QUAN HỆ KINH TẾ THÁI LAN – NHẬT BẢN TỪ SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

----------

Nguyễn Quế Thương

QUAN HỆ KINH TẾ THÁI LAN – NHẬT BẢN TỪ SAU
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGHÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

Hà Nội - 06/2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------

Nguyễn Quế Thương

QUAN HỆ KINH TẾ THÁI LAN – NHẬT BẢN TỪ SAU
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGHÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ : 60.31.40

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS. TS. Hoàng Khắc Nam



10

6. Bốcục...................................................................................

10

CHƢƠNG 1
Những nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ Thái Lan - Nhật Bản từ
sau khủng hoảng tài chính Châu Á đến nay

12

1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
1.1.1. Bối cảnh quốc tế.........................................................

12

1.1.2. Bối cảnh khu vực........................................................

18

1.1.3. Chiến lƣợc phát triển của Nhật Bản và Thái Lan trong
thế kỷ 21................................................................................

20

1.2. Tiến trình phát triển quan hệ Thái Lan - Nhật Bản.............

23

37

2.2. Một số chương trình hợp tác kinh tế quan trọng giữa Thái
Lan và Nhật Bản từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á đến
nay...........................................................................................

48

2.2.1. Hỗ trợ về thƣơng mại và đầu tƣ ...........................................

48

2.2.2. Hợp tác về tài chính..............................................................
2.2.3. Hợp tác trong nông – lâm – ngƣ nghiệp...............................

51
52

2.2.4. Hợp tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực......................

53

2.2.5. Hợp tác trong các lĩnh vực khác...........................................

55

2.3. Kết quả hợp tác kinh tế giữa Thái Lan và Nhật Bản
2.3.1. Thƣơng mại ……….............................................................

56

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................

89
91
93

3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FTA

Free Trade Area
Hiệp định tự do thƣơng mại

GDP

Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội

IMF

International Monetary Fund
Tổ chức tiền tệ quốc tế

JACEP

Japan - ASEAN Comprehensive Economic Partnership
Chính sách Đối tác kinh tế toàn diện Nhật Bản – ASEAN

Quỹ hợp tác kinh tế quốc tế

4


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Trao đổi thƣơng mại giữa Thái Lan và Nhật Bản (1992 1998)

25

.....................................................................................................
Bảng 1.2: Đầu tƣ của Nhật Bản vào Thái Lan (1993 –

28
28

1998)...............
Bảng 1.3: Tỷ lệ đầu tƣ của Nhật Bản trong tổng số đầu tƣ nƣớc

29

ngoài vào Thái Lan (1988 1996)...................................................................

58

Bảng 1.4: Viện trợ của Nhật Bản cho Thái Lan (1982 - 1986)

62


MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Thái Lan nằm trong khu vực Đông Nam Á, luôn đƣợc coi là nƣớc có nền
kinh tế phát triển và có vai trò lớn trong hợp tác khu vực, cũng nhƣ những hợp
tác của khu vực với bên ngoài. Nhật Bản là một trong số những quốc gia công
nghiệp hàng đầu thế giới và đƣợc suy tôn là “hiện tƣợng thần kỳ” của Châu Á.
Thành công của Nhật Bản đƣợc các nhà nghiên cứu đánh giá là một điển hình
về sự kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa văn hoá phƣơng Đông và khoa học công
nghệ hiện đại phƣơng Tây. Đối với Việt Nam cả hai nƣớc Thái Lan, Nhật Bản
đều là hai nƣớc láng giềng gần gũi. Vì vậy, trƣớc hết việc nghiên cứu dù ở bất
kỳ lĩnh vực nào của Thái Lan, Nhật Bản đều hết sức cần thiết đối với Việt
Nam. Đó sẽ là cơ hội để chúng ta có thêm hiểu biết về hai nƣớc láng giềng
quan trọng này.
Nhƣ chúng ta đã biết, Thái Lan từ xƣa đến nay vẫn luôn đƣợc coi là quốc
gia có đƣờng lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt và đặc biệt chú trọng phát triển
ngoại giao với các nƣớc lớn trong đó có Nhật Bản. Trong thời gian gần đây,
nhất là từ khi hình thành cộng đồng Đông Á, quan hệ của Thái Lan và Nhật
Bản càng trở nên phát triển. Liệu có phải chính nhờ đƣờng lối đối ngoại đúng
đắn, việc lựa chọn đối tác tin cậy, chính xác là một trong những nhân tố giúp
Thái Lan có đƣợc sự phát triển kinh tế vƣợt trội hơn so với các nƣớc trong khu
vực hay không và ngay cả khi vấp phải cuộc khủng hoảng kinh tế thì Thái Lan
cũng đã nhanh chóng vƣợt qua đƣợc? Nghiên cứu về quan hệ kinh tế Thái Lan
- Nhật Bản chính là để góp phần cắt nghĩa hiện tƣợng này. Ngoài ra, khi nghiên
cứu quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật Bản chúng ta hiểu thêm về thực chất quan
hệ đối ngoại của hai nƣớc, từ đó có thể rút ra đƣợc những bài học kinh nghiệm
cho bản thân Việt Nam trong việc hoạch định chính sách đối ngoại trong giai
đoạn hiện nay.
Bên cạnh đó, ở Việt Nam từ trƣớc đến nay chƣa có công trình nào nghiên
cứu về vấn đề này. Do tính cấp thiết của vấn đề cả về mặt khoa học, lẫn thực
tiễn nên tôi quyết định lựa chọn vấn đề Quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật Bản từ

trong quan hệ Thái Lan – Nhật Bản ở những giai đoạn tiếp theo và hiện nay.

7


Ngoài những công trình kể trên, chúng tôi còn đƣợc tiếp xúc với những
công trình nghiên cứu mang tính tổng thể trong đó có một vài phần đề cập đến
hoặc có liên quan đến quan hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản nhƣ công trình Nhật
Bản với chính sách đối tác kinh tế Nhật Bản - ASEAN (CEP) của nhà nghiên
cứu Thái Lan Sịripon Vătchavănkhu. Công trình đã đề cập khá chi tiết về chính
sách đối tác kinh tế Nhật Bản – ASEAN. Đó là việc xây dựng một thị trƣờng
thƣơng mại tự do giữa Nhật Bản và ASEAN, tạo điều kiện để Nhật đầu tƣ vào
ASEAN và đây sẽ là mối quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi. Để chính sách
này trở thành hiện thực và có hiệu quả đối với các bên, trƣớc mắt Nhật Bản sẽ
ký Hiệp định song phƣơng với từng nƣớc trong ASEAN… Ngoài ra, công trình
Chính sách đối ngoại của Thái Lan từ thời kỳ khủng hoảng kinh tế đến thế kỷ
mới của tác giả Praphắt Thêpchatri cũng đã có một vài phần viết về chính sách
đối ngoại của Thái Lan đối với các nƣớc lớn trong đó có Nhật Bản. Khi Thái
Lan vấp phải khủng hoảng kinh tế thì Nhật Bản là một trong những nƣớc đã
giúp đỡ Thái Lan nhiều nhất. Vì vậy chính sách đối ngoại của Thái Lan từ sau
khủng hoảng đến thế kỷ mới lại một lần nữa nhấn mạnh tới vai trò của các
nƣớc lớn trong đó có Nhật Bản. Tiêu biểu nhất là công trình Vai trò của Nhật
Bản đối với Thái Lan sau khủng hoảng kinh tế của tập thể tác giả Viện nghiên
cứu Đông Á, trƣờng Đại học Thăm ma xạt. Công trình gồm 4 phần. Phần đầu
nói về những vấn đề kinh tế của Nhật Bản và bài học đối với Thái Lan. Phần
thứ hai nói về những cải cách chính trị của Nhật Bản và bài học đối với Thái
Lan. Phần thứ ba nói về vai trò của Nhật Bản về mặt văn hóa xã hội đối với
Thái Lan, trong đó có đề cập đến một số viện trợ và một số khoản cho vay của
Nhật Bản dành cho Thái Lan. Phần cuối cùng là những định hƣớng trong quan
hệ kinh tế giữa Thái Lan và Nhật Bản trong những năm đầu thế kỷ 21. Trƣớc

Thái Lan và Nhật Bản, (phần lớn là bằng tiếng Thái Lan), quan hệ Việt Nam Thái Lan , quan hệ Việt Nam - Nhật Bản… phần lớn của các tác giả Việt Nam.
Ngoài ra một số thông tin đƣợc khai thác trên các báo, tạp chí và mạng
Internet…

5. Đóng góp của luận văn

9


Do đây là đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam, chƣa có công trình nào nghiên
cứu về vấn đề này nên luận văn sẽ cung cấp cho bạn đọc một số thông tin trên
các lĩnh vực nhƣ: tiến trình phát triển quan hệ Thái Lan và Nhật Bản, những
bƣớc thăng trầm trong quan hệ giữa hai nƣớc, quan hệ kinh tế giữa Thái Lan và
Nhật Bản cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI…
Ngoài ra, luận văn cũng đã hệ thống hoá đƣợc một khối lƣợng khá phong
phú và tƣơng đối cập nhật các tƣ liệu liên quan tới vấn đề quan hệ Thái Lan Nhật bản. Những tƣ liệu này đƣợc thu thập từ rất nhiều nguồn, nhiều nơi khác
nhau, cả tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Thái.
Hy vọng rằng bản luận văn có thể đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo
trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu cho những ngƣời có quan tâm tới vấn
đề này.
6. Bố cục luận văn
Luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng.
Chương 1: Những nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ Thái Lan – Nhật
Bản từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á đến nay.
Trong chƣơng này chúng tôi đề cập tới các vấn đề nhƣ bối cảnh quốc tế,
bối cảnh khu vực, chiến lƣợc phát triển của mỗi nƣớc trong thế kỷ 21 và tiến
trình phát triển quan hệ Thái Lan – Nhật Bản, trong đó nhấn mạnh đến quan hệ
Thái Lan – Nhật Bản trong và sau thời kỳ chiến tranh lạnh cũng nhƣ vai trò của
Nhật Bản đối với Thái Lan trong khủng hoảng tài chính Châu Á. Đây là những
nhân tố khách quan và chủ quan đã ảnh hƣởng và làm tiền đề cho xu hƣớng


Chương 1: Những nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ Thái Lan Nhật Bản sau khủng hoảng kinh tế Châu Á đến nay

1.1.

Bối cảnh quốc tế và khu vực

1.1.1. Bối cảnh quốc tế
Có thể nói rằng quan hệ quốc tế cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 có rất nhiều
thay đổi, thời điểm này đƣợc coi là thời điểm cải cách của toàn bộ hệ thống
quốc tế.
Một số thay đổi trong hệ thống quốc tế đã hình thành sau thời kỳ chiến
tranh lạnh, khi mà Liên bang Xô Viết vốn là một siêu cƣờng sau thế chiến II đã
tan rã vào năm 1991, kéo theo đó là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, là
những khủng hoảng cả về chính trị, kinh tế, xã hội và sắc tộc. Cùng với nó, là
sự tan rã của những nƣớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Nhƣ vậy, trên thế giới chỉ
còn lại một cực là Mỹ. Mỹ trở thành siêu cƣờng duy nhất cho tới ngày
11/9/2001, khi xuất hiện sự kiện khủng bố kinh hoàng và bất ngờ. Sự kiện này
đã làm thay đổi quan niệm về một nƣớc Mỹ bất khả xâm phạm và tạo nên
những hoài nghi về vấn đề an ninh và quyền lực của nƣớc Mỹ.
Có thể nhận định về quan hệ quốc tế cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 mang
một số đặc điểm cơ bản sau:


Vai trò của đƣờng biên giới giảm sút

Hệ thống kinh tế, thƣơng mại và tài chính giữa các nƣớc giảm rào cản.
Quá trình này đƣợc hình thành ngay từ thập kỷ 80 xuất phát từ ảnh hƣởng của
cuộc cách mạng tin học và khoa học công nghệ, khi mà ngƣời ta có thể liên lạc
cũng nhƣ nhận tin tức giữa các nƣớc, các khu vực trên thế giới một cách nhanh

Vụ khủng bố ngày 11/9/2001 đã làm chết và mất tích tới 6 nghìn ngƣời, lớn
nhất trong các vụ khủng bố kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Nƣớc Mỹ sau
vụ khủng bố ngày 11/9 đã tuyên bố: Vụ khủng bố 11/9 vừa qua chính là hành
động gây chiến nhằm vào nƣớc Mỹ và nƣớc Mỹ sẽ đáp trả vụ khủng bố này cho
dù phải tốn bao nhiêu thời gian đi chăng nữa. Tiếp theo đó, ngày 7/10/2001 Mỹ
đã cùng với Anh đƣa máy bay tới thủ đô Kabul và nhiều địa điểm khác của
Apganixtan với danh nghĩa là để bảo vệ đất nƣớc tránh nguy cơ khủng bố.
Hiện tại, rất nhiều quốc gia đã không còn tin tƣởng vào hành động của
Mỹ và những công ty xuyên quốc gia của Mỹ, kể cả ở châu Mỹ la tinh, Trung
13


Á và Đông Nam Á, do đó Mỹ không thể tự cho rằng Mỹ là quốc gia lãnh đạo
duy nhất trên thế giới mà các nƣớc khác buộc phải nghe theo.1


Sự phân chia thành các khu vực thƣơng mại

Chủ nghĩa khu vực trong hoạt động thƣơng mại ngày càng trở nên rõ nét
nhất là khi xuất hiện các khu vực thƣơng mại tự do giữa các nƣớc và các khu
vực thƣơng mại tự do này cũng ngày càng cạnh tranh nhau quyết liệt hơn. Có
thể nhận thấy điều đó qua việc phát triển của Châu Âu từ một Hiệp hội trở
thành Liên Hiệp châu Âu, việc thành lập các khối NAFTA, AFTA, APEC…
Mặc dù những khối kinh tế nói trên đều khẳng định rằng họ là những khối kinh
tế tự do nhƣng nhiều nguyên tắc trong các khối kinh tế này lại thể hiện ra rằng
đó là những khối kinh tế có nhiều ràng buộc, hạn chế, mang tính chất “thƣơng
mại khối”. Tình trạng này thực chất đã làm cho sự cạnh tranh giữa các nƣớc trở
nên quyết liệt hơn mà theo nhận định của nhiều chuyên gia thì đây giống nhƣ
một cuộc chiến kinh tế. Mặc dù vậy, sự xuất hiện của những trung tâm thƣơng
mại mang tính khu vực này cũng mang lại những lợi ích trực tiếp cho các khu

công ty con để giám sát các hoạt động của các chi nhánh và các công ty này.
Các công ty xuyên quốc gia do có chi nhánh ở khắp nơi trên thế giới nên việc
lƣu chuyển dòng vốn, chuyển đổi công nghệ hay quá trình sản xuất khá thuận
tiện, dễ dàng. Trong trƣờng hợp nếu ở khu vực nào gặp phải khủng hoảng kinh
tế thì công ty xuyên quốc gia cũng vẫn có khả năng chuyển đổi từ nơi có khủng
hoảng sang nơi không bị ảnh hƣởng của khủng hoảng. Nhƣ vậy, cho dù có xảy
ra khủng hoảng kinh tế cấp khu vực thì những công ty xuyên quốc gia vẫn có
khả năng tồn tại vững vàng. Ngoài ra, công ty xuyên quốc gia khi đột ngột rút
một nguồn vốn lớn tại một quốc gia nào đó thì có khả năng sẽ làm rối loạn thị
trƣờng chứng khoán của nƣớc đó do lƣợng vốn mà họ có trong tay là khổng lồ.
Có thể thấy đƣợc điều này trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 tại một
số nƣớc châu Á, đặc biệt là ở Thái Lan, khủng hoảng tài chính trở nên nặng nề
hơn cũng có một lý do là do các công ty xuyên quốc gia đã nhanh chóng rút
vốn làm cho thị trƣờng tài chính ở nƣớc này càng thêm rối loạn.


Sự mở rộng vấn đề an ninh quốc tế

An ninh quốc tế hiện tại (tính từ khoảng giữa thập kỷ 80 đến nay) không
phải chỉ trong vấn đề quân sự hay các hành động quân sự nhƣ trong hơn 50
năm qua. Việc nghiên cứu các chiến lƣợc trong thời điểm hiện nay đƣợc hiểu
một cách sâu rộng hơn trƣớc, không chỉ là những vấn đề về sức mạnh quân sự.
Vấn đề an ninh ở mỗi quốc gia cũng không chỉ có nghĩa là việc chạy đua vũ
trang hay việc chống lại sự xâm lƣợc của các thế lực bên ngoài. Sự mâu thuẫn
15


không chỉ có nghĩa là mâu thuẫn về mặt quân sự, Nhà nƣớc cũng không hẳn là
nơi có quyền lực duy nhất trong việc giải quyết các vấn đề trên. Hiện nay, nguy
cơ đối với an ninh của đất nƣớc không phải chỉ là sự can thiệp của các thế lực


Tình hình kinh tế trong nƣớc và kinh tế đối ngoại của những nƣớc đang phát
triển càng bị thua thiệt so với những nƣớc công nghiệp phát triển.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi các vấn đề nhƣ kinh tế,
thƣơng mại, chính trị, quân sự và nhiều vấn đề khác đều có sự giao thoa lẫn
nhau và có nhiều biến đổi nhanh chóng thì các nƣớc đang phát triển càng cần
thiết phải nghiêm túc cải cách đất nƣớc nhằm theo kịp với những biến đổi của
thế giới. Trong quá trình cải cách đất nƣớc cũng cần hết sức chú trọng đến lợi
ích quốc gia.


Các nƣớc lớn vẫn nắm giữ vai trò trong việc quy định các nguyên
tắc của thế giới mới

Các nƣớc lớn là nhóm các nƣớc công nghiệp phát triển, có sức mạnh
trong rất nhiều lĩnh vực kể cả trong kinh tế, công nghiệp, kỹ thuật công nghệ và
cả trong lĩnh vực quân sự. Vì thế những nƣớc này cũng có quyền lực trong việc
định ra các nguyên tắc cho một thế giới mới, từ những nguyên tắc trong kinh tế,
thƣơng mại, tiền tệ, môi trƣờng, chống khủng bố, chống ma túy, chuyển giao
công nghệ cho tới cả những vấn đề nhƣ an ninh thế giới và vũ khí hủy diệt hàng
loạt… Hiện nay, các nƣớc lớn vẫn có những ảnh hƣởng nhất định tới những
quyết định của nhiều tổ chức quân sự, kinh tế, thƣơng mại, tài chính quốc tế, kể
cả tầm thế giới lẫn tầm khu vực và các nƣớc lớn cũng có những ảnh hƣởng ít
nhiều tới quyết định của nhiều quốc gia trên thế giới bởi lẽ hiện tại, những
bƣớc chuyển đổi của nhóm nƣớc này đều có những tác động nhất định và
nhanh chóng tới hầu khắp các nƣớc trên thế giới.
1.1.2. Bối cảnh khu vực
Giai đoạn cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 khu vực châu Á cũng có những
thay đổi đáng kể, tác động không nhỏ tới chính sách đối ngoại của các nƣớc
trong khu vực. Giữa năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra, bắt đầu từ

2

[12, tr.3]

3

[9, tr. 11]

4

[11, tr.8]

18


Với việc Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của WTO và thỏa
thuận thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) đã
đƣợc ký kết vào tháng 11/2002, nền kinh tế ASEAN – Trung Quốc trở thành
đối tác tích cực đối với hội nhập khu vực và toàn cầu. Là địa bàn hấp dẫn đầu
tƣ, thƣơng mại của tất cả các nƣớc, Trung Quốc không chỉ là đối tác kinh tế lớn
mà còn là đối thủ đáng gờm của Nhật Bản. Trung Quốc sẽ có vai trò đáng kể
hơn với ASEAN trong vòng 10 năm tới. Hiệp định ACFTA đƣợc hoàn tất và
theo cùng với WTO, các quan hệ hợp tác của các đối tác bên ngoài khu vực sẽ
đặt trọng tâm vào Trung Quốc bởi từ đây, họ có thể có vai trò ảnh hƣởng trên
toàn khu vực, trƣớc hết là ở Đông và Đông Nam Á. Đây có thể coi là sức mạnh
và thách thức trực tiếp đối với quan hệ hợp tác kinh tế của Nhật với châu Á
trong những năm đầu của thế kỷ 21. Nói cách khác, Trung Quốc với khả năng
trở thành một trung tâm kinh tế thế giới mới đang tỏ rõ khả năng và sức cạnh
tranh mạnh với các trung tâm kinh tế thế giới truyền thống.
Với ASEAN và Ấn Độ, hai thực thể kinh tế đang ngày càng có vai trò

Ngoài ra, Nhật Bản cũng có chiến lƣợc giúp đỡ các nƣớc đang phát triển để các
nƣớc này có thể vững vàng và tự lập hơn nữa trƣớc những thay đổi của thế giới
và khu vực. Do vậy, Nhật Bản đã thay đổi một số chính sách nhƣ chính sách
xin – cho đƣợc thay thế bằng chính sách cộng tác với những nƣớc đang phát
triển, có xem xét đến khả năng tự lực của nƣớc đó.5
Trong chuyến thăm các nƣớc ASEAN đầu năm 2002, Thủ tƣớng Nhật
Bản Koizumi đã tuyên bố chính sách Đối tác kinh tế toàn diện Nhật Bản –
ASEAN, nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa Nhật Bản với ASEAN đó là mối
quan hệ bạn bè thật sự cho dù tình hình thế giới có thay đổi thế nào chăng nữa
thì Nhật Bản cũng vẫn gìn giữ mối quan hệ tốt đẹp với ASEAN. Trong thế kỷ
21 này, mối quan hệ Nhật Bản và ASEAN đƣợc mở rộng và hợp tác chặt chẽ
hơn nữa với chính sách hỗ trợ của Nhật Bản đối với những cải cách của từng
nƣớc trong ASEAN nhằm mục đích hợp tác cùng phát triển cho một cộng đồng
bền vững. Sự hợp tác trong thế kỷ 21 bao gồm:
5

[26, tr. 2]

20


- Thiết lập một mạng lƣới kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN
- Thúc đẩy hơn nữa hợp tác giữa Nhật Bản và ASEAN trong lĩnh vực
an ninh
- Hợp tác trong giáo dục và phát triển nguồn nhân lực
- Thúc đẩy hợp tác và năm 2003 là năm trọng tâm trong việc trao đổi
văn hóa giữa Nhật Bản và ASEAN
- Thúc đẩy hợp tác Đông Á 6
Bên cạnh đó, trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay, Thái Lan cũng
có một số thay đổi trong chính sách đối ngoại. Nếu nhƣ thời kỳ trƣớc khủng

vào thị trƣờng ASEAN mà nên củng cố lại và mở rộng thị trƣờng ở Mỹ, Nhật
Bản và khu vực Châu Âu. Thực tế lâu nay thị trƣờng Mỹ vốn vẫn là thị trƣờng
quan trọng và lớn số một của Thái Lan, còn thị trƣờng Châu Âu và Nhật Bản
vẫn luôn là những thị trƣờng lớn thứ hai.
Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích đầu tƣ cũng đƣợc nhà nƣớc Thái
quan tâm. Chính sách của Thái Lan là luôn tìm cách để không cho vốn đầu
chảy ra ngoài mà phải thu hút đƣợc vốn đầu tƣ vào trong nƣớc. Thái Lan không
ngừng tạo dựng một môi trƣờng đầu tƣ thông thoáng, khuyến khích đầu tƣ, tạo
dựng niềm tin đối với các nhà đầu tƣ đặc biệt là thu hút các nhà đầu tƣ lớn nhƣ
Mỹ và Nhật Bản.7
Nhƣ vậy, với bối cảnh quốc tế, khu vực cũng nhƣ điều kiện của từng
nƣớc Nhật Bản và Thái Lan, có thể thấy rằng việc tăng cƣờng hợp tác kinh tế
giữa hai nƣớc này là hoàn toàn tất yếu. Nó xuất phát từ những ảnh hƣởng của
xu thế quốc tế và khu vực cũng nhƣ nhu cầu thực tế của mỗi quốc gia.
1.2. Tiến trình phát triển quan hệ kinh tế Thái Lan – Nhật Bản
1.2.1. Quan hệ Thái Lan - Nhật Bản giai đoạn trước khủng hoảng tài
chính Châu Á
Quan hệ Thái Lan – Nhật Bản đƣợc hình thành và phát triển từ lâu. Ngay
từ thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật Bản đã đƣa các sản phẩm công
nghiệp đến bán tại Thái Lan và khi đó các sản phẩm này của Nhật Bản đã cạnh
tranh đƣợc với các hàng hóa của Anh tại đây. Nhật Bản đã gặt hái đƣợc nhiều
thành công và thu đƣợc nhiều lợi ích trong việc kinh doanh tại Thái Lan thời kỳ
7

[24, tr.43]

22


này. Tiếp sau đó, trong chiến tranh thế giới thứ hai, mối quan hệ giữa Thái Lan



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status