Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái phục vụ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước vân long - Pdf 68

U
N

N

O
-----------------------

N

N

Nguyễn hùy Vân

N

N ỨU P Á

ỂN DU LỊ

P Ụ VỤ BẢO VỆ MÔ
U BẢO ỒN

N

NN

VÀ P Á

SN


2.3.3. Phương pháp chuyên gia ......................................................................16
2.4. Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài....................................................17
Chƣơng 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................18
3.1. Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập
nƣớc Vân Long ........................................................................................................18
3.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên .................................................................18
3.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ................................................................24
3.2. Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên
nhiên Đất ngập nƣớc Vân Long ............................................................................26
3.2.1. Kết quả kinh doanh du lịch qua các năm theo chỉ tiêu ngành ............26
3.2.2. Thực trạng phát triển du lịch sinh thái .................................................28
3.2.3. Thực trạng công tác tổ chức quản lý Nhà nước về du lịch .................29


3.2.4. Đánh giá thực trạng quản lý, khai thác tài nguyên du lịch ..................31
3.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái tại một số Vƣờn Quốc gia và Khu
bảo tồn thiên nhiên .................................................................................................31
3.3.1. Kinh nghiệm của Vườn Quốc gia Gunung Halimun của Indonesia ...31
3.4.2. Kinh nghiệm của bản Huay Hee - Thái Lan ........................................36
3.4.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng của VQG
Ba Bể .........................................................................................................................39
3.4.4. Kinh nghiệm của bản Sín Chải, Sa Pa - Lào Cai.................................41
3.4.5. Bài học kinh nghiệm phát triển DLST của VQG Cúc Phương ...........45
3.5. Xây dựng mô hình du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập
nƣớc Vân Long ........................................................................................................49
3.5.1. Cách tiếp cận để xây dựng mô hình ....................................................49
3.5.2. Xây dựng mô hình ...............................................................................51
3.5.3. Bản đồ tổ chức hoạt động du lịch tại KBTTN ĐNC Vân Long..........61
3.6. Đề xuất các giải pháp thực hiện mô hình phát triển du lịch sinh thái .......64
KẾT LUẬN ..............................................................................................................71

DLST

Du lịch sinh thái

MT

Môi trường

PTBV

Phát triển bền vững

BVMT

Bảo vệ môi trường

ĐDSH

Đa dạng sinh học

VH,TT&DL

Văn hóa, Thể thao và Du lịch

TCDL

Tổng cục Du lịch

SNV


ngập nước đủ tiêu chuẩn, điều kiện để công nhận khu Ramsar‖.
Vân Long là khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước nội địa đầu tiên ở Việt
Nam với sự đa dạng sinh học cao, với nhiều loài động thực vật quý hiếm được ghi
trong sách đỏ Việt Nam, đặc biệt là loài Voọc Quần đùi trắng (Trachypithecus
delacouri) - một loài đặc hữu của Việt Nam, là 1 trong 25 loài linh trưởng đang bị
đe dọa tuyệt chủng ở mức toàn cầu. Ngày 18/12/2010 Trung tâm Sách kỷ lục Việt
Nam đã xác lập kỷ lục Vân Long là nơi có cá thể Voọc Quần đùi trắng sinh sống
nhiều nhất. Ngoài ra phong cảnh tự nhiên ở Vân Long rất đẹp với những khối núi
đá vôi đồ sộ được bao bọc xung quanh bởi vùng đất ngập nước là các con sông và
một vùng hồ nông có thảm thực vật ngập nước.
Tuy nhiên, hiện nay đa dạng sinh học và môi trường nơi đây lại đang bị đe
dọa bởi các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là tác động của cộng đồng.
Việc khai thác quá mức gỗ và củi là mối đe dọa chính đối với tính đa dạng sinh học
và đã dẫn đến hầu hết rừng ở khu vực bị phá hủy. Khả năng tái sinh tự nhiên của
thảm rừng cũng bị hạn chế nhiều do chăn thả dê trên các núi đá vôi, hoạt động khai
thác đá cũng tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên nơi đây.
Du lịch sinh thái được xem là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn
hóa bản địa có giáo dục môi trường, đóng góp cho bảo tồn với sự tham gia tích cực
của cộng đồng địa phương. Do đó du lịch sinh thái được xác định là loại hình ưu
tiên trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến
năm 2030 (Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, 2012) dưới góc độ bảo tồn thiên
nhiên môi trường nói chung và đa dạng sinh học nói riêng.

1


Trong bối cảnh đó đề tài: ―Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái phục vụ
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước
Vân Long‖ không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn góp bảo vệ
môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

mối quan tâm xuất phát từ các trăn trở về môi trường, kinh tế, xã hội. Các nhà bảo
tồn đang bỏ công sức đáng kể để đón du lịch sinh thái như một tác nhân đắc lực
cho bảo tồn thiên nhiên. Ngày nay, du lịch đã trở thành một trong những hoạt động

3


kinh tế lớn nhất trên toàn cầu - một cách để trả nợ cho bảo tồn thiên nhiên và tăng
giá trị của những khu thiên nhiên còn lại. Du lịch sinh thái được hiểu như một
ngành kinh tế phát triển bền vững với dòng tiền chuyển từ du khách vào hoạt động
bảo tồn.
Năm 2001, theo Weaver nhận định có 3 tiêu chí trọng tâm được lặp lại trong
hầu hết các định nghĩa, đó là:
- Dựa vào thiên nhiên
- Có tính bền vững
- Có yếu tố về giáo dục hay nhận thức.
Năm 2002, Page và Dowling đưa thêm 2 yếu tố mà du lịch sinh thái nên có:
- Đem lại lợi ích cho cộng đồng
- Và sự hài lòng, thỏa mãn cho du khách.
1.1.2. Tại Việt Nam
Năm 1999, Tổng cục Du lịch (VNAT) đã phối hợp với một số tổ chức quốc tế
như ESCAP, WWF, IUCN tổ chức hội thảo quốc gia về: ―Xây dựng Chiến lược
phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam‖. Hội thảo đã đưa ra một định nghĩa về Du
lịch sinh thái như sau: ―Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và
văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp tích cực cho bảo tồn và
phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương‖.
Năm 2005, Luật Du lịch Việt Nam đã xác định: ―Du lịch sinh thái là hình
thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham
gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững‖.
Theo quy chế quản lý hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn Quốc gia, Khu

phương, kinh doanh lưu trú, ăn uống, tạo các sản phẩm bổ trợ khác…).
Quan điểm trên có thể làm cơ sở để đối sánh những hoạt động du lịch đang
diễn ra hiện nay tại Việt Nam, đồng thời có thể định hướng giúp các nhà hoạch
định chiến lược phát triển du lịch sinh thái của nước ta, từ đó có thể vạch ra những
chiến lược, kế hoạch khai thác và phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam.
Trên thực tế ở Việt Nam, quan điểm về Du lịch sinh thái cũng có những yếu
tố chưa được hiểu một cách thống nhất giữa những người làm du lịch và các bên
liên quan. Nếu hiểu du lịch sinh thái đúng như thực chất là phải có đóng góp cho
sự phát triển của cộng đồng địa phương một cách trực tiếp bằng các lợi ích tài

5


chính cụ thể như việc làm và tiền lương nhân công, trích nguồn thu tái đầu tư cho
phúc lợi xã hội của cộng đồng địa phương, bù đắp cho công tác bảo vệ môi trường
sinh thái tại chỗ… và như vậy thì hoạt động du lịch sinh thái hiện nay chưa được
triển khai theo đúng nghĩa của nó.
1.2. Đặc điểm của du lịch sinh thái
Trong thực tế, có một số hình thức du lịch có những đặc điểm và tính chất
tương tự như du lịch sinh thái vì yếu tố tiền đề của những loại hình du lịch này là
dựa vào nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên như du lịch thiên nhiên, du lịch mạo
hiểm, du lịch hoang dã, du lịch nông thôn… Thực chất, du lịch sinh thái có những
đặc điểm khác biệt nhất định so với các loại hình khác. Bên cạnh những đặc điểm,
tính chất chung của hoạt động du lịch như tính đa ngành, đa thành phần, đa mục
tiêu, tính liên vùng, tính liên quốc gia, tính mùa vụ, …, du lịch sinh thái còn có
những đặc tính riêng cơ bản sau:
- Tính thân thiện với môi trường: Các hình thức hoạt động du lịch sinh thái
đều mang tính thân thiện môi trường cao. Ngay từ khâu quy hoạch xây dựng cho
đến khâu tổ chức hoạt động đều tuân thủ một nguyên tắc không can thiệp vào thô
bạo đến môi trường tự nhiên, hạn chế tối đa những tác động xấu đến môi trường.

đủ tiện nghi.
- Du lịch sinh thái thường có quy mô nhỏ: Để đảm bảo những mục tiêu bảo
tồn, giảm thiểu các tác động không mong muốn đối với hệ sinh thái, các đoàn
khách du lịch sinh thái thường có quy mô không lớn, thường lập thành nhóm
khoảng 15 người và tần suất hoạt động tại các điềm du lịch cũng không dày.
- Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có tính cộng đồng cao: Đây là một đặc
điểm mà nhiều loại hình du lịch không nhất thiết phải có. Bởi vì du lịch sinh thái
hướng đến những khu vực thiên nhiên nhạy cảm với những tác động, nhất là tác
động của con người. Do vậy, yêu cầu trước tiên là phải có sự tham gia của cộng
đồng. Chính những người dân ở các khu vực trên sẽ là người bảo vệ đắc lực nhất
cho hệ sinh thái của mình.
Với những đặc tính trên, du lịch sinh thái được phát triển sẽ mang lại những
lợi ích vô cùng thiết thực đối với ngành du lịch nói riêng và phát triển xã hội bền
vững nói chung.

7


1.3. Tiềm năng phát triển DLST của các KBTTN
Tiềm năng về tài nguyên du lịch: Tính đến đầu năm 2012 Việt Nam đã có
16 di sản văn hóa và di sản tự nhiên thế giới được UNESCO công nhận bao gồm:
Quần thể di tích Cố Đô Huế (1993), Thánh địa Mỹ Sơn (1999) Vịnh Hạ Long
(1994, 2000), Phố cổ Hội An (1999), VQG Phong Nha Kẻ Bàng (2003), Không
gian văn hóa Cồng chiêng (2005), Quan họ Bắc Ninh (2009), Ca Trù (2009), Mộc
bản chiều Nguyễn (2010), Cao nguyên đá Đồng Văn (2010), Bia đá Văn Miếu
(2010), Hoàng thành Thăng Long (2010). Hội Gióng (2010), Thành Nhà Hồ
(2011), Hát Xoan (2011). Đây là điểm nổi bật về văn hóa bản địa và cảnh quan
thiên nhiên. Ngoài ra chúng ta còn có 8 khu Dự trữ sinh quyển được UNESCO
công nhận gồm: Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Cát Tiên, Cù Lao
Chàm, Cần Giờ, Cà Mau và Biển Kiên Giang. Việt Nam còn có 30 VQG, 61 Khu

VQG, khiến áp lực như ô nhiễm môi trường, chia cắt sinh cảnh kể cả nhận thức của
khách du lịch chưa đầy đủ đã tạo áp lực lớn cho các khu rừng đặc dụng.
Tỷ lệ người dân tham gia vào các dịch vụ du lịch còn ít, chính vì vậy người
dân địa phương không thấy được lợi ích của việc phải giữ rừng.
Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lịch ở các VQG và
KBTTN nhìn chung là có sự hướng dẫn của Ban quản lý khu rừng đặc dụng và các
cơ quan quản lý nhà nước về du lịch địa phương, tuy nhiên sự giúp đỡ này thường
chỉ ở giai đoạn đầu còn sau đó hoạt động bị buông lỏng, thiếu sự giám sát của cơ
quan chức năng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự hấp dẫn du lịch mà còn ảnh
hưởng đến nguồn tài nguyên đa dạng sinh học ở các VQG và KBTTN.
Một số tồn tại về hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG và KBT:
- DLST ở KBTTN Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của
nó, một trong những nguyên nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển DLST ở các
KBTTN Việt Nam là thiếu sự phối kết hợp giữa các cơ quan, các ngành, các cấp
trong việc xây dựng các chính sách phát triển và quy hoạch DLST. Du lịch là một
ngành liên quan đến nhiều lĩnh vực, cần phải có sự kết hợp giữa các bên liên quan
thì mới có thể phát triển được. Hiện tại, các hoạt động du lịch ở các KBTTN còn
mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và thị trường mục tiêu, chưa có đầu tư xúc
tiến và phát triển công nghệ phục vụ cho DLST. Xét về nội dung và cách thức hoạt

9


động du lịch ở các VQG và KBTTB hiện nay thuộc loại hình du lịch dựa vào thiên
nhiên có định hướng DLST.
- Một số VQG đã thành lập Ban du lịch hoặc Trung tâm Du lịch sinh thái và
giáo dục môi trường để điều hành hoạt động du lịch. Công tác nghiên cứu, quy
hoạch phát triển DLST đã được tiến hành ở một số VQG như Cúc Phương, Ba Bể,
Ba Vì, Tam đảo, Bạch Mã, Cát Tiên, Tràm Chim… Trước kia, việc đầu tư kinh phí
cho cơ sở hạ tầng để phát triển du lịch ở các VQG chủ yếu là từ Bộ Nông nghiệp

hoạch và định hướng phát triển du lịch một cách cụ thể. Du lịch vẫn phát triển và
việc bảo tồn cũng vẫn được đảm bảo. Tuy nhiên, mối quan hệ này sẽ không tồn tại
được lâu dài bởi phát triển du lịch chắc chắn sẽ phải tác động đến môi trường, nếu
không có các giải pháp cụ thể sẽ dẫn tới mối quan hệ thứ 2- Mâu thuẫn.
- Thứ 2: Mẫu thuẫn: trường hợp này xảy ra ở những nơi mà phát triển du
lịch làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường. Tại đây, các nhà bảo
tồn luôn có xu hướng chống đối du lịch bằng cách cấm đoán và giới hạn. Loại hình
du lịch trong mối quan hệ này không phải là du lịch sinh thái.
- Thứ 3: Cộng sinh: Quan hệ cộng sinh có thể diễn ra nếu du lịch và bảo tồn
được tổ chức hài hòa. Ở góc độ bảo tồn, các vốn quý tự nhiên được bảo tồn tới mức
tối đa ở trạng thái ban đầu, hoặc tiến hoá tới một trạng thái hoàn hảo hơn. Ở góc độ
du lịch, được phép sử dụng các vốn quý tự nhiên trong giới hạn cho phép, du lịch
phải có đóng góp cho bảo tồn.
Trên thực tế: quan hệ của du lịch và bảo tồn thường xuất phát từ cùng tồn tại
cho tới mâu thuẫn sau đó mới là cộng sinh. Điều này có thể do một số nguyên nhân:
quản lý không tốt; sự bùng nổ của du lịch cũng như sự suy thoái và mất đi các khu
thiên nhiên; sự mở rộng quy mô của du lịch mà không có quy hoạch cẩn thận; sự
chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan chưa được hài hòa… Trên con đường đó, du
lịch sinh thái sẽ được hình thành và như vậy mới trả lời được câu hỏi: ―tại sao lại
phát triển du lịch sinh thái tại khu bảo tồn?‖.
Để có thể phát triển được DLST tại KBT cần phải có cơ chế bảo tồn và phát
triển DLST cụ thể. Về nguyên lý, phát triển DLST sẽ có thu nhập và 1 phần thu
nhập hoặc 100% thu nhập từ hoạt động DLST phải quay lại hỗ trợ cho bảo tồn và
bắt buộc phải có sự tham gia của cộng đồng.

11


Hiện nay, hoạt động du lịch nói chung, DLST nói riêng có thể thấy vai trò
của cộng đồng trong việc trực tiếp tham gia và quản lý vào hoạt động phát triển du

- Việc quản lý và kiểm soát hoạt động phát triển DLST ở các vùng tự nhiên
chủ yếu phải do cộng đồng địa phương đảm trách.
- Cần có được nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn về sự cần thiết bảo vệ
các vùng tự nhiên nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và đa dạng văn hoá.
- Cần có được những dự báo và biện pháp kiểm soát bổ sung khi tổ chức phát
triển hoạt động DLST ở những khu vực có tính nhạy cảm đặc biệt về môi trường.

13


Chƣơng 2 - MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Xác lập cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển du lịch sinh thái phục
vụ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập
nước Vân Long.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan những vấn đề lý luận về du lịch sinh thái
- Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập
nước Vân Long.
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái đặc biệt là đóng góp cho
bảo vệ môi trường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long.
- Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái tại một số Vườn Quốc gia hoặc
Khu bảo tồn thiên nhiên.
- Đề xuất định hướng và mô hình phát triển du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Đất ngập nước Vân Long.
- Đề xuất các giải pháp thực hiện
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phƣơng pháp thu thập thông tin
a. Phương pháp kế thừa tài liệu
Thông tin về hoạt động du lịch sinh thái trong nước và trên thế giới được thu

sung các thông tin này, đồng thời cũng giúp người điều tra tiếp cận hơn với các đối
tượng điều tra nhằm xác minh tính chính xác của các thông tin thu thập được trong
mẫu phiếu điều tra.
2.3.2. Phƣơng pháp xử lý thông tin
a. Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu
Phân tích, tổng hợp là hai công đoạn quan trọng không thể tách rời trong
quá trình thực hiện nội dung đề tài. Số liệu được thu thập từ nhiều nguồn, phong
phú nhưng không đồng bộ. Sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp cho phép
lựa chọn, chiết lọc và chuẩn hoá cơ sở dữ liệu theo hệ thống nhất định, đảm bảo độ
chính xác và dễ sử dụng cho các công đoạn tiếp theo. Phân tích số liệu cũng cho

15


phép lựa chọn các chỉ thật sự có ý nghĩa nhằm đánh giá được tiềm năng, hiện trạng
phát triển du lịch, xây dựng mô hình du lịch sinh thái cũng như đề xuất được các
giải pháp thực hiện.
b. Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu. Phương
pháp toán thống kê được vận dụng nghiên cứu trong đề tài này để xác định hiện
trạng hoạt động du lịch thông qua các chỉ tiêu phát triển ngành cơ bản, đồng thời
để thông kê các chỉ tiêu của điều tra xã hội học, phương pháp này hỗ trợ xử lý các
thông tin để xây dựng mô hình phù hợp và đưa ra giải pháp thực hiện phát triển du
lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường.
c. Phương pháp khai thác và xây dựng bản đồ
Phương pháp này được thực hiện thông qua các phần mềm chuyên dụng
MapInfo, nhằm khai thác các thông tin có sẵn trên bản đồ nền địa hình, thảm thực
vật, thổ nhưỡng, quy hoạch sử dụng đất, bản đồ du lịch… qua đó, xây dựng được
bản đồ chuyên đề theo mục tiêu của đề tài.
2.3.3. Phƣơng pháp chuyên gia

Thông tin về điều
kiện tự nhiên, kinh tế
và xã hội nhân văn
của khu vực nghiên
cứu

Thông tin về tiềm
năng, hiện trạng phát
triển, tổ chức và quản
lý du lịch tại khu
vực nghiên cứu

Kinh nghiệm phát
triển du lịch tại các
các Vườn Quốc gia,
Khu bảo tồn, và các
thông tin khác

- Sử dụng các phương pháp xử lý thông tin để đánh giá về tiềm
năng, hiện trạng phát triển du lịch;
- Sử dụng phần mềm MapInfo để xử lý thông tin và xây dựng bản đồ
- Xác định vai trò của các thành phần tham gia vào mô hình phát
triển du lịch sinh thái

- Mô hình phát triển du lịch sinh thái phục vụ bảo vệ môi
trường và phát triển bền vững tại KBTTN ĐNC Vân Long
- Bản đồ tổ chức không gian du lịch
- Các giải pháp thực hiện mô hình

Hình 1: Quy trình thu thập thông tin và xử lý thông tin

+ Núi đá vôi không có cây
+ Trảng cỏ và cây bụi trên núi đá vôi
+ Rừng trồng (Keo, Bạch đàn, Sưa bắc bộ)
+ Đất nương rẫy trồng cây màu, cây ăn quả
+ Hang động trên cạn

18


- Hệ sinh thái dưới nước được hình thành ở vùng trũng mang đặc trưng của
vùng đầm lầy nước ngọt đồng bằng sông Hồng bao gồm:
+ Đầm nước
+ Ruộng lúa nước
+ Sông, suối
+ Hang động ngầm
- Hệ sinh thái dân cư
Mỗi hệ sinh thái đều có đặc trưng riêng và2 PVT có giá trị du lịch, song
đứng về khía cạnh bảo tồn có hai hệ sinh thái đặc biệt có giá trị là: rừng thứ sinh
trên núi đá vôi và đầm nước.
Hệ sinh thái rừng thứ sinh trên núi đá vôi là nơi sinh sống của loài Voọc
Quần đùi trắng, còn hệ sinh thái đầm nước là nơi bảo tồn khu hệ thực vật thủy sinh
đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Hồng, và nơi di trú của nhiều quần thể chim
nước từ phương Bắc.
b. Đa dạng loài
* Các loài cây sống trên núi đá vôi
- Do bị khai thác quá mức, nhiều loài cây gỗ lớn không còn nhiều. Nghiên
cứu điều tra gần đây cho biết số lượng loài của khu hệ thực vật sống trên cạn có
687 loài, thuộc 451 chi, 144 họ. Ngành rêu có vài loài. Quyết thực vật có đại diện
là cây dớn (cây guột). Thực vậy hạt trần là cây tuế, cây gấm. Thực vật hạt kín một
lá mầm và hai lá mầm có rất nhiều loài. Thuộc nhóm cây gỗ vẫn còn gặp nhiều

tảo lục chiếm ưu thế về số loài. Vi tảo ở đầm cùng với thực vật thủy sinh đóng vai
trò quan trọng trong chu trình vật chất trong đầm là sự quang hợp lấy CO 2 cùng với
năng lượng mặt trời để hình thành nên chất hữu cơ – cơ sở thức ăn cho tất cả các
động vật và thải O2 vào khí quyển.
* Các loài động vật sống trên cạn
- Các loài côn trùng: Sơ bộ khảo sát thành phần loài có 132 loài trong đó có
bộ Cánh nửa (Hemiptera) có 14 loài, bộ Cánh cứng (Coleoptera) có 11 loài, bộ
Cánh thẳng (Orthoptera) có 7 loài, bộ Chuồn chuồn (Odonata) có 19 loài, bộ Cánh
vẩy (Lepidoptera) 54 loài. Nhóm Bướm Ngày khá phong phú, có 8 họ: họ Bướm
phượng (Papilionidae) 6 loài, họ Bướm mắt rắn (Satyridae) 5 loài, họ Bướm giáp
(Nymphalidae) 7 loài, họ Bướm phấn (Pieridae) 7 loài, họ Bướm tro (Lycaeridae) 8

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status