Những nhà
băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hàng
nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu,
thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm...". Để hiểu về Ngân
hàng thương mại thì có rất nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng ta thấy rằng
các Ngân hàng thương mại không phải là các trung gian tài chính duy nhất và
để hiểu được các Ngân hàng thương mại là như thế nào và để phân biệt các
Ngân hàng thương mại với các trung gian tài chính khác như: Các Công ty bảo
hiểm, các quỹ đầu tư... gọi chung là các tổ chức phi ngân hàng thì cần phải dựa
trên tính chất cơ bản của Ngân hàng thương mại đó là: Ngân hàng thương
mại là nơi nhận tiền ký thác, tiền ký gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng
vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu vá các dịch vụ kinh doanh khác của chính
ngân hàng.
dậy sức sống bằng các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện
chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Điều không thể thực hiện bằng
vốn tự có của các doanh nghiệp vốn dĩ đã rất ít ỏi. Bên cạnh đó, tín dụng ngân
hàng còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng cường nguồn vốn
lưu động của các doanh nghiệp. Một vấn đề luôn là mối lo thường trực của các
doanh nghiệp. Một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt của tín dụng ngân hàng
đối với doanh nghiệp. Đó là một ngân quỹ để dành cho việc đào tạo đội ngũ lao
động phù hợp với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật - công nghệ cao. Đặc
biệt trong điều kiện nước ta vẫn còn thiếu nhiều những chuyên gia đầu ngành,
những cán bộ có năng lực và những công nhân lành nghề.
1.1.3. Ngân hàng thương mại là một công cụ để Nhà nước điều
tiết vĩ mô nền kinh tế.
Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia
làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng chuyên doanh (NHTM).
Các NHTM được Nhà nước sử dụng như công cụ để quản lý hoạt động tiền tệ,
điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng
dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân
hàng thương mại trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền
cung ứng trong lưu thông và thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành
trong nền kinh tế, Ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền
tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu
quả.
1.1.4. Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với
nền tài chính quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế
quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế
phát triển nhanh và bền vững. Một trong các điều kiện quan trọng góp phần
thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài
chính quốc gia. Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nèn tài chính quốc tế
thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh
Gửi tiền
kinh tế cho bản thân nó và nền kinh tế. Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi
nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền
gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở cho Ngân hàng
thương mại tồn tại và phát triển. Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn
để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô
sản xuất. Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động
thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất
kinh doanh.
Đây chính là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại, nó
quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sở để thực
hiện các chức năng sau:
1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán.
Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh
toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản
khác theo yêu cầu của họ. Thông qua chức năng này Ngân hàng đóng vai trò là
người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ
tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng. Nền kinh tế thị trường càng
phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày càng được mở rộng.
Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng
thương mại góp phần phát triển nền kinh tế. Khi khách hàng thực hiện thanh
toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách
hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn,
làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng. Đối với Ngân hàng
thương mại chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông qua
việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngân
hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này