ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
Nguyễn Phượng Anh
VĂN HÓA XỨ ĐOÀI
(QUA ĐỊA DANH HAI HUYỆN THẠCH THẤT VÀ BA VÌ, HÀ NỘI)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC
Hà Nội -2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
Nguyễn Phượng Anh
VĂN HÓA XỨ ĐOÀI
(QUA ĐỊA DANH HAI HUYỆN THẠCH THẤT VÀ BA VÌ, HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 62.22.01.13
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS Trần Nho Thìn
2. PGS.TS Trịnh Cẩm Lan
Hà Nội - 2017
MỤC LỤC
TRANG
Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt
5
Danh mục bảng biểu
5
Danh mục hình vẽ
7
Danh mục sơ đồ
8
MỞ ĐẦU
9
1. Lí do chọn đề tài
9
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
10
14
1.1.1. Các ghi chép, khảo cứu liên quan đến Xứ Đoài trước năm 1888
14
1.1.2. Các ghi chép, khảo cứu liên quan đến Xứ Đoài sau năm 1888 đến 1945
18
1.1.3. Các nghiên cứu về địa danh và văn hóa Xứ Đoài sau năm 1945
20
1.2. Vài nét về địa bàn nghiên cứu
23
1.2.1. Xứ Đoài trong tâm thức chung của người Việt
23
1.2.2 Xứ Đoài theo quan điểm của các nhà nghiên cứu
24
1.2.3. Vị trí của huyện Thạch Thất và huyện Ba Vì trong không gian Xứ Đoài
28
34
1.3.2. Một số vấn đề về địa danh
41
1.3.2.1. Khái niệm địa danh
41
1.3.2.2. Chức năng của địa danh
44
1.3.2.3. Địa danh trong mối quan hệ với văn hoá khu vực
45
1.3.2.4. Cấu tạo phức thể địa danh
46
1.3.2.5. Phân loại địa danh
47
1.4. Tiểu kết chương 1
53
62
2.1.2.3. Những sự giao thoa tiếp xúc với người phương Bắc
67
2.2. Địa danh và tổ chức hành chính ở Xứ Đoài trước cách mạng tháng Tám
71
2.2.1. Địa danh và tổ chức hành chính ở Xứ Đoài thời Bắc thuộc
71
2.2.1.1. Địa danh và tổ chức hành chính trước giai đoạn An nam đô hộ phủ
71
2.2.1.2. Địa danh và tổ chức hành chính trong giai đoạn An nam đô hộ phủ
73
2.2.2. Địa danh và tổ chức hành chính ở Sơn Tây - Xứ Đoài thời Quốc gia Đại Việt
77
2.2.2.1. Địa danh và tổ chức hành chính trên đất Xứ Đoài thời Lí - Trần
77
(Qua địa danh hai huyện Thạch Thất và Ba Vì)
2.4. Tiểu kết chương 2
99
Chương 3: KHÔNG GIAN ĐỊA LÍ CỦA XỨ ĐOÀI (QUA ĐỊA DANH HAI
101
HUYỆN THẠCH THẤT VÀ BA VÌ, HÀ NỘI)
3.1.Vị trí của Xứ Đoài (Qua địa danh hai huyện Thạch Thất và Ba Vì,
101
Hà Nội)
3.1.1. Vị trí của Xứ Đoài qua lớp địa danh có yếu tố chỉ phương hướng
101
3.1.2. Vị trí của Xứ Đoài qua lớp địa danh mượn tên riêng của thực thể
102
tự nhiên
3.1.3. Vị trí của Xứ Đoài qua đặc trưng lớp địa danh tiêu chuẩn hoá có
103
DANH HAI HUYỆN THẠCH THẤT VÀ BA VÌ, HÀ NỘI)
4.1.Không gian sản xuất ở Xứ Đoài (Qua địa danh hai huyện Thạch
130
Thất và Ba Vì, Hà Nội)
4.1.1.Không gian thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
131
4.1.1.1 Đặc điểm canh tác của người Xứ Đoài nhìn từ địa danh chỉ nơi
131
sản xuất
4.1.1.2. Đặc điểm canh tác của người Xứ Đoài nhìn từ địa danh chỉ nơi
3
134
cư trú
4.1.2. Không gian không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
137
4.1.2.1. Khu vực đồi núi phía tây
138
4.3.1. Tên làng Xứ Đoài và các dòng họ
148
4.3.2. Những dấu vết của sự di dân
151
4.4. Quan điểm chính trị nguyện vọng của cư dân trong địa danh ở Xứ Đoài
153
4.4.1.Quan điểm chính trị trong quá trình Hán tự hoá địa danh ở Xứ Đoài
153
4.4.2. Quan điểm chính trị trong quá trình đặt địa danh ở Xứ Đoài
159
4.4.3. Nguyện vọng về cuộc sống tốt đẹp trong việc đặt địa danh Xứ Đoài
163
4.5 Tiểu kết chương 4
165
KẾT LUẬN
3.
An Nam chí lược
ANCL
4.
Kiến văn tiểu lục
KVTL
5.
Lịch triều hiến chương loại chí
LTHCLC
6.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
KĐVSTGCM
7.
Đại Nam nhất thống chí
ĐNNTC
13.
Khu vực tự nhiên
KVTN
14.
Khu vực nhân văn
KVNV
15.
Cơ sở dữ liệu
CSDL
16.
Hán Việt Việt hoá
HVVH
17.
Proto Việt Mường
PVM
48
Bảng 2.1: Địa bàn cư trú của cư dân xứ Đoài thời tiền Đông Sơn
57
Bảng 2.2: Tên làng có dấu vết của ngôn ngữ Môn-Khơme và Proto Việt
59
Mường
Bảng 2.3: Tên làng có dấu vết tiếp xúc với ngôn ngữ Tày Thái và Nam Đảo
63
Bảng 2.4: Tên làng có yếu tố Hán Việt cổ
67
Bảng 2.5: Tên làng có yếu tố Hán Việt đơn tiết
68
Bảng 2.6: Tên làng có yếu tố Hán Việt Việt hoá
69
Bảng 2.7: Biến đổi địa danh trên đất Xứ Đoài và các vùng lân cận (giai
108
xã hoặc tên của thôn tương đương với xã
Bảng 3.3: Lớp địa danh tự nhiên chỉ địa hình núi thấp – khối tảng
113
Bảng 3.4: Địa danh chỉ địa hình gò - đồi quanh chân núi (Lớp địa danh
115
chỉ khu vực tự nhiên)
Bảng 3.5: Địa danh chỉ địa hình đồi và đồng bằng đồi quanh chân núi
117
(Lớp địa danh chỉ khu vực nhân văn)
Bảng 3.6: Địa danh chỉ địa hình trong đới sụt – Phần hữu Tích (Lớp địa
6
121
danh chỉ khu vực tự nhiên)
Bảng 3.7: Địa danh chỉ địa hình trong đới sụt – Phần hữu Tích (Lớp địa
122
danh chỉ khu vực nhân văn)
Bảng 4.6: Địa danh thể hiện quan điểm thẩm mĩ
155
Bảng 4.7: Chữ kiêng huý xuất hiện trong địa danh (từ triều Gia Long
157
đến triều Minh Mạng)
Bảng 4.8: Các chữ kiêng húy xuất hiện trong địa danh (triều Thiệu Trị)
157
Bảng 4.9: Các chữ kiêng húy xuất hiện trong địa danh (triều Tự Đức)
158
Bảng 4.10: Địa danh hành chính cấp huyện ở Xứ Đoài thể hiện ý niệm
160
chính trị thời kì Bắc thuộc
Bảng 4.11: Tần suất của các yếu tố thể hiện lí tưởng "Trường trị cửu an"
161
trong địa danh hành chính cấp xã huyện (Trường hợp địa
danh các xã thộc đất huyện Ba Vì và Thạch Thất hiện nay)
Bảng 4.12: Tần sất của các yếu tố thê hiện lý tưởng "Quyền lực chuyên chế"
84
Ảnh 2.5: Bản đồ huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây (Trước thế kỉ XX)
89
Ảnh 3.1: Phân bố địa danh hành chính cấp xã (trường hợp huyện Thạch Thất)
107
Ảnh 3.2: Phân bố địa danh hành chính cấp xã (trường hợp huyện Ba Vì)
108
Ảnh 3.3: Địa hình xã Vân Hoà
119
Ảnh 3.4: Địa hình xã Tản Lĩnh
119
Ảnh 3.5: Địa hình ven sông Hồng và các điểm địa danh ở huyện Ba Vì
127
Ảnh 3.6: Địa hình vùng nội đồng và các điểm địa danh các xã Tiên
128
Ngày 29/5/2008, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã
thông qua Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 Về việc điều chỉnh địa giới hành chính
thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan. Theo Nghị quyết này, Thủ đô Hà Nội
được mở rộng bằng cách hợp nhất toàn bộ diện tích tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh
(tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình). Tiếp theo, Chính
phủ cũng công bố dự án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030
và tầm nhìn đến năm 2050. Sau khi nghị quyết trên được ban hành, vấn đề đặt ra
hiện nay là gìn giữ các giá trị văn hóa cổ truyền của Xứ Đoài, đáp ứng được các
chiến lược tổng thể về bảo tồn và phát triển bền vững không gian văn hóa Thăng
Long – Hà Nội mới.
Văn hóa Xứ Đoài có thể được nghiên cứu từ nhiều góc độ như dân tộc học,
văn hóa dân gian, xây dựng kiến trúc… Mỗi cách tiếp cận có tính đặc thù và có
phương pháp riêng, có giá trị riêng, bổ sung cho nhau. Khu vực học tiếp cận Xứ
Đoài như một không gian văn hoá đặc thù, tìm cách lý giải các tác nhân tạo nên khu
vực văn hoá đó.
Địa danh là một loại sáng tạo hữu thức dựa trên mối quan hệ quy chiếu giữa kí
hiệu ngôn ngữ với khu vực địa lí và dựa trên sự cần thiết cho hoạt động xã hội.
Trước hết, chúng được đặt ra để đánh dấu không gian. Sau đó, chúng gián tiếp thể
hiện những tri nhận về sự thích nghi với điều kiện tự nhiên, môi trường, sự biến
động của cư dân, đặc trưng nguồn gốc chủng tộc, những yếu tố lịch sử tác động đến
sự phát triển của cộng đồng, cũng như những quan điểm về chính trị - xã hội mà
cộng đồng cư đã cùng nhau gây dựng và trải qua.
9
`
Tuy nhiên, Xứ Đoài không phải địa danh hành chính, không phải tên gọi chính
thống, biên độ không gian mà địa danh Xứ Đoài quy chiếu tới khác nhau qua từng
giai đoạn lịch sử. Vì vậy, để định vị và làm sáng tỏ đặc trưng không gian văn hóa
10
`
ghi dấu lại trong địa danh.
- Phạm vi địa bàn nghiên cứu: huyện Thạch Thất và huyện Ba Vì (Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: từ thời điểm 1/8/2008 trở về trước.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu định hướng Khu vực học (Area Study)
Từ định hướng Khu vực học, Xứ Đoài được xem như một không gian văn hóa
tạo nên bởi tổng thể của những mối quan hệ đặc thù về vị trí (phía tây Hà Nội), về
môi trường tự nhiên (vùng chuyển tiếp bán sơn địa), phong tục tập quán, thiết chế
chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo... do chủ thể văn hoá (là các cộng đồng cộng cư
lâu đời ở đây) sáng tạo ra và đồng thời chịu tác động.
Trong không gian văn hoá đó, hệ thống địa danh đóng vai trò là sản phẩm văn
hóa do chủ thể tạo ra trong quá trình định cư, sinh hoạt, phát triển. Chúng phản ánh
tri nhận của chủ thể, ghi lại những sự biến đổi trong quá trình vận động của lịch sử.
Nhìn vào cách thức cấu tạo của địa danh, cách chúng ra đời, tồn tại, mất đi, hợp
nhất, phân khai, cách thức chúng phân bố giữa những mối tương quan về không
gian có thể cho phép ta định hình được bức tranh không gian văn hoá khu vực.
4.2. Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu văn hóa (Interdisciplinaire)
Từ ba chiều cạnh ngôn ngữ - địa lí – lịch sử, luận án xem xét, mô tả đặc trưng,
đánh giá khả năng tương tác giữa các lớp địa danh, cụ thể là địa danh hai huyện
Thạch Thất và Ba Vì để tạo nên không gian văn hóa Xứ Đoài.
- Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp của ngôn ngữ học – địa danh học
được sử dụng trong việc phân tích phức thể địa danh Xứ Đoài như một đơn vị ngôn
ngữ có cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩa đặc trưng.
- Phương pháp so sánh lịch sử được sử dụng để tìm ra mối liên hệ lịch đại của
lớp địa danh hiện đang được sử dụng. Nhờ các mối liên hệ với các sự kiện, hiện
4.3. Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case Study)
Xứ Đoài là một không gian văn hoá dân gian với những đường biên mờ, ranh
giới rộng hẹp khác nhau theo từng quan niệm. Tuy nhiên, huyện Ba Vì và huyện
Thạch Thất là những khu vực hành chính luôn thuộc về Xứ Đoài trong bất kì hoàn
cảnh nào, bất kì thời điểm lịch sử nào. Hai trường hợp địa danh của huyện Ba Vì và
địa danh của huyện Thạch Thất có đầy đủ các cảnh quan địa hình đặc trưng cho Xứ
Đoài, lưu giữ hầu hết những sản phẩm văn hoá điển hình Xứ Đoài. Đồng thời, đây
cũng là những địa điểm chịu nhiều tác động từ quá trình phát triển kinh tế kể cả tích
cực và tiêu cực. Vì vậy, sử dụng cứ liệu địa danh của hai khu vực này để mô tả
chung cho toàn bộ không gian văn hoá Xứ Đoài là khả thi.
12
`
4.4. Phương pháp điền dã (Field research method)
Phương pháp điền dã được thực hiện qua các bước sơ thám (làm quen với khu
vực), khảo sát theo các lộ trình chi tiết và ghi lại trong nhật kí hành trình (bao gồm:
thu thập các vi địa danh, sơ đồ hoá vị trí phân bố của các vi địa danh, tìm hiểu các
nguyên nhân đặt địa danh, cách lí giải dân gian của các trí thức địa phương, các
phong tục tập quán có quan hệ với địa danh...).
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Định vị và mô tả đặc trưng văn hóa Xứ Đoài từ góc độ không gian, với ba
chiều cạnh là lịch sử, địa lí môi trường và không gian xã hội.
- Chọn hệ thống địa danh hai huyện Thạch Thất và Ba Vì (Hà Nội) như là một
trường hợp điển hình lưu giữ những giá trị văn hóa Xứ Đoài, sử dụng các cứ liệu
địa danh này để để tiếp cận văn hóa Xứ Đoài dưới góc độ khu vực học và bằng
phương pháp nghiên cứu liên ngành.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lí luận: mô tả, phân tích, chỉ ra những đặc trưng của một không
dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ với các phương pháp phân tích cảnh quan,
phương pháp so sánh lịch sử, phân tích và phê khảo sử liệu, không gian văn hoá Xứ
Đoài sẽ được mô tả, làm sáng tỏ từ địa danh của hai huyện Thạch Thất và Ba Vì
(Hà Nội).
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Các ghi chép, khảo cứu liên quan đến Xứ Đoài trước năm 1888
Những ghi chép đầu tiên liên quan đến lịch sử, địa lí, địa danh vùng đất mà
sau thế kỉ XVII được gọi là Xứ Đoài là của các tác giả Trung Quốc. Có thể kể đến
Hán thư - Địa lí chí (Ban Cố - đời Hán), Thủy kinh chú (Lịch Đạo Nguyên, Dương
Thủ Kính – đời Bắc Ngụy), Nguyên Hòa quận huyện chí (Lý Cát Phủ - đời Đường),
Thái Bình hoàn vũ kí (Nhạc Sử - đời Bắc Tống), Quận huyện thích danh (Quách Tử
Chương - đời Nguyên), Đại Minh nhất thống chí (đời Nguyên), Gia Khánh trùng tu
nhất thống chí (đời Thanh). Trong đó, phần quận quốc thuộc Hán thư Địa lí chí
(quyển 28 hạ) đã ghi lại địa danh Mê Linh và Chu Diên trong những nội dung viết
về quận Giao Chỉ [142, tr.73]. Đây là hai địa danh lịch sử liên quan mật thiết đến sự
14
hình thành Xứ Đoài. Thủy kinh chú miêu tả về sông Diệp Du (sông Hồng) có nhánh
thứ tư và thứ năm “qua huyện Mê Linh của quận Giao Chỉ chảy ra biển” [55, tr.408]
“huyện Mi Linh mở ra vào năm Nguyên Đỉnh thứ 6 thời Hán Vũ Đế, là lị sở của Đô
Uý” [55, tr.421]. Giao Châu ngoại vực kí nhắc tới một con sông “đối với huyện Chu
Diên” rồi “chảy về phía đông qua huyện Câu Lậu” - con sông mà Đào Duy Anh xác
định là sông Đáy [1, tr.53]. Cựu Đường Thư – Địa lí chí cho biết địa danh Châu
Phong/Phong Châu được đặt vào đời nhà Tuỳ, giữ nguyên cho đến đời Đường, vốn
là đất huyện là huyện Gia Ninh đời Hán, thuộc Tượng Quận ở đời Tần, quận Tân
Hưng ở đời Ngô, quận Tân Xương đời Tấn, Hưng Châu đời Tống, đời Tề. Ngoài
huyện Gia Ninh, thuộc Phong Châu còn có 5 huyện trực thuộc khác là Tân Xương,
An Nhân, Trúc Lạc, Thạch Đê [144, tr.1381]. Phong Châu quy chiếu đến một vùng
đất rộng lớn, gắn với nhiều huyền tích của châu thổ Bắc Bộ, nằm ở phía đông bắc
Tắc – đời Trần), Dư địa chí (Nguyễn Trãi – đời Lê), Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn
– đời Lê Trung Hưng), Sơn Tây – Xứ Đoài được nhắc tới như một bộ phận không
thể thiếu của lãnh thổ quốc gia. An Nam chí lược (Lê Tắc - 1333) ghi lại các địa
danh hành chính được sử dụng đến cuối đời Trần và trong giai đoạn Minh thuộc
như Quốc Oai Châu, Phong Châu, huyện Mi Linh [87, tr.55-57]; các địa danh chỉ
khu vực tự nhiên như núi Tản Viên với chú thích “hình núi như cái tán”, núi Phật
Tích với chú thích “trên đá có dấu chân”; núi Lập Thạch là “hòn đá đứng sững” [87,
tr.60-61]; Lô Giang là “sông Tam Đái”, “Đại Ác giang” [87, tr.61]. Nếu như các
thông tin về trấn Quốc Oai trong ANCL còn hết sức sơ lược, thì đến Dư địa chí
(Nguyễn Trãi), diên cách, địa hình, tên sông núi, đặc sản của Sơn Tây Thừa tuyên
đã hiện lên rõ ràng hơn rất nhiều. Danh mục địa danh hành chính được kê khai đến
tên huyện cùng với tổng số các xã và nhân khẩu [101, tr.219]. Đến giai đoạn Lê
Trung Hưng (1533 - 1788) căn cứ theo Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), thông tin về
trấn Sơn Tây không có nhiều khác biệt so với thời kì trước ngoại trừ một vài thay
đổi về định giới, tên gọi của các phủ, huyện và tổng số xã trong mỗi huyện. Đến
cuối thế kỉ XIX, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Đại Nam nhất
thống chí và Đồng Khánh địa dư chí của Quốc sử quán triều Nguyễn đã cung cấp
một danh mục đầy đủ các đơn vị hành chính và hệ thống bản đồ toàn tỉnh, bản đồ
cho từng phủ, huyện cho từng tỉnh thành thuộc nước Đại Nam, bên cạnh những
16
thông tin có tính chất “địa chí” truyền thống.
Cùng với ĐKDĐC và ĐNNTC, Bắc thành địa dư chí lục của Lê Chất cũng ghi
lại danh sách địa danh hành chính 12 trấn phía Bắc vào thời điểm trước 1888, trong
đó có tên gọi của 5 phủ, 24 huyện 1264 thôn ấp thuộc trấn Sơn Tây. Cùng với tài
liệu nói trên, Sơn Tây dư đồ, Sơn Tây quận huyện bị khảo, Sơn Tây tỉnh chí là
những tài liệu có tính chất phương chí của Sơn Tây.
Bên cạnh thể loại sử kí và địa chí, cuối thế kỉ XIX còn xuất hiện công trình
chiếu quá trình biến đổi địa danh, tìm ra nguồn gốc, nguyên nhân quá trình đặt tên,
đổi tên, hợp tên và mất tên trong các địa danh Xứ Đoài hiện nay.
1.1.2. Các ghi chép, khảo cứu liên quan đến Xứ Đoài từ 1888 đến 1945
Sau năm 1887, Bắc Kì trở thành một xứ bảo hộ nằm trong Liên bang Đông
Dương. Bối cảnh lịch sử khá đặc biệt này dẫn đến sự tồn tại của 3 nguồn tài liệu
liên quan đến văn hóa và địa danh Xứ Đoài: văn bản Hán Nôm, văn bản tiếng Pháp
và văn bản bằng chữ Quốc ngữ.
Nguồn sách viết bằng chữ Hán vẫn kế thừa tư tưởng, văn phong và bút pháp
của các thể loại thông sử, địa chí của giai đoạn trước. Về lịch sử, bộ Khâm định Việt
sử thông giám cương mục và bộ Đại Nam nhất thống chí mà Quốc sử quán triều
Nguyễn làm thời Tự Đức vẫn được tiếp tục sửa chữa và hoàn chỉnh. Thêm vào đó
các sách chuyên về địa danh như Sơn Tây quận huyện bị khảo, Sơn Tây tỉnh toàn
hạt phủ huyện châu tổng xã thôn trại phường trang trại được biên soạn và sao chép.
Trong đó Sơn Tây tỉnh toàn hạt phủ huyện châu tổng xã thôn trại phường trang trại
là một bản kê các đơn vị hành chính của tỉnh Sơn Tây từ cấp phủ đến cấp nhỏ nhất
là xóm, điếm của tỉnh Sơn Tây vào khoảng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
Đầu thế kỉ XX, để phục vụ cho mục đích cai trị, thực dân Pháp và triều đình
phong kiến cho tiến hành thu thập số liệu thông tin về điền địa, phong tục, thần,
Phật ở nhiều địa phương trong cả nước. Vì vậy, một loạt các tài liệu địa bạ, thần
tích thần sắc, tục lệ được viết hoặc sao bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ
(chủ yếu vẫn là văn bản chữ Hán) được các trí thức và quan viên làng xã thực thiện.
Xét riêng trong các các làng xã thuộc tỉnh Sơn Tây, số tài liệu dạng này hiện lưu trữ
tại Viện Hán Nôm là 152 đầu tài liệu (Xem bảng 1.1):
18
Bảng 1.1: TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN VĂN HOÁ XỨ ĐOÀI (TỈNH SƠN
TÂY ĐẦU THẾ KỈ XX) THUỘC KHO SÁCH CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
Sơn.
AHa Bất Bạt, Tiên Phong.
AFa Bất Bạt, Phúc Thọ, Tiên Phong, Tùng
Thiện, Thạch Thất, Yên Sơn.
AJa Bất Bạt, Thạch Thất, Phúc Thọ.
AGa3 Bất Bạt, Phúc Thọ, Thạch Thất, Tiên
Phong, Tòng Thiện, Yên Sơn.
152
(Nguồn: Phòng tư liệu Viện nghiên cứu Hán Nôm, 2017)
Vào thời điểm này, các văn bản bằng tiếng Pháp để phục vụ cho công cuộc
khai thác thuộc địa của Pháp cũng xuất hiện. Về tiếng Pháp có thể kể đến Notice sur
la province de Son-Tay (Địa chí tỉnh Sơn Tây) của Bùi Định Thịnh viết năm 1932
về lịch sử, thủy văn, tài nguyên mỏ và rừng, công nghiệp, đường giao thông, thương
mại, phong tục tập quán; các chùa nổi tiếng và các danh nhân của tỉnh...
Từ thế kỉ XX trở đi, cùng với sự tiếp xúc của văn hóa phương Tây, sự ra đời
của chữ Quốc ngữ, một loạt sách viết về địa dư, phong thổ Bắc Kì đã được viết theo
hướng hiện đại hơn. Năm 1926, dựa trên những bản báo cáo do Tòa Công sứ các
tỉnh gửi cho phủ thống sứ Bắc Kì, Viện Viễn đông bác cổ đã xuất bản công trình
Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kì viết bằng chữ Pháp. Hiện nay, chúng
ta có thể sử dụng tài liệu này để tìm hiểu về địa danh hoặc tổ chức hành chính đầu
thế kỉ XX của Bắc Kì nói chung và Sơn Tây nói riêng. Năm 1930, Đỗ Đình Nghiêm,
Ngô Vi Liễn và Phạm Văn Thư đã biên soạn Địa dư các tỉnh Bắc Kì để dạy cho các
trường Pháp Việt. Phần Tỉnh Sơn Tây giống như các tỉnh khác được nói rõ diện tích,
địa hình, sơn xuyên dân cư, khí hậu, các phủ huyện xã thôn, đường giao thông đi lại,
canh nông thổ sản, kĩ nghệ thương mại, cổ tích, thắng cảnh. Địa đồ được vẽ theo
19
20
Sơn Vi trên đất Ba Vì thì những nghiên cứu về khu vực này mới bắt đầu tách dần
khỏi những đề tài về vận động tuyên truyền [64, tr.25-41]. Từ năm 1973 đến năm
1980, Đinh Văn Nhật công bố một loạt các kết quả nghiên cứu về vị trí của huyện
Mê Linh trong các số 148 [57], 149 [58], 156 [59], 177 [60], 190 [61], 191 [62] của
tạp chí Nghiên cứu lịch sử. Mặc dù không trực tiếp đề cập đến Xứ Đoài, nhưng qua
cách thức xác định vị trí của các địa danh cổ có liên quan đến bộ lạc Mê Linh và địa
bàn hoạt động của Hai Bà Trưng, chúng ta có thể phục dựng được một không gian
Xứ Đoài cổ theo quan điểm của nhà nghiên cứu này. Đến năm 1985, trong khoảng
thời gian mà Sơn Tây nhập vào Hà Nội lần thứ nhất, Nhà xuất bản Hà Nội đã xuất
bản cuốn Làng xã ngoại thành Hà Nội của Bùi Thiết. Trong cuốn sách mang hình
thức từ điển bách khoa về địa danh này, tên gọi, vị trí, lịch sử sơ lược của các xã,
thôn thuộc không gian Xứ Đoài cũng được thu thập và giới thiệu.
Giai đoạn 1991 - 2008, các nghiên cứu về Xứ Đoài bắt đầu tăng nhanh hơn và
đa dạng hơn. Dưới sự chỉ đạo của Sở văn hoá thông tin tỉnh Hà Tây, nhiều công
trình nghiên cứu có tính chất tổng kết về văn hoá - văn hiến Hà Tây được in ấn và
xuất bản như Hà Tây – làng nghề làng văn (1994), Sơn Tinh và vùng văn hóa cổ Ba
Vì (1997), Di tích Hà Tây (1999), Sơn Tây một vùng đất cổ (Nhiều tác giả, 2002),
Di sản văn hóa Hà Tây và việc bảo tồn di sản văn hóa của tỉnh trong thời gian tới
(Đặng Văn Tu, tạp chí Di Sản, số 4, 2005). Trước thời điểm Hà Tây sáp nhập vào
Hà Nội, Sở văn hoá thông tin tỉnh Hà Tây, trung tâm bảo tồn và phát huy nghệ thuật
dân tộc tổ chức cuộc hội thảo khoa học về Một số vấn đề văn hiến Hà Tây truyền
thống và hiện đại (2004), Đặng Văn Tu, Nguyễn Tá Nhí đã cho chỉnh lí, biên soạn
bổ sung cuốn Địa chí Hà Tây và được NXB Hà Nội cho in vào năm 2011. Cho đến
nay, Địa chí Hà Tây vẫn được coi là cuốn địa chí miêu tả đầy đủ nhất về đất và
người Hà Tây nói chung và Sơn Tây nói riêng trong thời kì hiện đại.
Với bối cảnh của thời kì Đổi mới và hội nhập, các giá trị văn hoá lưu giữ trong