PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
NÔNG NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP NÔNG
THÔN MỸ XUYÊN
4.1 Tình hình nguồn vốn
Bảng 4: Nguồn vốn của ngân hàng qua 3 năm: 2005, 2006 và 2007
Đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
2006/2005 2007/2006
số tiền % số tiền %
Vốn huy
động
193.18
0
365.27
9
1.020.99
0
172.0
99
89,0
9 655.711
179,5
1
Vốn và các
quỹ
34.19
4
82.27
0
554.16
tổng số dư huy động và đi vay tại ngân hàng tăng lên đáng kể. Trong nguồn vốn của
ngân hàng thì vốn huy động đóng vai trò quan trọng nhất. Chính vì thế, ngân hàng luôn
quan tâm đến khả năng huy động và tình hình cạnh tranh tại địa bàn, đã đề ra nhiều giải
pháp huy động có hiệu quả. Vốn huy động của ngân hàng tăng qua các năm, cụ thể như
sau:
Vốn huy động tăng cả về số tuyệt đối lẫn tương đối qua các năm chẳng hạn như:
năm 2006 tăng 172.099 triệu đồng so với năm 2005, tốc độ tăng khá cao 89,09 %, năm
2007 tăng 655.711 triệu đồng so với năm 2006, tốc độ tăng cao hơn trước 179,51%.
Sự tăng lên này chứng tỏ khả năng huy động vốn từ các tầng lớp dân cư ngày một
tăng. Thể hiện uy tín và vị thế của ngân hàng càng lớn. Bên cạnh đó còn có sự thuận lợi
về vị trí, có đội ngũ nhân viên trẻ, cởi mở trong giao dịch. Nhờ vậy mà khách hàng đến
giao dịch và gởi tiền vào ngân hàng ngày càng nhiều.
4.2 Tình hình tín dụng nông nghiệp
4.2.1 Phân tích doanh số cho vay nông nghiệp
An Giang là một tỉnh có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, mỗi vụ sản xuất thì
chục ngàn hộ có nhu cầu về vốn. Tại ngân hàng Mỹ Xuyên với phương thức cho vay
đơn giản và hiện đại hóa công nghệ đạt hiệu quả cao giúp người dân đến giao dịch
thuận lợi, giảm phiền hà, đáp ứng yều cầu phát triển kinh tế của tỉnh nhà.
Hiện nay nguồn cung cấp tín dụng ngày càng tăng trên địa bàn của tỉnh vì thế các
TCTD ngày càng chạy đua nhau, trong đó có điều kiện cho vay là mối quan tâm của
khách hàng, so sánh các điều kiện cung tín dụng. Do đó ngân hàng rất quan tâm đến
doanh số cho vay khi xét đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Bảng 5: Doanh số cho vay của ngân hàng giai đoạn 2005 - 2007
Đvt: triệu
đồng
Chương 4: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng nông nghiệp tại NHTMCP nông
thôn
Mỹ Xuyên
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
Chênh lệch
620
.044
1.855.9
43
324.1
08 109,52
1.235.8
99
199,3
2
Nguồn: bảng cân đối tài khoản chi tiết 2005, 2006 và 2007
Nhìn chung doanh số cho vay của ngân hàng đều tăng qua các năm, đặc biệt tăng
mạnh
Chương 5: kết luận – kiến nghị Chương 4: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng nông nghiệp tại
NHTMCP nông thôn
Mỹ Xuyên
nhất vào năm 2007. Trong đó, doanh số cho vay ở lĩnh vực nông nghiệp luôn chiếm tỉ trọng hơn
55%. Vì thế tín dụng nông nghiệp thể hiện vị trí khá quan trọng trong hoạt động tín dụng của ngân
hàng. Cụ thể như sau: Doanh số cho vay nông nghiệp năm 2005 là 165.326 triệu đồng, chiếm
55,9% tổng doanh số cho vay của ngân hàng.
- Sang năm 2006 là 342.370 triệu đồng tăng 177.044 triệu đồng tức tăng 107,09% so với năm 2005.
- Đến năm 2007 doanh số cho vay ở mức cao 1.046.344 triệu đồng tăng 703.974 triệu đồng tức tăng
205,62% so với năm 2005, và chiếm 56,38% trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng.
Nguyên nhân làm tăng doanh số cho vay là do các hộ vay vốn muốn mở rộng quy mô sản xuất.
Ngân hàng luôn đa dạng hóa các phương thức cho vay nhằm cung cấp tín dụng phù hợp với từng
đối tượng người dân, như loại hình tín dụng góp nông thôn mùa vụ, các đầu tư của nông dân vào
trồng lúa, hoa màu, mua sắm nông cụ dụng cụ hay là chăn nuôi … nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng
của thị trường. Bên cạnh đó, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ tín dụng đã làm cho người
đi vay cảm thấy như mình và ngân hàng có mối quan hệ gần gũi và thân thiết. Vì thế ngân hàng đã
tạo được lòng tin và uy tín đối với khách hàng cho nên ngày càng có đông đảo khách hàng đến vay
62
17.5
27
143,8
3
3.
349 11,27
Ngắn hạn
148.
975
274
.524
822.0
36
125.5
49
84,2
8
547.
512 199,44
Nông nghiệp
trung hạn
12.
251
55
.064
207.3
29
42.8
13
435 199,53
Trung hạn
16.
351
67
.846
238.7
11
51.4
95
314,9
3
170.
865 251,84
Tổng cho vay
nông nghiệp
165.
326
342
.370
1.060.7
47
177.0
44
107,0
9
718.
377 209,82
Nguồn: bảng cân đối tài khoản chi tiết 2005, 2006 và 2007.
• Giới thiệu về quỹ MLF, RDFII:
Chương 5: kết luận – kiến nghị Chương 4: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng nông nghiệp tại
NHTMCP nông thôn
Mỹ Xuyên
ngắn hạn chiếm 90% chỉ còn lại 10% là của trung hạn. Đến năm 2006 cho vay ngắn hạn giảm còn
80% và tiếp tục giảm còn 77% vào năm 2007.
Tuy nhiên, tỉ trọng doanh số cho vay nông nghiệp trung hạn vẫn còn thấp hơn nhiều so với tỉ
trọng doanh số cho vay nông nghiệp ngắn hạn. Vì cho vay trung hạn thì thời gian thu hồi vốn lâu,
tốc độ luân chuyển vốn chậm dẫn đến rủi ro tín dụng cao hơn. Đồng thời đây là khoản cho vay về
lĩnh vực nông nghiệp nên ngoài việc phụ thuộc vào biến đổi thị trường giá cả còn phụ thuộc nhiều
vào thời tiết, mùa vụ … ảnh hưởng đến sản xuất và thu nhập của người dân làm tác động đến công
tác thu nợ của ngân hàng. Ngoài ra khi cho vay ngắn hạn thì thủ tục vay và trả vốn ít phải lập
nhiều hồ sơ, lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn so với lãi suất cho vay trung hạn,…vì thế ngân
hàng chủ yếu là cho vay ngắn hạn đó là điều hoàn toàn hợp lý. Nhưng những năm gần đây ngân
hàng đã quan tâm nhiều hơn đối với cho vay trung hạn, đó cũng là một trong những nhân tố góp
phần thúc đẩy doanh số cho vay của ngân hàng.
Đối với cho vay ngắn hạn
Đối tượng vay vốn là các hộ chăn nuôi gia cầm cần hỗ trợ vốn đầu tư về con giống, thức ăn,
hay là các hộ nông dân cần đầu tư về phân bón giống cây, … phục vụ cho sản xuất nông nghiệp,
thời hạn cho vay dưới 1 năm là khá phù hợp.
Doanh số cho vay ngắn hạn luôn cao hơn doanh số cho vay trung hạn (ngân hàng Mỹ Xuyên
chưa có loại hình cho vay dài hạn) và nó tăng nhanh qua các năm:
- Mặc dù năm 2005 gặp khó khăn do biến động giá cả thị trường và rào cản kỹ thuật nhưng
các hộ chăn nuôi vẫn vượt qua và tiếp tục nâng sản lượng. Vì thế cần nguồn vốn để phát triển chăn
nuôi thủy sản hơn nữa, đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho doanh số cho vay năm
2006 tăng 125.549 triệu đồng hay tăng 84,28% so với năm 2005.
- Đến năm 2007 đạt được ở mức cao 822.036 triệu đồng, gia tăng với số tiền 547.512 triệu
đồng tương đương tăng 199,44%.
Hoạt động cho vay ngắn hạn của ngân hàng vừa hỗ trợ vốn cho bà con nông dân phát triển
chăn nuôi, trồng hoa màu,.. vừa giúp ngân hàng đảm bảo tính thanh khoản trong đồng vốn, và đem
lại an toàn hơn cho hoạt động cho vay. Bởi nguồn vốn tín dụng được tài trợ bằng vốn huy động
máy móc nông cụ để phục vụ sản xuất.
- Doanh số cho vay nông nghiệp trung hạn cụ thể như sau:
+ Năm 2005 là 12.251 triệu đồng, chiếm tỉ trọng 75% tổng doanh số cho vay nông nghiệp
trung hạn.
+ Năm 2006 tăng 42.813 triệu đồng với tỉ lệ tăng cao 349,47% so với năm 2005, và chiếm
81% tỉ trọng cho vay nông nghiệp trung hạn.
+ Năm 2007 tăng lên 152.265 triệu đồng so với năm 2006 và tỉ trọng là 92,5% trong cho vay
nông nghiệp trung hạn.
- Doanh số cho vay ở sản phẩm góp nông thôn mùa vụ đều tăng qua các năm nhưng tỉ trọng có sự
thăng trầm. Đây là sản phẩm cho vay mà ngân hàng thu lãi theo từng thời vụ sản xuất, kinh doanh
của các hộ nông dân.
- Cho vay bằng quỹ RDFII cũng tăng qua các năm và tỉ trọng ngày càng tăng dần. Ngân hàng Mỹ
Xuyên vay vốn từ ngân hàng BIDV thông qua dự án tài chính nông thôn II để cho các hộ nông dân
vay lại. Tuy nhiên lãi vay từ BIDV thấp hơn lãi vay từ nguồn vốn huy động trong dân cư nên ngân
hàng đẩy mạnh doanh số cho vay đối với loại hình cho vay từ nguồn vốn tài trợ này.
Tóm lại: ngân hàng đã cố gắng nổ lực, phấn đấu tăng doanh số cho vay qua các năm, tốc độ
tăng tổng doanh số cho vay của ngân hàng là tốt, với năm 2006 tăng 109,52 % so với năm 2005 và
tăng cao ở năm 2007 với 199,32 % so với năm 2006. Trong đó thì doanh số cho vay nông nghiệp
tăng khá nhanh, tốc độ tăng 107,09 % so với năm 2005, đặc biệt tăng nhanh vào năm 2007 với
209,82% so với năm 2006. Đó là do:
- Đại đa số người dân sống bằng nghề nông, nên nông nghiệp là lĩnh vực không những được các
cấp lãnh đạo tỉnh An Giang đặc biệt quan tâm mà còn có các cơ quan, ban ngành ngân hàng hoà
chung với xu thế đó, Ngân hàng Mỹ Xuyên cũng thế. Ngân hàng đã rất tích cực trong việc hỗ trợ
vốn cho bà con nông dân sản xuất kinh doanh phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn.
- Ngày 01/8/2006, UBND tỉnh An Giang đã có Quyết định 1465/QĐ-UBND ban hành Chương
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển thủy sản tỉnh An Giang giai đoạn 2006-2010. Nhờ sự
Chương 5: kết luận – kiến nghị Chương 4: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng nông nghiệp tại
NHTMCP nông thôn
Mỹ Xuyên
thuận lợi của chương trình khuyến nông, khuyến ngư của tỉnh An Giang đã thực hiện trong thời
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
2006/2005 2007/2006
Số tiền % Số tiền %
DSTN NN
141.20
4
218.75
9
509.8
82
77.5
55
54,
92
291.1
23
133,
08
Chương 5: kết luận – kiến nghị Chương 4: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng nông nghiệp tại
NHTMCP nông thôn
Mỹ Xuyên
DSTN khác
113.43
3
203.65
9
457.9
65
90.2
26
hàng thì sang năm 2006 doanh số này tăng thêm 77.555 triệu đồng nhưng tỉ trọng giảm còn
51,79%. Do tốc độ tăng của doanh số thu nợ nông nghiệp không cao bằng tốc độ tăng của tổng
doanh số thu nợ ngân hàng.
- So với 2006 thì năm 2007 doanh số thu nợ tăng nhanh hơn trước, chênh lệch tăng thêm 291.123
triệu đồng và tốc độ tăng cao hơn (đạt 52,68%). Do tốc độ tăng trưởng của doanh số thu nợ cao
hơn tốc độ tăng trưởng của tổng doanh số thu nợ ngân hàng.
Khi doanh số cho vay nông nghiệp của ngân hàng được quan tâm nhiều thì công tác thu nợ ở
mảng này cũng được chú trọng không kém. Thu nợ nông nghiệp của ngân hàng giai đoạn 2005 –
2007 đã gặt hái nhiều thành quả tích cực và được thể hiện rõ nét như sau:
Bảng 8: Doanh số thu nợ nông nghiệp từ năm 2005 - 2007
Đvt: triệu đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
Chênh lệch
2006/2005
Chênh lệch
2007/2006
Số tiền % Số tiền %
Nông nghiệp
Ngắn hạn 127736
167.3
60
367.3
03
39.62
4
31,0
2
199.9
43
119,
0
195,0
7
79.6
62
369,
58
Góp N T
mùa vụ
2
12
7
26
7.1
18
51
4
242,4
5
6.3
92
880,
44
Quỹ RDFII
1.4
21
5.5
19
10.2
60
82
77.55
5
54,9
2
291.1
23
133,
08
Nguồn: bảng cân đối tài khoản chi tiết 2005, 2006 và 2007
Giai đoạn 2005 – 2007 doanh số thu nợ nông nghiệp ngắn hạn luôn tăng cao hơn doanh số thu
nợ nông nghiệp trung hạn nhưng tỉ trọng có xu hướng giảm xuống. Do ngân hàng thúc đẩy doanh
số cho vay ở thời trung hạn và được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 3: Cơ cấu doanh số thu nợ nông nghiệp qua 3 năm (2005 -2007)
Trong cơ cấu doanh số thu nợ nông nghiệp thì tỉ trọng doanh số thu nợ nông nghiệp ngắn hạn
chiếm phần lớn và luôn giảm qua các năm. Chẳng hạn như: năm 2005 doanh số thu nợ ngắn hạn
chiếm tỉ trọng cao đến 94% phần còn lại 6% là của doanh số thu nợ trung hạn. Sang năm 2006 tỉ
trọng ngắn hạn này giảm còn 87% và nó tiếp tục giảm vào năm 2007 còn 79%. Đó là do ngân hàng
quan tâm hơn đến các khoản cho vay trung hạn nên tỉ trọng cho vay trung hạn ngày càng tăng, vì
thế tỉ trọng thu nợ trung hạn sẽ tăng theo đó là điều tất nhiên.
Chương 5: kết luận – kiến nghị Chương 4: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng nông nghiệp tại
NHTMCP nông thôn
Mỹ Xuyên
Cho vay nông nghiệp là loại hình cho vay mà khả năng trả nợ của khách hàng thường phụ
thuộc rất nhiều yếu tố tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh, hạn hán lũ lụt… Tuy nhiên không vì thế
mà công tác thu hồi nợ không hiệu quả.
Đối với thu nợ ngắn hạn
Doanh số thu nợ nông nghiệp ngắn hạn tăng qua các năm, tăng cao nhất là năm 2007 (tốc độ
tăng 104,9% so với năm 2006): năm 2005 là 132.266 triệu đồng thì sang năm 2006 doanh số này
tăng lên đạt 190.959 triệu đồng. Đến năm 2007 tăng thêm 200.328 triệu đồng. Cũng bởi do đa số
195% so với năm 2005.
Chương 5: kết luận – kiến nghị Chương 4: Phân tích tình hình hoạt động tín dụng nông nghiệp tại
NHTMCP nông thôn
Mỹ Xuyên
- Thu nợ góp nông thôn mùa vụ tăng cả doanh số lẫn tỉ trọng qua 3 năm, lần lượt là 2005 đạt
212 triệu đồng chiếm 2% nhưng sang năm 2006 tăng lên đạt 726 triệu đồng, tỉ trọng tăng ở mức 3%
(tốc độ tăng 242% so với năm 2005). Đến năm 2007 chênh lệch 6.392 triệu đồng tốc độ tăng rất cao
880% so với năm 2006.
- RDF II là nguồn vốn được tài trợ của ngân hàng Thế Giới nên được quan tâm đặc biệt và hầu
như công tác thu nợ đối với khoản cho vay này được tiến hành thuận lợi. Bởi quá trình chấp nhận
cho vay được CBTD xem xét và thẩm định rất chu đáo cho đến quá trình sử dụng vốn vay của khách
hàng nên việc thu nợ hầu như đúng hạn như thỏa thuận HĐTD.
Những nguyên nhân khá thuận lợi dẫn đến thành tựu trong công tác thu hồi nợ của ngân hàng
là do:
- Ngân hàng ưu tiên lựa chọn khách hàng có uy tín và có quan hệ lâu dài khi đáp ứng nhu cầu vốn với
các khoản cho vay trung hạn.
- CBTD thẩm định và đánh giá hồ sơ vay vốn cẩn thận về tính khả thi của phương án, xác định dòng
tiền thu vào của nông dân để từ đó xét kỳ hạn trả nợ cho hợp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
nông dân trả được nợ vay đúng thời hạn.
- Kinh tế nông nghiệp của tỉnh phát triển, nông dân trúng mùa, được giá. Mặc dù năm 2007, gặp nhiều
khó khăn, thách thức từ hạn hán, dịch bệnh, vật giá tăng cao, thiếu điện thường xuyên... đã ảnh
hưởng không nhỏ đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người
dân, nhưng với những nỗ lực chung của ngân hàng, nhất là CBTD nên công tác thu nợ của ngân
hàng đạt được thành tích đáng kể.
- Đối với các khoản MLF, RDFII các TCTD quyết định cho vay và chịu hoàn toàn trách nhiệm
về các rủi ro liên quan đến việc cho vay, quản lý chặt chẽ và đảm bảo an toàn cho nguồn vốn vay,
cho vay đúng mục đích, đúng đối tượng, đảm bảo thu hồi nợ và trả nợ. Vì vậy ngân hàng đều quan
tâm, chú ý đặc biệt thu nợ đến khoản cho vay bằng các quỹ này.
Tóm lại: qua 3 năm doanh số thu nợ của ngân hàng ở loại hình cho vay nông nghiệp ngày càng
tăng trưởng và phát triển bền vững. Qua đó cũng thể hiện khả năng thu nợ của CBTD nhiệt tình,
123.6
10
118
,76
549.5
22
241,3
4
Dư nợ khác
90.6
08
166.
732
487.69
4
76.1
24
84
,01
320.9
62
192,5
0
Tổng DN
194.6
94
394.
428
1.264.91
2
83.7
76
161.
227
581.5
57
77.4
51
92
,45
420.
330 260,71
Quỹ MLF
8.8
56
14.
969
24.0
46
6.1
13
69
,03
9.
077 60,64
Ngắn hạn 92.6 176. 605.6 83.5 90 429. 243,71