TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HÓA NHTM NHÀ NƯỚC - Pdf 67

TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HÓA NHTM NHÀ NƯỚC
1.1 Ngân hàng thương mại Nhà nước và vai trò của nó đối với nền kinh
tế.
1.1.1 Khái niệm
Hiện nay, hệ thống NHTM quốc doanh gồm 5 Ngân hàng : Ngân hàng
Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Công
thương, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng nhà đồng bằng sông Cửu
Long. Trong quá trình hình thành và phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam các
NHTM quốc doanh luôn ở vị trí đi đầu, đóng vai trò quyết định .
Xuất phát từ chức năng của Ngân hàng có thể định nghĩa:
Ngân hàng là một loại định chế tài chính mà hoạt động thường xuyên là
nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
NHTM là loại hình Ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua
các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu.
Từ đó, NHTM Nhà nước là NHTM do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ
chức quản lý hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã
hội của Nhà nước. Hoạt động của NHTM Nhà nước chịu sự điều chỉnh của luật
DN, luật DNNN, luật các tổ chức tín dụng.
Các NHTM Nhà nước chính là các DNNN quy mô lớn về vốn, về lao động,
hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính có giá trị gia tăng cao. Và không giống
những loại hình doanh nghiệp khác, sản phẩm của Ngân hàng chủ yếu là tiền, một
loại hàng hoá đặc biệt, đối tượng giao dịch là cộng đồng rộng lớn nên sự an toàn
của hệ thống Ngân hàng được đặt lên hàng đầu.
Hoạt động chính của NHTM nhà nước bao gồm có:
Nghiệp vụ tài sản nợ : Phản ánh hoạt động tạo lập nguồn vốn của Ngân
hàng. Nguồn vốn này bắt nguồn từ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội : Vốn tiền
gửi như nhận tiền gửi không kì hạn, nhận tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm, vốn
đi vay như phát hành kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi, vay của NHNN, các Ngân hàng
và tổ chức tài chính khác…Vốn tự có gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ được trích từ
lợi nhuận ròng hàng năm bổ sung vào vốn tự có, và vốn coi như tự có (lợi nhuận
chưa chia,các quỹ khác chưa sử dụng)

chính khác như mạng lưới chi nhánh rộng, vốn lớn, không bị hạn chế giấy phép
hoạt động, thị phần huy động vốn của NHTM Nhà nước luôn chiếm hơn 70% tổng
nguồn vốn huy động. Vì nguồn vốn huy động lớn như thế, các NHTM Nhà nước là
đơn vị có khả năng lớn nhất trong việc cung ứng vốn cho dự án lớn, cho những
công trình phúc lợi lớn của Nhà nước như xây dựng các nhà máy, các chung cư,
cầu đường…góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thứ ba, thông qua các chi nhánh, mạng lưới rộng khắp của NHTM Nhà
nước, Chính phủ có thể chuyển vốn đến những vùng khó khăn, những đối tượng
chính sách đang cần vốn.Từ đó,tạo khả năng phát triển cho những vùng, những
ngành không có điều kiện thuận lợi, không thu hút được đầu tư. Có như thế mới
thực hiện được chủ trương đồng đều trong cả nước, xoá bỏ khoảng cách giữa nông
thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng, người giàu và người nghèo.
Ở Việt Nam, hoạt động của NHTM Nhà nước đã đem đến cho sự nghiệp xây
dựng đất nước những thành công không thể phủ nhận. Những công trình giao
thông, điện, những công trình trọng điểm quốc gia được xây dựng từ phần lớn
nguồn vốn tín dụng của các Ngân hàng đang làm thay đổi diện mạo đất nước từng
ngày. Năm 2003, vốn đầu tư Nhà nước, trong đó phần lớn là tín dụng của NHTM
Nhà nước, chiếm tới 56,5% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội. Không chỉ cấp tín
dụng, các Ngân hàng còn tích cực trong các chương trình xoá đói giảm nghèo của
Nhà nước. Điển hình là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn.Tại nhiều
vùng nông thôn, miền núi còn nghèo nàn khó khăn, các cán bộ tín dụng đến cấp
vốn và hướng dẫn nông dân làm giàu, thúc đẩy phát triển kinh tế ở các địa
phương.Các chương trình cho vay trả chậm nhà ở vùng ngập lũ ở đồng bằng sông
Cửu Long, cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường, cho vay giải quyết việc làm
học sinh, sinh viên…được thực hiện. Đó là những hoạt động vừa mang tính kinh tế
vừa mang tính xã hội rộng rãi. Theo quyết định số 131/2002/QĐ-TTG ngày
04/10/2002, Ngân hàng chính sách xã hội đã được thành lập để thực hiện vai trò xã
hội của nó là cho vay chính sách, tạo điều kiện để các NHTM Nhà nước chú trọng
vào hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, với hoạt động bản chất là cấp tín dụng trong
điều kiện nền kinh tế nước ta con chưa phát triển ,các NHTM Nhà nước vẫn có

nhân, cả thể nhân,người nước ngoài hay người lao động.
Việc hình thành DNNN ở mỗi nước trên thế giới là do điều kiện khách quan
của từng nước chi phối và quyết định. ở Việt Nam , trong nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung, DNNN là một công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý và điều hành vĩ
mô, thực hiện chức năng kinh tế và xã hội. Cũng vì thế, thời kì này, DNNN được
Nhà nước ưu đãi và có những trợ giúp nhất định. Bước sang nền kinh tế thị trường,
các DNNN phải chấp nhận hoà nhập vào thị trường cạnh tranh gay gắt với những
biến động khôn lường. Những ưu đãi trong cơ chế cũ thường không được tính toán
một cách chính xác, sự bao cấp của Nhà nước cũng có hạn với một số lượng
DNNN quá lớn, khiến cho nhiều DNNN làm ăn thua lỗ, ít hiệu quả và trở thành
gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng và Nhà nước
đã đưa ra chủ trương đổi mới, sáp nhập, hợp nhất, giải thể và cổ phần hoá các
DNNN . Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần IX nêu rõ: “…Thực hiện chủ
trương cổ phần hoá những doang nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100%
vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động thúc đẩy
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả…Thực hiện việc giao bán, khoán cho thuê, các
doang nghiệp loại nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ. Sáp nhập, giải thể, phá
sản những doanh nghiệp không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháp
trên [190] ”.
Sau hơn mười ba năm thực hiện, cổ phần hoá DNNN đã đem lại những kết
quả khả quan, cho they sự chuyển biến tích cực so với trước khi chuyển đổi sở hữu
doanh nghiệp, thể hiện qua số liệu của một số doanh nghiệp được cổ phần hoá:
Vốn điều lệ tăng 50%, doanh thu tăng 60%, lợi nhuận trước thuế tăng 137%, nộp
ngân sách tăng 45%, thu nhập người lao động tăng 63%.
1.2.1.2. Khái niệm cổ phần hoá NHTM nhà nước.
Giống như cổ phần hoá DNNN, cổ phần hoá NHTM Nhà nước là quá trình
chuyển hoá cơ cấu sở hữu tài sản và quyền chủ động điều hành hoạt động từ đơn
sở hữu là Nhà nước sang đa sở hữu. Trong quá trình đó, Nhà nước chuyển và góp
toàn bộ “ Cơ nghiệp “ của NHTM Nhà nước trước khi cổ phần hoá vào một cấu
trúc Ngân hàng mới với mục tiêu cần đạt được là quy mô vốn lớn hơn, công nghệ

thuộc lớn lẫn nhau chứ không tách riêng như đối với các DNNN. Chỉ cần sự biến
động trong một Ngân hàng cũng có thể dẫn sự xáo trộn trong hoạt động của cả hệ
thống và của nền kinh tế. Lịch sử đã chứng minh rằng sự thất bại của 10.000 ngân
hàng ở Mỹ vào giữa những năm 1930-1933 đã làm cho cuộc khủng hoảng trầm
trọng hơn và dai dẳng hơn. Gần đây cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á
cũng cho thấy nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng không phảI do áp lực tài
trợ cho những thiếu hụt về ngân sách như cuộc khủng hoảng ở châu Mỹ La tinh mà
chính là do những yếu kém của hệ thống ngân hàng. Điều này đòi hỏi cổ phần hoá
NHTM nhà nước phải hận trọng hơn nhiều so với cổ phần hoá doanh nghiệp.
Điều này đòi hỏi cổ phần hoá NHTM Nhà nước phải thận trọng hơn nhiều
so với cổ phần hoá doanh nghiệp.
1.2.2 Sự cần thiết phải cổ phần hoá NHTM nhà nước
Với những vai trò chức năng của mình hệ thống ngân hàng đóng vai trò như
mạch máu của nền kinh tế. Ngày nay sự vận động của kinh tế thế giới là kinh tế
hàng hoá với cơ chế thị trường không chỉ cạnh tranh trong nước mà cả quốc tế.
Việc Việt Nam thực hiện đổi mới mở cửa đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt
động của DNNN, chuyển DNNN thành doanh nghiệp độc lập tự chủ trong đó bao
gồm cả đổi mới cơ cấu hệ thống NHTM Nhà nước Việt Nam. Trước yêu cầu đó cổ
phần hoá được xem là biện pháp khả thi nhất được ví như một mô hình tối ưu, một
” sản phẩm văn minh” của nền kinh tế thị trường. Bởi vì cổ phần hoá sẽ giúp
NHTM Nhà nước giải quyết được những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, tăng vốn tự có để đáp ứng yêu cầu về tăng trưởng và an toàn
Về năng lực tài chính nói chung các NHTM nhà nước Việt Nam còn rất yếu
so với nhu cầu thực tiễn. Thiếu vốn tự có đang là một vấn đề bức xúc đối với
NHTM Nhà nước. Thực tế, trong số vốn tự có hiện nay của các ngân hàng thì trên
50% là vốn danh nghĩa, tức là được hình thành từ trái phiếu đặc biệt của Chính
phủ. Loại trái phiếu này chỉ biến thành vốn mỗi năm có 3% do cách trả lãi trái
phiếu đặc biệt của bộ tài chính và chỉ là giải pháp tình thế.
Để đạt được tỉ lệ an toàn vốn quốc tế tối thiểu là 8%, như dự kiến đến năm
2010, các NHTM quốc doanh cần 117.000 tỷ đồng. Với tình trạng ngân sách Nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status