PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY VỐN ĐỐI VỚI HỘ SẢN
XUẤT TẠI NHNo PTNT CHI NHÁNH HUYỆN GIỒNG RIỀNG
4.1 NHU CẦU VỐN CỦA HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ KHẢ NĂNG
ĐÁP ỨNG NHU CẦU VỐN CỦA NHNo & PTNT CHI NHÁNH HUYỆN
GIỒNG RIỀNG
Hàng năm do sự biến động của giá cả thị trường về phân bón, con giống, cây
giống, thời tiết thay đổi bất thường, dịch bệnh ngày càng phát triển. Điều này ảnh
hưởng rất lớn đến việc sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân vì khi đó chi phí
sản xuất nông nghiệp của nông dân sẽ tăng lên theo từng năm. Do đó, nhu cầu vốn
sản xuất cũng theo đó mà tăng lên. Bên cạnh, vốn tự có của mình nhưng nó không đủ
đáp ứng nhu cầu sản xuất, do đó những hộ nông dân này phải đi vay vốn bên ngoài
mới đủ vốn đáp ứng sản xuất và NHNo & PTNT Giồng Riềng có nhiệm vụ là cung
cấp vốn kịp thời cho những hộ nông dân trong Huyện. Vì nguồn vốn của Ngân hàng
có hạn trong khi đó nhu cầu vốn của người dân ngày càng cao, vì vậy Ngân hàng cần
biết được nhu cầu vốn của người dân để đáp ứng tốt nhất nhằm giúp cho người dân
sản xuất đúng mùa vụ và đúng mục đích sản xuất nhằm thu được lợi nhuận cao nhất
đồng thời qua đó tạo thu nhập cho Ngân hàng.
Bảng 4: NHU CẦU VỐN CỦA HỘ SẢN XUẤT VÀ KHẢ NĂNG
ĐÁP ỨNG NHU CẦU VỐN CỦA NHNo & PTNT GIỒNG RIỀNG
ĐVT: Triệu đồng
chỉ tiêu
Đối tượng
Nhu cầu vay Doanh số cho vay Chênh lệch Chênh lệch
Số hộ Số tiền Số hộ Số tiền Số hộ Tỷ lệ
%
Số tiền Tỷ lệ
%
Trồng trọt 19.270 192.750 2.810 60.920 17.460 86,14 131.780 68,37
Chăn nuôi 1.820 54.600 650 19.500 1.170 64,29 35.100 64,29
Kinh doanh 1.010 60.250 200 20.000 810 80,19 40.250 66,80
Tổng cộng 22.100 307.600 3.660 100.420 18.440 83,44 207.180 67,35
Tổng doanh số cho vay ngắn hạn trong năm 2005 là 73.189 triệu đồng đến năm 2006
đạt 103.095 triệu đồng tăng 29.906 triệu đồng tương đương 40,86% so với năm
trước. Trong năm 2007, tổng doanh số cho vay ngắn hạn là 138.815 triệu đồng tăng
hơn năm 2006 là 34,65%. So với tổng doanh số cho vay ngắn hạn chung của Ngân
hàng thì có 99,67% là cho vay hộ sản xuất ở năm 2005, đến 100% trong năm
Bảng 5: DOANH SỐ CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT (2003-2005)
ĐVT: Triệu đồng
Đối tượng
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chênh lệch
Số
tiền
Tỷ trọng
(%)
Số
tiền
Tỷ trọng
(%)
Số
tiền
Tỷ trọng
(%)
2006/2006 2007/2006
Số tiền (%) Số tiền (%)
Trồng trọt 51.178 69,93 63.162 61,70 73.589 53,02 11.984 23,41 10.427 16,51
Chăn nuôi 4.500 6,15 5.500 5,33 11.500 8,28 1.000 22,22 6.000 109,09
Kinh doanh 17.511 23,92 33.983 32,97 53.726 38,70 16.472 94,07 19.743 58,1
Tổng cộng 73.189 100,00 103.095 100,00 138.815 100,00 29.906 40,86 35.720 34,65
(Nguồn: Phòng tín dụng NHN
0
& PTNT)
người dân càng thiếu vốn nhiều hơn để mở rộng quy mô, từ đó làm cho nhu cầu vay
vốn tăng cao.
+ Cho vay kinh doanh: Phần lớn là hộ sản xuất kinh doanh cá thể: nhà máy xay lúa,
buôn bán vật tư nông nghiệp, vật tư xây dựng, nơi cung cấp cây giống, vật nuôi, thu
mua lúa cung cấp gạo cho thị trường. Ta thấy doanh số cho vay này tăng rất nhiều
qua các năm và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong ngày càng lớn trong cơ cấu cho
vay hộ sản xuất. Cụ thể: năm 2005, doanh số cho vay đạt 17.511 triệu đồng, chiếm
23,92%, năm 2006 cho vay kinh doanh tăng 16.472 triệu đồng hay tăng 94,07% so
với năm 2005. Sang năm 2007, doanh số cho vay đã lên đến 53.726 triệu đồng chiếm
38,70% trong cho vay ngắn hạn hộ sản xuất. Nguyên nhân cho vay kinh doanh ngày
càng tăng là do số doanh nghiệp trên địa bàn được thành lập ngày càng nhiều nên cần
nhiều vốn để hoạt động, mặc khác do việc làm ăn có hiệu quả của các doanh nghiệp
cũ nên họ muốn mở rộng quy mô làm cho nhu cầu vốn tăng cao.
4.2.2 Doanh số cho vay trung hạn hộ sản xuất nông nghiệp
Bảng 6: DOANH SỐ CHO VAY TRUNG HẠN HỘ SẢN XUẤT (2005-2007)
ĐVT: Triệu đồng
Đối
tượng
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chênh lệch
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
2006/2005 2007/2006
ST (%) ST (%)
nhiều lợi nhuận hơn cải thiện dần mức sống cho gia đình.
4.3 TÌNH HÌNH THU NỢ
Trong hoạt động Ngân hàng để có thể duy trì, bảo toàn và mở rộng nguồn vốn
cho vay thì bên cạnh công tác cho vay thì công việc hết sức quan trọng mà Ngân hàng
quan tâm là công tác thu hồi nợ.
Hình 7: BIỂU ĐỒ DOANH SỐ THU NỢ CỦA NGÂN HÀNG
QUA 3 NĂM (2005-2007)
4.3.1 Doanh số thu nợ ngắn hạn HSX nông nghiệp (xem bảng 7 trang 43)
+ Thu nợ trồng trọt: đóng góp chủ yếu trong cơ cấu thu nợ, doanh số thu nợ
tăng liên tục qua ba năm, cụ thể năm 2005 đạt 40.386 triệu đồng chiếm tỷ trọng
70,78%, năm 2006 tăng 6.935 triệu đồng so với năm 2005. Đến năm 2007 doanh số
thu nợ đạt 73.212 triệu đồng đạt 99,49% so với doanh số cho vay. Nguyên nhân
doanh số thu nợ tăng liên tục qua ba năm là do doanh số cho vay trồng trọt chiếm tỷ
trọng cao, người dân tích cực tham gia sản xuất nên năng suất đạt rất cao cộng với
giá lúa trong những năm gần đây tăng liên tục, vì vậy nông dân có điều kiện trả nợ
Ngân hàng.
+ Thu nợ chăn nuôi: ngành chăn nuôi hiện nay là một ngành rất phát triển ở
địa bàn Huyện và heo là con vật được nuôi nhiều nhất. Từ năm 2005 trở lại đây giá
thịt heo tăng nhanh, người dân bán heo được giá và trả nợ cho Ngân hàng. Mặc khác
nhờ thú y và mô hình xây dựng chuồng trại được cải tiến nhờ đồng vốn của Ngân
hàng, hiệu quả sử dụng vốn của người dân ngày càng cao và khả năng trả nợ Ngân
hàng ngày càng lớn. Chính điều đó đã làm cho doanh số thu nợ Ngân hàng tăng liên
tục trong ba năm, năm 2005 đạt 4.500 triệu đồng, năm 2006 đạt 5.100 triệu đồng,
tăng 13,33% so với năm 2005. Đến năm 2007 thu nợ chăn nuôi hộ sản xuất đạt 9.500
triệu đồng.
+ Thu nợ kinh doanh: Doanh số thu nợ ngắn hạn trong họat động kinh doanh
qua các năm tăng dần, năm 2005 đạt 12.361 triệu đồng, năm 2006 tăng 10.324 triệu
đồng so với năm 2006, năm 2007 thu nợ kinh doanh đạt 49.684 triệu đồng, điều này
cho thấy người dân đã mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh trên địa bàn và
thu được hiệu quả nên dễ dàng thu hồi vốn. Điều đó cho thấy Ngân hàng đã đầu tư
đến với khách hàng khi đến hạn trả nợ. Mặc khác, Ngân hàng còn nhận được sự hỗ
trợ của các cấp chính quyền địa phương nên việc thẩm định các món vay được chính
xác hơn, hạn chế được việc cho vay sai đối tượng và việc kiểm tra sử dụng vốn được
kịp thời hơn. Đồng thời ý thức trả nợ của khách hàng ngày càng cao cộng với việc
khách hàng đã chọn được các phương án sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh
tế tạo nguồn thu ổn định cho gia đình...
4.3.2 Doanh số thu nợ trung hạn hộ sản xuất nông nghiệp
Bảng 8: DOANH SỐ THU NỢ TRUNG HẠN ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT
(2005-2007)
ĐVT: Triệu đồng
Đối
tượng
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chênh lệch
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
2006/2005 2007/2006
ST (%) ST (%)
Trồng
trọt
2.802 70,25 2.650 67,32 4547 69,70 -152 -5,42 1.897 71,58
Chăn
nuôi
1.187 29,75 1.287 32,68 1.977 30,30 100 8,42 690 53,61
đồng chiếm 70,72% trong tổng dư nợ, năm 2006 dư nợ tăng 3.765 triệu đồng so với
năm 2005. Đến năm 2007 dư nợ đã tăng đến 51.791 triệu đồng. Nguyên nhân dư nợ
tăng là do doanh số cho vay tăng, nông dân đầu tư mạnh vào sản xuất. Mặc khác giá
cả nông sản tăng nên giá cây giống cũng tăng, giá cả phân bón, thuốc trừ sâu tăng
liên tục... nên nhu cầu vay vốn của nông dân ngày càng lớn hơn, vì vậy mà dư nợ
ngày càng nhiều.
+ Dư nợ chăn nuôi: có thể nói rằng trong những năm gần đây, giá cả sản phẩm
ngành trồng trọt và chăn nuôi luôn ủng hộ người dân làm cho nông dân phấn khởi
làm ăn, mở rộng quy mô. Từ đó làm cho dư nợ ngành chăn nuôi tăng lên hàng năm,
năm 2005 dư nợ đạt 5.000 triệu đồng, năm 2006 tăng 500 triệu đồng so với năm
2005. Sang năm 2007, dư nợ đạt 6000 triệu đồng. Dư nợ tăng nhưng chỉ với tốc độ
khoảng 9% - 10% mỗi năm đó là do nông dân làm ăn có hiệu quả mặc dù mở rộng
quy mô chăn nuôi cần thêm nguồn vốn hỗ trợ từ Ngân hàng nhưng bản thân họ cũng
đã có một số vốn nhất định từ lợi nhuận của kết quả chăn nuôi lần trước nên chỉ vay
vốn từ Ngân hàng một phần. Dư nợ tăng còn do chủ trương của Huyện khuyến khích
những hộ chăn nuôi có hiệu quả mở rộng quy mô cộng thêm vào đó là thị trường tiêu
thụ của ngành chăn nuôi rất khả quan nên Ngân hàng mạnh dạn mở rộng đầu tư cho
ngành chăn nuôi.
+ Dư nợ kinh doanh: tăng với tốc độ đáng kể, năm 2005 mới chỉ đạt 13.957
triệu đồng, năm 2006 tăng 10.356 triệu đồng tức 74,20% so với năm 2005. Đến năm
2007 dư nợ kinh doanh đã đạt đến 36.474 triệu đồng. Sở dĩ dư nợ tăng nhanh như vậy
là do hộ kinh doanh đã có nhiều phương án mở rộng sản xuất và được Ngân hàng đầu
tư cho vay.