Tiểu luận : “Các giải phâp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Điện tử Sao Mai” - Pdf 68



TRƯỜNG..........................
KHOA…………………… TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI
Các giải phâp nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của
Công ty Điện tử Sao Mai
LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), cơ chế quản lý kinh tế
nước ta có sự biển đổi sâu sắc, Nhà nước đã chuyển đổi cơ chế từ một nền kinh tế
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Chính sự đổi mới đó đã tác động rất lớn tới kinh tế xã hội của đất nước, làm
cho kinh tế nước ta ngày càng phát triển ổn định với tốc độ nhanh. Đất nước đang
bước vào thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hóa theo định hướng
XHCN, thì những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chiếm một vị trí hết sức quan
trọng, nhất là đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Điện tử - điện dân
dụng. Tuy nhiên các mặt hàng đó hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn do sự cạnh
tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh các mặt hàng điện tử - điện dân dụng muốn làm ăn có lãi và
không ngừng phát triển thì phải biết nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
mình bằng những biện pháp đồng bộ và phù hợp.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề này, sau một thời gian thực tập và tìm
hiểu tại Công ty Điện tử Sao Mai em đã chọn đề tài “Các giải phâp nâng cao hiệu

khác, các chỉ tiêu thuộc về sản xuất phải được xác định trước và nó được coi là cơ
sở để xác định lao động, trang bị, cung cấp vật tư, giá thành, lợi nhuận...
Mặt khác, kết quả của việc thực hiện các chỉ tiêu sản xuất về khối lượng,
chủng loại sản phẩm, về chất lượng và thời hạn có ảnh hưởng quyết định tới việc
thực hiện các chỉ tiêu giá thành, tiêu thụ và lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy,
khi đề cập đến các kết quả của các hoạt động sản xuất bao giờ cũng phải đề cập
dồng thời cả hai mặt: kết quả của việc thực hiện các chỉ tiêu thuộc về khối lượng
và chất lượng của sản xuất. Hai mặt này gắn bó mật thiết với nhau và tác động qua
lại lẫn nhau.

2
Còn về tiêu thụ sản phẩm, đây là vấn đề rất quan trọng đối với các doanh
nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường. Tiêu thụ hay không tiêu thụ được sản
phẩm quyết định sự tồn tại hay không tồn tại, sự phát triển hay không phát triển
của doanh nghiệp. Có tiêu thụ được sản phẩm thì doanh nghiệp mới có điều kiện
bù đắp được toàn bộ chi phí đã chi ra trong quá trình sản xuất và tiêu thụ đảm bảo
quá trình tái sản xuất giản đơn. Mặt khác thông qua tiêu thụ sản phẩm doanh
nghiệp mới có thể thực hiện được giá trị lao động thặng dư, nghĩa là thu được lợi
nhuận từ các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng
được xem xét, đánh giá từ hai quan điểm: chức năng xã hội và chức năng kinh tế.
Từ quan điểm xã hội (chức năng xã hội) các doanh nghiệp phải đảm bảo sản
xuất và cung ứng một lượng sản phẩm nhất định với những yêu cầu cụ thể về
chủng loại, chất lượng cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội bao gồm cả nhu cầu trong
sản xuất và nhu cầu trong tiêu dùng hàng ngày.
Từ quan điểm kinh tế (chức năng kinh tế) các doanh nghiệp không thể thực
hiện chức năng xã hội bằng mọi giá mà phải lấy thu nhập từ tiêu thụ để bù đắp
được toàn bộ chi phí sản xuất đã chi ra và đảm bảo thu được doanh lợi. Như vậy có
doanh lợi hay không có doanh lợi phản ánh việc thực hiện hay không thực hiện
được chức năng kinh tế của các doanh nghiệp.

+
Hiệu quả trực tiếp: được xem xét trong phạm vi một dự án, một doanh
nghiệp.
+
Hiệu quả gián tiếp: là hiệu quả mà đối tượng nào đó tạo ra cho đối tượng
khác.
- Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối:
+
Hiệu quả tuyệt đối: được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí.
+
Hiệu quả tương đối: được đo bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.
- Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài:

4
+
Hiệu quả trước mắt: là hiệu quả được xem xét trong giai đoạn ngắn, lợi ích
trước mắt, mang tính tạm thời.
+
Hiệu quả lâu dài: mang tính chiến lược lâu dài.
Phân loại hiệu quả kinh tế là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất
kinh doanh và giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
II. MỘT SỐ CHỈ TIÊU XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH
DOANH
Trong kinh doanh hiệu quả là mối quan tâm lớn nhất của tất cả các doanh
nghiệp. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh phải được thể hiện trên cả hai mặt
kinh tế và xã hội.
Trên góc độ kinh tế hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện qua lợi nhuận thu
được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, mức độ tiết kiệm và các nguồn lực của
doanh nghiệp.
Trên góc độ xã hội hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện bởi giá trị gia tăng

L : Lợi nhuận đạt được trong kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh khi sử dụng 1 đồng vốn chi phí kinh doanh thì lợi
nhuận đạt được là bao nhiêu. Và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
được phản ánh bằng lợi nhuận nên chỉ tiêu này phản ánh được thực chất hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2. Chỉ tiêu tuyệt đối
L = D - F
Trong đó: L: lợi nhuận
D: tổng doanh thu đạt được trong kỳ.
F: tổng chi phí sử dụng trong kỳ.
Qua đây ta thấy: để đạt được hiệu quả kinh doanh cao cần mở rộng quy mô
sản xuất kinh doanh, thu hút khách hàng, sử dụng mọi tiềm lực tiết kiệm chi phí để
lợi nhuận lớn nhất mà chi phí bỏ ra thấp nhất. Đồng thời để thấy được thực trạng
kinh doanh của toàn doanh nghiệp.
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố tham gia vào quá
trình sản xuất kinh doanh
Trong quá trình đánh giá phải sử dụng một số chỉ tiêu bộ phận sau:

6
2.1. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
- Năng suất lao động tính bằng hiện vật
W = Q
1
/T
Trong đó: W : năng suất lao động
Q
1
: Sản lượng tính theo hiện vật
T: tổng số công nhân (công nhân viên)
- Năng suất tính theo thời gian.

Lợi nhuận thuần (hay lãi gộp)
Sức sinh lời của TSCĐ =
Giá trị TSCĐ bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSCĐ bình quân đem lại mấy đồng lợi nhuận
(hay lãi gộp).
- Suất hao phí TSCĐ Giá trị TSCĐ bình quân
Suất hao phí TSCĐ =
Doanh thu thuần hay lợi nhuận thuần (hay giá trị
TSL)
Qua chỉ tiêu này ta thấy để có một đồng doanh thu thuần hoặc lợi nhuận
thuần, cần bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ.
2.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần vốn, đặc biệt đối với doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh. Do vậy, đánh giá hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh không thể bỏ qua hiệu quả sử dụng vốn.
- Mức doanh thu đạt được từ một đồng vốn
Hv
1
= D/V
Trong đó: Hv
1
: chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
V : Tổng số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
D : Tổng doanh thu đạt được trong kỳ

phòng). Nhiệm vụ được giao cụ thể trong giai đoạn này là tham gia trong “Liên
hiệp các xí nghiệp điển tử” của Nhà nước.
Khi mới bắt đầu thành lập, Công ty có 305 người với 16 đầu mối, 9 phòng
ban, 7 phân xưởng.
Trong quá trình phát triển từ (1979) Công ty cũng gặp nhiều khó khăn, đặc
biệt trong giai đoạn 1979 - 1989 bởi lúc này ngành Công nghiệp điện tử là một
ngành hoàn toàn mới trong nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm do nhà máy sản xuất ra
lúc này chủ yếu dành cho xuất khẩu sang Đông Âu. Nhưng dù trong hoàn cảnh khó
khăn như vậy cán bộ công nhân viên trong Công ty vẫn động viên nhau cố gắng
hoàn thành nhiệm vụ.
Từ 1990 trở lại đây, do tình hình Đông Âu biến động thị trường xuất khẩu
sang Đông Âu bị cắt đứt. Vì vậy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ra quyết định số
293/QĐCP ngày 16/10/1989 thành lập Liên Điện tử Sao Mai thuộc Tổng cục Công

10
nghiệp quốc phòng và kinh tế trên cơ sở sắp xếp lại tổ chức nhà máy Z181, được
mở tài khoản tại ngân hàng, kể cả tài khoản ngoại tệ, được trực tiếp xuất khẩu.
Liên hiệp đã phát huy tốt mọi nguồn lực để trở thành doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh có hiệu quả cao. Năm 1993, do điều kiện biến đổi cùng với sự thay đổi của
chính sách Nhà nước, ngày 19/8/1993 Liên hiệp điện tử Sao Mai được đổi tên
thành Công ty Điện tử Sao Mai.
2. Mô hình sản xuất kinh doanh của Công ty
2.1. Các ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu
Công ty có các ngành nghề chủ yếu sau:
- Công nghệ kỹ thuật điện tử, điện tử phục vụ quốc phòng và dân dụng.
- Xuất nhập khẩu trực tiếp và kinh doanh hàng điện, điện dân dụng, điện máy,
điện lạnh, điện tử, lắp ráp xe máy, sản xuất khí công nghiệp.
- Dịch vụ kỹ thuật điện tử.
2.2. Mô hình tổ chức
Tới thời điểm đầu năm 2004, Công ty Điện tử Sao Mai có nguồn lực:

- Xí nghiệp khí công nghiệp 81
- Xí nghiệp linh kiện điện tử
- Xí nghiệp thiết bị điện tử
- Xí nghiệp trang thiết bị công trình
- Xí nghiệp nhựa xốp

12
2.5. Các đơn vị trực thuộc
- Phân xưởng cơ khí điện tử
- Phân xưởng hoá chất
- Các tổ cơ khí (T1, T3...)
- Phân xưởng sản xuất quạt điện - đồng hồ (T2)
II. MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
Công ty Điện tử Sao Mai là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên địa
bàn rất rộng rãi, nhiều ngành hàng và kết hợp cả sản xuất kinh doanh một cách
hiệu quả. Tuy vậy trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay công ty cũng bị ảnh
hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau. Nhưng cán bộ công nhân viên trong công ty
cũng đã có những biện pháp phù hợp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh của
mình. cụ thể:
1. Về khách hàng
Công ty trải qua hơn 20 năm tồn tại và phát triển cùng với thời gian, với sự
thay đổi của nền kinh tế, ưu thế của công ty từ trước đến nay vẫn đứng vững với
những mặt hàng sản xuất kinh doanh phong phú đa dạng. Đến nay các mặt hàng
của công ty vẫn có khả năng thu hút khách hàng khá lớn với quy mô mở rộng khắp
và với nhiều tập khách hàng khác nhau.
2. Về đối thủ cạnh tranh
Ngày nay trong xu thế phát triển của xã hội, có sự tham gia ồ ạt của các
thành viên kinh tế, hàng nhập lậu, trốn thuế, các hàng hoá cùng chủng loại cạnh
tranh quyết liệt làm cho thị trường của công ty bị thu hẹp. Đặc biệt rất nhiều liên
doanh tại Việt Nam cũng sản xuât những mặt hàng trùng với mặt hàng truyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status