ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TỐNG VĂN CHUNG
ĐỀ TÀI
NHỮNG NHÂN TỐ KINH TẾ- XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ CHUYỂN
CƯ CỦA CƯ DÂN NÔNG THÔN TRONG QUÁTRÌNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Mã số: 62 31 30 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS Đặng Cảnh Khanh
Hà Nội - 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 . Tính cấp thiết của đề tài
Trang
1
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
2
16
Chƣơng 1: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 - Cơ sở thực tiến của đề tài
18
1.2 - Cơ sở lý luận của đề tài
23
1.3 - Hệ khái niệm công cụ
35
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN CƢ Ở NÔNG THÔN
VIỆT NAM TRONG ĐỔI MỚI ( từ 1986 đến 2010)
2.1 – Tình hình chuyển cư ở nông thôn giai đoạn 1986 - 2000
49
49
2.2 - Tái định cư vùng lòng hồ thuỷ điện – dạng đặc thù của
64
chuyển cư ở nông thôn trong Đổi mới.
2.3 – Chuyển cư của cư dân nông thôn những năm 2000 -2010
Chƣơng 3: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN CƢ
3.6 – T¸c ®éng cña qu¸ tr×nh ®« thÞ hãa.
167
KẾT LUẬN
178
1- Kết luận:
178
2 - Kiến nghị
179
C¸c c«ng tr×nh ®· c«ng bè liªn quan ®Õn luËn ¸n
182
TÀI LIỆU THAM KHẢO
183
PHỤ LỤC
211
ii
một nhu cầu tất yếu. Cần trả lời hàng loạt vấn đề: Tình trạng di cƣ hiện nay ra
sao? Di dân sẽ làm biến đổi cấu trúc (cơ cấu) dân số-xã hội nhƣ thế nào? Những gì
là nguyên nhân, là các yếu tố, là những điều kiện . . . gây tác động, ảnh hƣởng đến
sự di chuyển dân cƣ nhƣ vậy? Vai trò của quá trình chuyển cƣ đối với công cuộc
xây dựng, kiến thiết đất nƣớc và phát triển mọi mặt khác nhau của đời sống xã hội
nói chung và của từng địa phƣơng cụ thể nói riêng ra sao? Hậu quả của nó có ảnh
hƣởng gì đến sự phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá của từng vùng, từng dân tộc?
Có sự thay đổi gì về lối sống của họ trong những điều kiện hoạt động sống mới?
Những mối quan hệ xã hội mới đƣợc định hình nhƣ thế nào? Hậu quả môi trƣờng
nơi họ mới chuyển đến ra sao? Sự lan truyền văn hoá, lối sống cũng nhƣ sự “giao
thao” văn hoá giữa những nhóm xã hội “đi”, “đến" nhƣ thế nào? ...
2 - Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
2.1 - Ý nghĩa khoa học của luận án
Thực hiện đề tài của luận án sẽ là sự vận dụng các lý thuyết xã hội học vào
nghiên cứu hiện tƣợng xã hội chuyển cƣ ở nông thôn Việt Nam trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn hiện nay. Trên cơ sở đó
đóng góp làm giàu nội hàm các khái niệm của lý luận xã hội học, bổ sung những
tri thức thực nghiệm xã hội học cho nhận thức về quá trình chuyển cƣ ở nông
thôn Việt Nam trong giai đoạn 2000. Nghiên cứu này cũng là một sự cố gắng tìm
hiểu lý giải động cơ di chuyển của ngƣời dân nông thôn trong công cuộc công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nƣớc.
Khi thực hiện đề tài nghiên cứu của luận án chúng tôi muốn làm sáng tỏ sự
tác động của những quy luật xã hội học (và cả tính quy luật) tác động đến quá
trình di chuyển dân cƣ hiện nay. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp cho
2
lý luận về chuyển cƣ trong giai đoạn Đổi mới của đất nƣớc, qua đó góp một phần
cho nhận thức đúng về thực trạng di cƣ hiện nay ở Việt Nam. Kết quả nghiên
cứu của đề tài góp một phần cho sự mở rộng khía cạnh lý luận về quá trình tái
Trong những năm 90 của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI
nhiều công trình nghiên cứu về di cƣ của các tác giả trong và ngoài nƣớc về vấn
đề di cƣ ở Việt Nam đã đƣợc đăng tải.
1) Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở 1/4/1999 cho thấy "có hơn 800 nghìn ngƣời
từ Đồng bằng sông Hồng và miền Tây Nam Bộ, gần 700 nghìn ngƣời từ miền
Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ đã rời quê, đổ về thành thị kiếm sống trong
vòng 5 năm qua" [11; tr. 1-2].
2) Những hội thảo cấp quốc gia, quốc tế về vấn đề di cƣ tự do, và nhiều chuyên
khảo nghiên cứu về di cƣ ở Việt Nam đều đi đến nhận định: di cƣ là một vấn
đề khách quan, mang tính lịch sử cụ thể, trong quá trình phát triển [3; 135;
136; 147; 151; 169; 171; 173; 174, v.v.]. Các tác giả đều nhất trí rằng, trong
xã hội Việt Nam hiện đại tồn tại hai loại hình của quá trình di chuyển dân cƣ:
di dân cƣ có kế hoạch (có tổ chức) do Nhà nƣớc chủ động thực hiện nhằm
góp phần đây nhanh quá trình khôi phục và phát triển kinh tế. Loại hình thứ
hai - di dân tự do - trở nên sôi động trong đổi mới. Đây là dòng di cƣ "không
chịu sự kiểm soát của nhà nƣớc" [2; 4; 17; 20; 145, ...].
3) Trong những nghiên cứu về di dân tự phát cho thấy:
Nguyên nhân kinh tế của quá trình di chuyển dân cƣ này có nhiều,
nhƣng ở cấp cá nhân [1; 4; 17; 62; 85; 92; 95; 171; 173]
4
Các nhân tố nhƣ đất đai canh tác, thu nhập, việc làm v.v. chi phối
quyết định di cƣ.
Việc di chuyển của ngƣời ra đô thị tìm việc làm đã gây ảnh hƣởng đến
đô thị.
Hiện tồn tại những dòng di cƣ: nông thôn-nông thôn; nông thôn - đô
thị, di cƣ đô thị - nông thôn, và di cƣ đô thị-đô thị [2, 134; 144; 146;
154]
4) Về động cơ, sự tác động, nhu cầu di cƣ, những nguyên nhân khách quan, chủ
9. Công trình “Di dân tự do đên Đồng Nai và Vũng Tàu” (Dự án
VIE/93/P02) đã khảo cứu bản chất và đặc trƣng nhân khẩu học và kinh
tế-xã hội của di dân tự do, tìm hiểu các nguyên nhân khiến ngƣời dân
di chuyển, lịch sử di cƣ, sự thích nghi và hoà nhập của ngƣời dân vào
cộng đồng dân sở tại, những dự định và tƣơng lai của họ; tác động của
di chuyển dân cƣ và lao động tự do đối với sự phát triển kinh tế-xã hội
của vùng kinh tế trọng điểm trong quá trình Đổi mới [ 81].
10. Nghiên cứu "Động lực di dân nội địa ở Việt Nam" của Dự án
VIE/95/004 (do Philip Guest soạn thảo) đã tổng kết những vấn đề
nghiên cứu di dân trƣớc đây. Công trình đã đề cập đến tính chọn lọc
của di dân đến những thành phố của Việt Nam dƣới góc độ tuổi, giới
tính; đề cập đến chức năng xã hội của "mạng lƣới quan hệ xã hội trợ
giúp" trong quá trình di chuyển, sự chênh lệch về "cơ hội phát triển” có
đƣợc trong quá trình quyết định di chuyển của ngƣời di cƣ [134; tr. 18
– 19].
6
11. Nhóm tác giả khác coi sự di dân là sự biểu đạt “tính năng động của
ngƣời dân nông thôn đồng bằng Bắc Bộ”, và dòng di cƣ nông thôn-đô
thị ở đồng bằng Bắc Bộ .. chủ yếu là di chuyển vào Hà Nội [17; 60; 61;
62; 64; 67; 87; 95; 130; 136; 147; 154; 151; 169; 171; 175; 176 ; 214;
239].
12. Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 1997 (Vietnam Household
Living Standard Survey - VNMHS 97) cho thấy ngƣời di cƣ vào đô thị
chủ yếu với mục đích kiếm sống và hỗ trợ cho gia đình ở nông thôn,
chuyển tải thu nhập từ đô thị về nông thôn, không chỉ với mục đích tiêu
dùng mà còn đƣợc tích luỹ để đầu tƣ phát triển sản xuất [2; 5; 83].
13. Hƣớng nghiên cứu tập trung nghiên cứu và chỉ ra việc quy hoạch
không hợp lý, dẫn đến sử dụng kém hiệu quả và lãng phí đất, rừng
hóa đất nƣớc là di dân tái định cƣ (vùng lòng hồ thủy điện, khu công
nghiệp, khu chế xuất, ...) [ 8; 57 ]. Đây là một loại hình chuyển cƣ đặc
thù của chuyển cƣ ở nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nƣớc. Loại hình này chƣa đƣợc khảo cứu nhiều.
19. Trong những năm đầu thế kỷ XXI hiện tƣợng di cƣ tự do của các dân
tộc ít ngƣời vào trong Tây Nguyên trở thành hiện tƣợng xã hội. Những
nghiên cứu này cho thấy sự tác động của các nhân tố kinh tế văn hóaxã hội, những điều kiện tự nhiên khác nhau (khắc nghiệt ở nơi đi, thuận
lợi ở nơi đến), phong tục tập quán, gia đình dòng họ, v.v., đan quyện
nhau “lôi kéo” và “đẩy” những bà con dân tộc thiểu số các tỉnh vùng
8
núi phía Bắc di chuyển vào Tây Nguyên [ 72; 88; 92; 113; 136; 153;
182; 190; 192].
20. Công trình về chính sách di dân tự phát đã xây dựng cơ sở pháp lý để
đảm bảo môi trƣờng pháp lý cũng nhƣ tạo cơ hội cho ngƣời di cƣ. Đây
là sự đổi mới trong cách nhìn nhận về ngƣời di cƣ trong giai đoạn Đổi
mới hiện nay [90; 94; 98; 99; 149; v.v. ].
21. Hội thảo quốc tế “Di dân, phát triển và giảm nghèo” do Viện Khoa học
xã hội Việt Nam (VASS) và Liên hợp quốc tại Việt Nam (UN) tổ chức
tại Hà Nội trong hai ngày 5 và 6 tháng 10 năm 2009 chỉ ra lợi ích của
di dân trong nƣớc không những đó đƣợc nhận thấy ở cấp quốc gia và
khu vực mà cũng ở cấp độ cá nhân ngƣời di cƣ và gia đình họ. Di cƣ
mang lại lợi ích nhiều mặt nhƣ đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã
hội của quốc gia và địa phƣơng. Hội thảo cung cấp bằng chứng để hiểu
những tác động tích cực và tiêu cực của di dân trong nƣớc tại Việt
Nam.
22. Giải quyết việc làm ở Việt Nam trong 5 năm 2006-2010 do Trung tâm
thông tin –Tƣ liệu (CIEM), soạn thảo, chỉ ra tình trạng việc làm giai
ngƣời dân vùng lòng hồ thuỷ điện, ở các khu công nghiệp, khu kinh tế
phát triển, v.v.. Việc xây dựng thêm các nhà máy thuỷ điện lớn, vừa và
nhỏ trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa sẽ đặt ra nhiệm vụ
nghiên cứu về tái định cƣ.
5. Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn phát triển làng nghề là một nhiệm vụ quan trọng. Nhƣng những
10
nghiên cứu về di chuyển lao động đến những làng nghề hiện chƣa
nhiều.
6. Có thể tổng hợp khái quát trong bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội thời
hội nhập WTO, vào khu vực và quốc tế có ba hƣớng di cƣ chủ đạo: Di
cƣ nội nông thôn, di cƣ nông thôn - đô thị và di cƣ quốc tế. Hƣớng di
cƣ thứ ba có một số công trình nghiên cứu trong những năm gần đây
[58; 63].
Các nghiên cứu vận dụng những lý thuyết xã hội học, dân số học, kinh tế
học, kiến trúc quy hoạch, xây dựng đô thị, v.v. để nghiên cứu một hiện tƣợng di
chuyển dân cƣ nói chung, song vẫn chƣa có công trình tổng hợp, khái quát về
chuyển cƣ của cƣ dân nông thôn nhƣ một hiện tƣợng chỉnh thể trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nay. Vì thế, nghiên
cứu này đặt ra nhiệm vụ góp phần tìm hiểu và khái quát hóa những nhân tố kinh
tế-xã hội đối với sự di chuyển dân của cƣ dân đƣơng đại.
Việt Nam đang chuyển dần từng bƣớc sang nền kinh tế thị trƣờng, những
giá trị xã hội cũng đã ít nhiều thay đổi tầm ảnh hƣởng của nó. Bên cạnh những
giá trị truyền thống còn lƣu giữ trong lòng xã hội, có những giá trị đang “lên
ngôi”, gây không ít những ảnh hƣởng, tác động đến hành vi, sự lựa chọn của các
cá nhân trong xã hội Việt Nam đƣơng đại. Hệ những giá trị cũ, mới đan xen,
trong đó phải kể đến những giá trị “trọng sang, trọng giàu, trọng vật chất, trọng
văn minh, hiện đại . . .” [90]. Vì thế, nghiên cứu những nhân tố kinh tế - xã hội
4.1 – Khách thể nghiên cứu: Ngƣời dân nông thôn tham gia di cƣ
4.2 - Đối tƣợng nghiên cứu:
12
Những nhân tố kinh tế-xã hội tác động đến sự chuyển cư của cư dân nông
thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
4.3 - Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Do đặc trƣng chuyển cƣ của cƣ dân nông thôn rất đa dạng phong phú, đòi
hỏi phải tiến hành nghiên cứu sự chuyển cƣ nội địa trong phạm vi toàn quốc dựa
vào các số liệu công bố chính thức của Tổng cục Thống kê; mặt khác kết hợp
điều tra thực nghiệm xã hội học thực nghiệm để làm sáng tỏ những chiều sâu của
đề tài.
Về mặt thời gian, nghiên cứu này hƣớng đến xem xét sự di chuyển của cƣ
dân nông thôn từ khi đất nƣớc chuyển sang giai đoạn Đổi mới (1986) cho đến
năm 2010.
6 – Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu đƣợc đặt ra là: Động thái chuyển cƣ của cƣ dân nông
thôn Việt Nam trƣớc và trong Đổi mới nhƣ thế nào? Xu hƣớng của động thái đó
trong xã hội nông thôn Việt nam hiện nay ra sao? Vì sao lại nhƣ vậy?. Để trả lời
cho câu hỏi đó chúng tôi đặt ra những giả thuyết nghiên cứu sau:
1. Trong cơ chế kinh tế thị trƣờng, nhân tố kinh tế-xã hội (đất đai, lao động,
việc làm, thu nhập, ...) chi phối quyết định chuyển cƣ của ngƣời dân nông
thôn.
2. Sự tham gia di cƣ của ngƣời dân nông thôn chịu tác động của những đặc
trƣng xã hội (nhƣ giới, tuổi, học vấn, ...).
3. Những chính sách phát triển kinh tế-xã hội chi phối sự tham gia di cƣ của
ngƣời dân nông thôn
13
CHUYỂN CƢ
Mục đich
Quyết định
8 – Phương pháp nghiên cứu.
Để tiến hành nghiên cứu chúng tôi sử dụng phƣơng pháp phân tích tài liệu. Đây
là phƣơng pháp chính đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này, nguồn tài liệu bao
gồm:
14
1/ Các công trình công bố của Tổng cục thống kê, trên nguồn thông tin:
http://www.gso.gov.vn
2/ Số liệu thông báo của các cơ quan chức năng của Chính phủ; Nguồn
http://www.chinhphu.vn
3/ Số liệu Tổng Điều tra dân số và Nhà ở 1999,
4/ Điều tra Di cƣ Quốc gia 2004,
5/ Số liệu thống kê hàng năm;
6/ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009;
7/ Các công trình nghiên cứu, những kết quả khảo sát của các dự án về di
dân.
8/ Các công trình của các tác giả đã công bố trong và ngoài nƣớc [1-108;
112-114; 124 – 193, 195, 199, ...].
Trong quá trình nghiên cứu, để thu thập thông tin phục vụ cho đề tài,
chúng tôi tiến hành khảo sát xã hội học bằng phƣơng pháp trƣng cầu ý kiến xã
hội học. Bảng hỏi đƣợc chuẩn bị, dành cho các đối tƣợng tham gia di cƣ nội địa
theo hƣớng nông thôn-nông thôn và nông thôn-đô thị (xem phụ lục). Phƣơng
pháp thu thập thông tin này đƣợc tiến hành bằng cách xây dựng bảng hỏi tỷ mỷ,
Phần nội dung gồm 2 chƣơng và phần kết luận. Cuối mỗi phần và mỗi
chƣơng đều có sự luận bàn về khía cạnh đối tƣợng đƣợc nghiên cứu.
Chương 1 trình bày thành 4 tiểu mục: cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài,
bao gồm sự vận dụng lý luận xã hội học mác-xít, lý thuyết di động nhìn nhận vận
dụng để tiếp cận sự thay đổi vị thế của ngƣời tham gia di cƣ; vận dụng các lý
16
thuyết dân số học nhƣ thuyết “đẩy-kéo”, thuyết thị trƣờng lao động, thuyết mạng
lƣới di cƣ, v.v. .; định nghĩa một số khái niệm công cụ đƣợc dùng trong nghiên
cứu này.
Chương 2 Trình bày về sự chuyển cƣ trong đổi mới. Nội dung chƣơng này
gồm việc trình bày tình hình chuyển cƣ ở nông thôn trong những năm 19862000 theo các hình thức chuyển dân : di dân theo kế hoạch, di dân tự do nội địa
theo các hƣớng nông thôn-nông thôn, nông thôn-đô thị; tái định cƣ cƣ dân vùng
lòng hồ thủy điện; sự chuyển cƣ trong những năm 2000 -2010.
Chương 3 trình bày sự nghiên cứu về sự tác động, ảnh hƣởng của một số
nhân tố đến sự lựa chọn và quyết định tham gia di cƣ. Những nhân tố đƣợc khảo
cứu đƣợc phân chia trong các tiểu mục của chƣơng này: Đất đai canh tác; thu
nhập, việc làm, v.v.; sự tận dụng thời gian nông nhàn để tìm kiếm cơ hội tăng thu
nhập của ngƣời dân tham gia di cƣ; nghiên cứu sức hút của thị trƣờng lao động
đối với ngƣời di cƣ; vai trò của mạng xã hội; tác động của các chính sách của
nhà nƣớc đến sự di, dịch chuyển cƣ; sự tác động của những đặc trƣng nhân khẩu
xã hội đến quyết định tham gia di cƣ; tác động của quá trình đô thị hóa đến sự di,
dịch cƣ trong Đổi mới.
Phần kết luận và kiến nghị tóm tắt và tổng kết lại kết quả nghiên cứu đạt
đƣợc, đề xuất một số khuyến nghị và hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
17
điều kiện cho người mới đến ổn định sản xuất và đời sống” .... “Đẩy mạnh công
tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và đời sống của đồng bào trước hết ở
các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ của cách mạng và kháng chiến” [73,
tr. 88, 96]. Đại hội VI đã quyết định đường lối Đổi mới.
Đại hội Đảng lần thứ VII đã xác định: “Phương hướng quan trọng nhất để
giải quyết việc làm là thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, coi trọng
cả phát triển sản xuất, và dịch vụ. Kết hợp giữa giải quyết việc làm tại chỗ với
phân bố lại lao động theo vùng lãnh thổ, xây dựng các khu kinh tế mới, hình
thành các cụm kinh tế-kỹ thuật-dịch vụ nhỏ ở nông thôn, ở các thị trấn, thị tứ,
đồng thời mở rộng xuất khẩu lao động”. [74, tr. 76-77]. Xác định việc phân bố
lại dân cư là một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch 5 năm 19911995.
Đại hội đại biểu đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) nêu rõ: “Tập trung sức
tạo việc làm. ... Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước,
tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh - quốc phòng.
Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Giảm đáng kể tỉ lệ thất
nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm nông thôn”. [75, tr. 114-115]. Vấn đề di cư
dao động mở rộng sang tầm mới vượt biên giới quốc gia.
Đại hội Đảng IX tiếp tục đường lối Đổi mới. Để nông thôn phát triển cần
phải “tăng cường chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn” [76, tr. 92]. Trong “Chiến
lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010” đã chỉ rõ: “Đối với khu vực nông thôn,
trung du, miền núi: Hoàn thành và ổn định vững chắc định canh định cư. Bố trí
19
lại dân cư, lao động và đất đai theo quy hoạch đi đôi với xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế, xã hội để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên, phát triển kinh tế
trang trại.” [76, tr. 180]; “Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không có đất
canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng có tiềm năng”. [76,
tr.211]. Toàn bộ những tư tưởng trên của Đại hội Đảng lần thứ IX, đã định
mới để hỗ trợ những người di cư.
Các quyết sách trong vấn đề chuyển cư đã cho thấy Đảng và Nhà nước luôn
quan tâm đến động thái dân số này. Các chính sách ấy ảnh hưởng đến các dòng
di chuyển dân cư trong thực tế xã hội nước ta. Những chính sách về quản lý hiện
tượng di, dịch chuyển cư dân của Đảng và nhà nước cung cấp định hướng cho
nghiên cứu di cư.
Trong quá trình sống có những cá nhân luôn di chuyển, có một bộ phận dân
cư luôn thay đổi nơi sinh sống, cư trú, lao động của mình. Sự di chuyển của
những cá nhân, hay nhóm xã hội này không chỉ tạo ra mặt “động xã hội” của quá
trình dân số mà nó cũng đem lại những hậu quả kinh tế-xã hội nhất định, có
những hậu quả đôi khi khó lường trước được. Mặt động này khác với sự vận
động, biến đổi dân số theo quy luật tự nhiên (sinh, tử).
Sự di chuyển dân cư luôn là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử và là
một hiện tượng nảy sinh mang tính phổ biến trong mọi xã hội. Mỗi dân tộc, trong
tiến trình lịch sử đều gắn liền với quá trình di dân được xác định. Điều đó đúng
với mọi quốc gia mọi dân tộc. Di chuyển dân cư đã từng tồn tại suốt nhiều thế kỷ
21
và luôn gắn liền với một hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định. Từ xa xưa, trong
mỗi giai đoạn lịch sử, quá trình này diễn ra với những đặc điểm riêng của nó,
chẳng hạn như trong lịch sử sự di chuyển dân cư luôn gắn liền với sự mở mang
bờ cõi, đất đai. . ., và hệ quả là sự di chuyển cư dân đã tạo nên nét đặc thù riêng
cho mỗi xã hội cụ thể. Lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam cũng cũng chứng
tỏ điều đó, nhất là đối với tộc người Việt trong vòng hơn mười thế kỷ gần đây
[93].
Trong xã hội Việt Nam hiện đại chuyển cư luôn là một quá trình xã hội tất
yếu. Trước hết, "trong nhiều năm qua Nhà nước ta đã chủ động tổ chức di dân
góp phần đây nhanh quá trình khôi phục và phát triển kinh tế. Hình thức di dân
có tổ chức được thực hiện từ những năm 1960. Loại hình di dân thứ hai - di cư tự