Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hải Phòng : Luận văn ThS. Luật: 60 38 40 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRƢƠNG THỊ THANH NHÀN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI. 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRƢƠNG THỊ THANH NHÀN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng


văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2006; Nguyễn Mạnh Tiến: Bàn về một số quy

3


định của Bộ luật tố tụng hình sự về tranh tụng tại phiên tòa, Tạp chí Tòa án
nhân dân, số 17/2005; TS. Dương Thanh Biểu: Bàn về việc tranh luận của
kiểm sát viên tại tòa hình sự sơ thẩm, Tạp chí Kiểm sát, số 13, 2007; Nguyễn
Đức Mai: Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành
nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sư thẩm, Tạp chí Luật
học, số 7/2008; Lê Thúc Anh: Một số suy nghĩ về tranh tụng tại phiên tòa
trong cải cách tư pháp, Tạp chí Toà án nhân dân, số 1/2008; ThS. Nguyễn
Thương Tín: Một số vấn đề về mối quan hệ giữa tranh tụng trong tố tụng hình
sự với chức năng xét xử của tòa án trong bối cảnh cải cách tư pháp, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật, số 10, 2008; Nguyễn Nông: Bàn về vấn đề tranh tụng
trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Kiểm sát, số 9/2003; TS. Nguyễn
Đức Mai: Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự theo tinh thần cải cách tư
pháp một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Toà án nhân dân, số 17,
2007; Nguyễn Mạnh Tiến: Tranh tụng tại phiên tòa theo yêu cầu cải cách tư
pháp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 02/2006; Từ Văn Nhũ: Đổi mới thủ
tục xét xử nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự, Tạp chí
Tòa án nhân dân, số 11/2003; Nguyễn Thái Phúc: Dự thảo Bộ luật Tố tụng
hình sự (sửa đổi) và nguyên tắc tranh tụng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
9/2003; Mai Thị Nam: Một số giải pháp nâng cao trách nhiệm và chất lượng
tranh tụng của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Tạp chí Kiểm sát, số 3, 2007...
Nhìn chung, các công trình trên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu
làm rõ một số về vấn đề tranh tụng của KSV tại phiên tòa hoặc mới chỉ đưa ra
những thực tiễn trong quá trình KSV THQCT tại phiên tòa hình sự chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về tranh tụng của
KSV tại phiên tòa hình sự sơ thẩm (HSST). Vì vậy, đây là vấn đề cần được

địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật TTHS về tranh tụng của KSV tại phiên tòa hình sự nhằm tạo cơ sở pháp lý
5


cho việc thực hiện chức năng THQCT của KSV nói chung, tranh tụng của KSV
nói riêng nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án
hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng trước yêu cầu cải cách tư pháp.
4. Phạm vi nghiên cứu
Tranh tụng là một vấn đề lớn, bao hàm nhiều nội dung thể hiện ở các
giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng. Với phạm vi nghiên cứu của một
luận văn thạc sĩ tác giả chỉ tập trung làm rõ thực trạng việc tranh tụng của
KSV tại phiên tòa HSST trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong các năm từ
2006 đến năm 2011 để qua đó đánh giá, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng tranh tụng của KSV.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
- Về cơ sở lý luận của luận văn:
Luận văn được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp.
- Về phương pháp nghiên cứu của luận văn:
Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể để nghiên cứu như:
Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn.
7. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Luận văn có một số đóng góp về mặt khoa học như sau:
- Làm sáng tỏ các cơ sở lý luận về tranh tụng của KSV tại phiên tòa
HSST, góp phần nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất của hoạt động
tranh tụng của KSV.
- Luận văn tập trung vào phân tích các quy định của pháp luật về tranh

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ NỘI DUNG CỦA VIỆC TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ

1.1.1. Khái niệm
Sự ra đời và phát triển của việc tranh tụng trong quá trình giải quyết
các vụ án gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ,
tiến bộ của nhân loại. Tư tưởng về tranh tụng xuất hiện từ thời cổ đại và ngày
nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi tranh tụng là một trong các
nguyên tắc cơ bản của trong hoạt động tố tụng. Tranh tụng không đơn thuần
chỉ là thành tựu trong lĩnh vực pháp lý mà là thành tựu của sự phát triển tư
tưởng của nền văn minh nhân loại. Trong xã hội hiện đại, dù ở các nước có tổ
chức hệ thống tư pháp khác nhau, dù là hệ thống luật án lệ (common law), hệ
thống luật lục địa (legal law) hay hệ thống luật XHCN thì ít hay nhiều và
bằng các cách thể hiện khác nhau, trong hệ thống tố tụng đều có yếu tố tranh
tụng. Đây là cơ chế tố tụng góp phần đảm bảo cho tòa án xác định sự thật
khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, bảo đảm sự công bằng và
lợi ích của các bên tham gia tố tụng.
Tranh tụng bao giờ cũng gắn liền với hoạt động tài phán của Tòa án.
Tại phiên tòa, Tòa án tiến hành xác định sự thật của vụ án bằng cách điều tra
công khai, chính thức về vụ việc, nghe các bên tranh luận về giải quyết vụ án
từ góc độ nội dung cũng như pháp luật áp dụng để ra phán quyết.
Trong quá trình tranh tụng, Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét
xử. Tòa án thực hiện chức năng như một trọng tài có địa vị độc lập với các
bên để phân xử một cách khách quan, theo pháp luật. Trong TTHS, chức năng
8


xét xử của Tòa án độc lập với chức năng buộc tội và chức năng bào chữa;
trong tố tụng dân sự, kinh tế, Tòa án là người đứng ra phân xử giữa bên khởi
kiện và bên bị kiện để ra phán quyết về vụ án.

ra những bản án quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục
trong thời hạn do luật định. Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo
điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi
cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên
tòa [13, tr. 1].
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2006 của Bộ Chính trị về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 tiếp tục xác định một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của cải cách tư pháp là "nâng cao chất lượng tranh tụng tại các
phiên tòa xét xử" [14, tr. 1].
Có thể nói, tranh tụng nói chung và tranh tụng tại phiên tòa hình sự
nói riêng là một vấn đề mới mẻ đối với lĩnh vực tư pháp ở nước ta. Về mặt lý
luận, đang còn có những quan điểm nhận thức rất khác nhau giữa các nhà
khoa học cũng như cán bộ làm công tác thực tiễn về khái niệm tranh tụng tại
phiên tòa; thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của tranh tụng tại phiên tòa;
về phạm vi, phương pháp và nội dung tranh tụng mà các chủ thể cần thực
hiện. Có quan điểm đồng nhất tranh tụng tại phiên tòa với tranh luận. Có quan
điểm cho rằng "Không nên hiểu tranh tụng đơn thuần là việc tranh luận một
cách đầy đủ tại phiên tòa, mà cần phải hiểu bản chất của tranh tụng là một
phương thức xác định sự thật khách quan của vụ án" [51, tr. 592].
Tuy còn có sự khác nhau về quan điểm nghiên cứu, nhưng có sự thống
nhất về mục đích của tranh tụng tại phiên tòa nhằm đảm bảo tính khách quan,
công bằng, dân chủ giữa các chủ thế là KSV THQCT và những người tham gia
tố tụng; phía buộc tội và phía bào chữa có quyền lập luận, đưa ra những
chứng cứ, căn cứ pháp luật để tranh luận, phản bác để bảo vệ tính có căn cứ từ
quan điểm của mình. HĐXX điều hành theo trình tự tố tụng tại phiên tòa và
có trách nhiệm tạo điều kiện để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ tranh
tụng, đồng thời lắng nghe, xem xét, cân nhắc và ra phán quyết.
10




với tố tụng xét hỏi, tố tụng tranh tụng đặc biệt coi trọng các nguyên tắc bằng
miệng, công khai, tất cả các tình tiết, chứng cứ mà Tòa án áp dụng để ra bản
án đều phải được các bên tranh tụng tại phiên tòa. Với khoa học công nghệ
phát triển như hiện nay các thủ tục tố tụng tại phiên tòa đều phải được ghi âm
hoặc ghi hình, việc xét xử công khai trực tiếp có thể được tiến hành qua điện
thoại hội nghị (Conference call) và cầu truyền hình trực tiếp. Tòa án tiến hành
xét xử một vụ án ở một nơi có thể nghe lời khai trực tiếp của người làm
chứng ở một nơi khác.
Hai là, hoạt động tranh tụng tại phiên tòa không bị hạn chế về mặt
thời gian và có sự tranh luận trực tiếp.
Vấn đề cơ bản của nguyên tắc tranh tụng là phải tạo ra cơ chế để các
bên tranh luận, đưa ra chứng cứ buộc tội hay gỡ tội. Có thể coi tranh luận tại
phiên tòa là đỉnh điểm của việc tranh tụng để nhằm làm rõ sự thật khách quan
của vụ án, áp dụng đúng pháp luật để giải quyết vụ án. Do đó, tranh luận tại
phiên tòa là phần việc rất quan trọng, bên buộc tội và bên gỡ tội có quyền
tranh luận dân chủ, công khai và bình đẳng theo quy định của Luật TTHS
hiện hành. HĐXX phải có phương pháp điều hành hợp lý và tạo điều kiện cho
cho việc tranh luận, tránh việc thiên vị với bất cứ bên nào.
Ba là, Thẩm phán giữ vai trò làm trung gian, trọng tài trong quá trình
tranh tụng.
Hội đồng xét xử không có trách nhiệm điều tra phát hiện sự thật. Ở
các quốc gia theo hệ thống tố tụng tranh tụng, hoạt động điều tra chỉ được coi
là một hoạt động hành chính - tư pháp. Vì vậy, pháp luật tố tụng của các nước
này đều quy định các chứng cứ đều do hai bên (bên buộc tội và bên bào chữa)
đưa ra trước tòa trong quá trình tranh tụng. HĐXX ở những quốc gia theo thủ
tục này không có trách nhiệm làm rõ bị cáo phạm tội hay không phạm tội.
Đây cũng là điểm khác so với tố tụng xét hỏi nơi mà trước khi mở phiên tòa
các chứng cứ đã được điều tra, thu thập đầy đủ và thể hiện trong hồ sơ vụ án.
12



Sau khi xem xét chứng cứ do bên buộc tội đưa ra, HĐXX xem xét đến chứng
cứ do bên bào chữa đưa ra và những lý lẽ để bào chữa.
Tranh tụng là quá trình mà mỗi bên đều dùng những lý lẽ, chứng cứ để
chứng minh cho luận điểm của mình nên có thể coi những lý lẽ đó hoàn toàn
trên cơ sở ý chí chủ quan của mỗi bên, và chứng cứ là để phục vụ cho ý chí
đó. Vì vậy, cần thiết phải có người đứng ra là trọng tài giữa việc tranh tụng đó
và Tòa án (HĐXX) đảm nhiệm công việc đó.
Chủ tọa phiên tòa không chỉ là người điều khiển phiên tòa trong quá
trình tranh tụng. Chủ tọa phiên tòa với vai trò chủ trì, điều khiển phiên tòa có
toàn quyền quyết định nội dung việc xét hỏi hướng cho hai bên hỏi và trả lời
câu hỏi đi vào trọng tâm của vấn đề, nhằm giải quyết vụ án. Chủ tọa phiên tòa
tạo điều kiện cho các bên tranh luận, không hạn chế nhưng cũng tránh cho các
bên đi vào những tình tiết vụn vặt không có giá trị làm sáng tỏ nội dung vụ
án. Chủ tọa phiên tòa, cũng có thể điều khiển việc hỏi đáp giữa hai bên hướng
sang vấn đề khác nếu nội dung đó đã được làm sáng tỏ. Trong quá trình đó
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa luôn thể hiện sự khách quan, tập trung lắng
nghe việc tranh tụng của các bên để thấy được sự thật khách quan của vụ án,
có tội hay không có tội ở những chứng cứ nào thể hiện mức độ tăng nặng,
những tình tiết, chứng cứ nào là giảm nhẹ. Những chứng cứ nào là hợp pháp,
những chứng cứ nào không được công nhận hợp pháp. Nếu có vật chứng thì
xem xét vật chứng để thấy sự phản ánh dấu vết tội phạm trên đó ở mức độ
như thế nào. Từ đó, để thấy những tình tiết chứng cứ nào còn chưa rõ những
vấn đề còn mâu thuẫn, chủ tọa phiên tòa cho hai bên tranh luận rõ hơn, chất
vấn nhau nhiều hơn để thấy bật ra được vấn đề, đồng thời dựa trên sự đánh
giá khách quan toàn diện những chứng cứ tình tiết, quá trình tranh luận trên
mà HĐXX sau đó có phán quyết công bằng.
Để tranh tụng tại phiên tòa đạt được kết quả, Thẩm phán Chủ tọa
phiên tòa có quyền áp dụng quy định của pháp luật TTHS điều khiển phiên

dự phiên tòa chấp nhận.
15


Thứ ba, tranh tụng nhằm đảm bảo việc đưa ra xem xét các chứng cứ,
tài liệu minh chứng cho luận điểm của mỗi bên.
Trong quá trình tranh tụng, chứng cứ là căn cứ quan trọng để làm sáng
tỏ sự thật vụ án. Chủ tọa phiên tòa sẽ đảm bảo cho việc đưa ra chứng cứ của
mỗi bên, thông qua quá trình hỏi đáp, chất vấn liên tục giữa hai bên buộc tội
và bào chữa, Tòa án có thể thấy được những điểm còn mâu thuẫn của lý lẽ
giữa các bên, thấy được sự không thuyết phục của chứng cứ mà bên nào đó
đưa ra. Từ đó xem xét, đánh giá chứng cứ được chính xác.
1.1.4. Tranh tụng tại phiên tòa xét xử hình sự ở một số quốc gia
trên thế giới
- Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Mỹ)
Người Mỹ cho rằng hệ thống tranh tụng chỉ là một hệ thống được đặt
ra nhằm giải quyết những tranh chấp, xung đột quan điểm về thực tế vụ án, và
những tranh chấp, xung đột được đệ trình lên Tòa án mà ở đó Thẩm phán
đóng vai trò chính và công minh. Chính Thẩm phán sẽ là người quyết định
bên nào thắng trong cuộc tranh chấp tại tòa. Ở hợp chủng quốc Hoa Kỳ, thuật
ngữ "hệ thống tranh tụng" gắn liền với hệ thống tư pháp hình sự, một hệ thống
đã pháp điển hóa bằng Hiến pháp do những người sáng lập ra Hợp chủng
quốc tạo nên và được Tòa án tối cao áp dụng trong suốt hơn 2 thế kỷ. Do đó,
hệ thống tranh tụng tiêu biểu cho một mô hình tố tụng đơn giản nhằm mục
đích giải quyết các tranh chấp, mà điểm cốt lõi là các quyền cơ bản của con
người được công nhận và để bảo vệ những giá trị chân chính của một xã hội
tự do và tôn trọng các quyền tự do cá nhân.
Những quyền được bảo đảm trong hệ thống tranh tụng là quyền tự do
ý chí của cá nhân, quyền được sự trợ giúp có hiệu quả của Luật sư, được bảo
vệ một cách bình đẳng trước pháp luật, được xét xử bởi bồi thẩm đoàn, quyền

Tại Hoa Kỳ, trong tất cả các vụ án hình sự mà bị cáo bị buộc tội có thể
phải chịu mức hình phạt từ 6 tháng tù trở lên thì người đó có quyền yêu cầu
17


được phép xử bằng bồi thẩm đoàn. Do đó, xét xử không có bồi thẩm đoàn chỉ
xảy ra đối với các vụ án nghiêm trọng khi thủ tục đó được tất cả các bên đồng ý.
- Vương quốc Anh.
Về cơ chế truy tố và tranh tụng, theo luật định phần lớn các thủ tục
TTHS là do công tố viên tiến hành. Tuy nhiên, tiến trình TTHS cũng có thể
do cá nhân và các cơ quan truy tố khác tiến hành như: Cơ quan chống các tội
phạm lừa đảo nghiêm trọng, cơ quan Hải quan và Thuế vụ; một số thuộc
Chính phủ, như Bộ Thương mại hoặc Bộ Công nghiệp, trong trường hợp này,
các cơ quan đó sẽ thuê Luật sư làm nhiệm vụ công tố. Quyền truy tố tư nhân
được quy định trong Luật về truy tố tội phạm năm 1985. Tuy nhiên, Công tố
viên Hoàng gia có quyền can thiệp vào quá trình này khi cần thiết, chỉ tiếp
nhận việc truy tố tư nhân vì lợi ích công. Việc từ chối tiếp nhận các vụ tư tố
có thể vì lý do có ít chứng cứ hay chứng cứ không thuyết phục. Quy định như
vậy nhằm tránh việc lạm dụng quyền truy tố tư nhân. Mặt khác, Cơ quan công
tố Hoàng gia cũng có thể từ chối tiếp nhận tư tố trong trường hợp việc truy tố
nặng về lợi ích công theo quy định của Bộ luật ứng xử của Công tố viên
Hoàng gia, và do việc truy tố có thể gây phương hại tới lợi ích tư pháp hoặc
vụ việc là quan trọng, phức tạp cần có quyết định công tố.
Khi tiến hành TTHS tại phiên tòa, Công tố viên Hoàng gia phải thực
hiện quyền tự quyết của mình theo quy định của Bộ luật về Công tố viên. Bộ
luật này là một văn bản pháp lý ban hành theo Luật truy tố tội phạm năm
1985, trong đó quy định: Trong TTHS, Công tố viên Hoàng gia có quyền tự
quyết định những vấn đề sau:
+ Có khởi tố bị can hay không.
+ Nếu đã khởi tố thì có thể tiếp tục tiến hành tố tụng không.

bị tình nghi. Hơn nữa, khác với truyền thống luật lục địa, nơi mà người ta
thường trông chờ vào sự hợp tác của người bị tình nghi thì hiện nay, luật tố
tụng của Cộng hòa Pháp thừa nhận quyền được giữ im lặng của họ.
19


Hai là, trong giai đoạn điều tra, các bên tham gia tố tụng có quyền yêu
cầu Thẩm phán điều tra thực hiện một số hoạt điều tra mà họ cho là cần thiết.
Thẩm phán điều tra không còn có quyền ra lệnh tạm giam, tức là không còn
chức năng tài phán này như trước đây nữa do thủ tục này hiện nay bị chỉ trích
nhiều. Việc quyết định tạm giam người bị tình nghi được chuyển cho một
Thẩm phán khác mới được pháp luật định ra để đảm nhiệm chức năng này.
Đó là Thẩm phán phụ trách việc tạm giam, tạm giữ và trả lại quyền tự do cho
người bị tình nghi.
Ba là, trong quá trình tiến hành xét xử, công tố viên hoặc Luật sư của
các bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho các nhân chứng và các bên tham
gia tố tụng mà không cần sự cho phép của Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa.
Bốn là, các bên tham gia tố tụng có quyền yêu cầu Chủ tọa phiên tòa
triệu tập những người làm chứng mới đến khai báo trước tòa một cách không
hạn chế.
Về hình thức, xét xử tại Tòa đại hình cũng tương đối giống với Tòa án
của hệ tranh tụng. Tuy nhiên, thay vì 3 Thẩm phán ngồi xét xử như ở phiên
tòa tiểu hình, Tòa đại hình có một bồi thẩm đoàn gồm 9 thành viên được lựa
chọn một cách ngẫu nhiên từ danh sách cử tri, các thủ tục và hình thức nhiều
hơn so với Tòa tiểu hình và không khí phiên tòa cũng gần giống với tòa
Hoàng gia ở Vương quốc Anh. Phiên tòa bắt đầu bằng việc chánh tòa tiến
hành thủ tục nhận dạng bị cáo và giải thích tóm tắt các trình tự tố tụng và thủ
tục tại tòa; tiếp theo đến thủ tục lựa chọn thành viên bồi thẩm đoàn. Bị cáo có
quyền chọn 5 vị, bên công tố chọn 4. Sau khi thư ký tòa đọc bản luận tội thì từ
thời điểm đó bắt đầu thẩm vấn bị cáo, các bồi thẩm viên có quyền lựa chọn và

giành thắng lợi hơn; thủ tục tố tụng rất phức tạp, mọi vấn đề lẽ ra phải được
thực hiện trong cả một quá trình điều tra lại chỉ được trình bày trong phiên xét
xử và khi phiên tòa xét xử diễn ra thì chưa có gì thực sự được khẳng định
chắc chắn cả; chi phí mở phiên tòa cao, thời gian xét xử thường kéo dài, thành
viên bồi thẩm đoàn có thể bị ảnh hưởng quá mức bởi thông tin đại chúng liên
quan đến vụ việc và khó có thể ước định ngay thiệt hại cũng như phân tích
những chứng cứ phức tạp tại phiên toà; bồi thẩm đoàn không có trách nhiệm
21


đưa ra lý do đối với các quyết định của họ. Còn mô hình tố tụng thẩm vấn có
ưu điểm là kiểm soát được tình hình tội phạm, quá trình giải quyết vụ án theo
một thời gian nhất định. Tuy nhiên, mô hình tố tụng thẩm vấn có những hạn
chế nhất định như là không tôn trọng đầy đủ quyền của các bên đương sự bởi
vì họ không có nghĩa vụ chứng minh chứng cứ. Chứng cứ là do thẩm phán
điều tra tập hợp nên người ta cho rằng tố tụng thẩm vấn đi ngược lại nguyên
tắc vô tư, khách quan và cho rằng, đôi khi thẩm phán đã có sẵn trong đầu
quyết định xét xử trước khi diễn ra giai đoạn xét xử. Xét dưới góc độ đó, việc
tranh luận tại phiên tòa trở nên vô nghĩa; thủ tục tố tụng thẩm vấn thường kéo
dài, làm mất nhiều thời gian vì có thêm giai đoạn điều tra. Do vậy, nghiên cứu
mô hình tố tụng tranh tụng để vận dụng vào Việt Nam chỉ nên tiếp thu những
hạt nhân hợp lý, cần nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa của mô
hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn (xét hỏi). Theo quan
điểm của tác giả thì nước ta nên vẫn giữ mô hình tố tụng thẩm vấn có kết hợp
yếu tố tranh tụng nhằm đảm bảo yêu cầu đấu tranh, trấn áp tội phạm và đảm
bảo các quyền con người, quyền công dân.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG TRANH
TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM

1.2.1. Khái niệm hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên

Thứ nhất, KSV là một chủ thể đặc biệt trong quá trình tranh tụng.
Kiểm sát viên tranh luận với tư cách nhân danh công quyền, đưa ra sự
cáo buộc công khai đối với bị cáo về hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là
tội phạm. Trong khi đó, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện
hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người tham gia tranh
luận với tư cách là cá nhân, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân họ hoặc người họ đại diện mà thôi. Theo Điều 189 BLTTHS thì sự có
mặt của KSV là bắt buộc, nếu KSV vắng mặt thì trong mọi trường hợp phải
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status