VŨ THI HẰNG
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*
VŨ THI HẰNG
LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
QUAN CHẾ THỜI HẬU LÊ – NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
VÀ GIÁ TRỊ KẾ THỪA TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
*
HÀ NỘI - 2014
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HẰNG
QUAN CHẾ THỜI HẬU LÊ – NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
VÀ GIÁ TRỊ KẾ THỪA TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG
LỊCH SỬ ...................................................................................................... 10
1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam triều Hậu Lê .............................................. 10
1.1.1 Tổ chức chính quyền...................................................................... 11
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội - tư tưởng .............................................. 11
1.1.3 Pháp luật....................................................................................... 16
1.1.4 Tổ chức quân đội .......................................................................... 17
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Quan chế thời Hậu Lê ...................... 17
1.2.1 Khái niệm Quan chế ...................................................................... 17
1.2.2 Đặc điểm của Quan chế thời Hậu Lê ở Việt Nam ......................... 20
1.2.3 Vai trò của quan lại trong TKPK Hậu Lê ...................................... 23
1.3 Chủ trương, chính sách xây dựng đội ngũ quan lại thời Hậu Lê .......... 26
1.3.1 Một số chủ trương trong xây dựng, quản lý và sử dụng quan lại thời
Hậu Lê ................................................................................................... 26
1.3.2 Chính sách xây dựng đội ngũ quan lại thời Hậu Lê ....................... 27
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUAN CHẾ THỜI HẬU LÊ ..... 31
2.1 Chế độ đào tạo..................................................................................... 31
2.1.1 Chính sách đào tạo ........................................................................ 31
2.1.2 Hệ thống cơ sở đào tạo.................................................................. 32
2.1.3 Nội dung đào tạo và hoạt động thi cử ............................................ 34
2.2 Tuyển dụng quan lại ............................................................................ 39
2.2.1 Tiêu chuẩn tuyển dụng................................................................... 39
2.2.2 Phương thức tuyển chọn quan lại .................................................. 42
2.2.3 Thể lệ, quy trình tuyển chọn quan lại ............................................. 46
2.3 Sử dụng quan lại .................................................................................. 47
2.3.1 Trách nhiệm công vụ của quan lại ................................................. 48
2.3.2 Chế độ điều chuyển quan lại ......................................................... 50
2.3.3 Đãi ngộ, khen thưởng, xử phạt quan lại......................................... 54
2.3.4 Kiểm tra, giám sát quan lại ........................................................... 58
3.3.5 Nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức ở Việt Nam hiện nay ............................................................... 92
3.3.6 Áp dụng thử nghiệm một số yếu tố thuộc nội dung của quan chế thời
Hậu Lê trong xây dựng đội ngũ thực thi công vụ hiện nay ..................... 93
KẾT LUẬN.................................................................................................. 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CĐQL
Chế độ quan lại
CĐPK
Chế độ phong kiến
NN
Nhà nước
NNPQ
Nhà nước pháp quyền
NNPK
Nhà nước phong kiến
cao và phải được đặt trên những cơ sở khoa học. Một trong những cơ sở đó là
phải hiểu thấu đáo những đặc điểm truyền thống dân tộc, phải nắm chắc được
những yếu tố thuộc về sức mạnh nội sinh, phải thấy được những điểm mạnh
cũng như những hạn chế mà lịch sử có thể để lại và tiếp tục gây ảnh hưởng
trong hiện tại nhằm hình thành định hướng đúng để từ đó xây dựng một mô
hình chính trị phù hợp, vừa chứa đựng trong nó bản sắc của lịch sử dân tộc,
những di sản tốt đẹp của truyền thống, vừa mang những giá trị của thời đại.
Thực tế đã chỉ ra rằng, lịch sử Việt Nam từng có những giai đoạn, những
triều đại phát triển cực thịnh, nhất là trong thời kỳ xã hội phong kiến (XHPK)
quân chủ tập quyền. Trong nhiều yếu tố đưa các giai đoạn, các triều đại này
phát triển lên tới mức cực thịnh, có nhãn quan chính trị của những người cầm
quyền và vai trò của đội ngũ quan lại. Mặc dù không thể tránh khỏi những
nhận thức và hành động cục bộ, hạn hẹp do bị hạn chế bởi lợi ích giai cấp và
điều kiện lịch sử cụ thể, nhưng trong các quan điểm chính trị - pháp lý của
ông vua nọ hay vị chúa kia, cũng như trong hành động thực tiễn của đội ngũ
quan lại, chúng ta vẫn có thể tìm thấy những nét tương đồng giữa lợi ích của
giai cấp thống trị, thậm chí một tập đoàn trong giai cấp thống trị với lợi ích
của các giai cấp khác và của cả dân tộc, từ đó thấy được những gì là tiến bộ,
1
phản ánh và phù hợp với lợi ích phổ biến, có khả năng trở thành động lực
mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội - đó là di sản chung của dân tộc, là những
giá trị cần kế thừa. Trong ý nghĩa đó, mỗi giai đoạn, mỗi triều đại trong lịch
sử đều có phần đóng góp của mình vào tiến trình phát triển của xã hội Việt
Nam, vào những bước thăng trầm, hào hùng, bi ai của lịch sử, để lại những
dấu ấn ở những mức độ khác nhau, tạo thành dòng chảy liên tục của lịch sử
văn hóa chính trị - pháp lý Việt Nam.
Thực tiễn cũng xác nhận rằng công chức là yếu tố quyết định chất lượng
của nền hành chính NN, quyết định hiệu quả hoạt động của bộ máy NN ở
Nghiên cứu về CĐQL trong TKPK ở Việt Nam trước hết phải đề cập tới
các công trình nghiên cứu chung về CĐPK và mô hình (NNPK) Việt Nam.
Trong nhóm này có rất nhiều công trình nghiên cứu, có thể sơ lược một số
công trình tiêu biểu như: Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam – Từ nguồn gốc
đến cuối thế kỷ XIX (1956), Hà Nội; Bùi Xuân Đính, NN và PL thời phong
kiến Việt Nam (2005), Nxb. Tư pháp, Hà Nội; Giáo trình Lịch sử NN và PL
Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Minh Tuấn, Tổ chức chính
quyền TKPK ở Việt Nam (2006), Nxb. Tư pháp, Hà Nội…Các công trình
nghiên cứu mang những giá trị khoa học và giá trị lịch sử to lớn. Về giá trị
lịch sử, các công trình nghiên cứu đã thể hiện rõ ràng và đầy đủ về lịch sử
phát triển các triều đại phong kiến (TĐPK) Việt Nam, mô tả rõ nét về mô
hình NNPK, những quy định pháp luật trong các lĩnh vực, cách thức cai quản,
trị vì của các TĐPK, các CĐPK đặc biệt là CĐQL...Đây là nguồn tư liệu quan
trọng mang lại những kiến thức cần thiết cho đề tài của tác giả về CĐPK nói
chung và mô hình NNPK Việt Nam vì từ đó mới làm sáng tỏ được CĐQL
trong TKPK ở Việt Nam. Về giá trị khoa học, các công trình đã có sự lý giải
sâu sắc về nguồn gốc, bản chất, đặc trưng, hoàn cảnh, điều kiện…của CĐPK,
các giai đoạn phát triển, các mô hình NNPK Việt Nam, từ đó đưa ra những
3
đánh giá khoa học về CĐPK và mô hình NNPK Việt Nam. Tiếp thu những
kết quả nghiên cứu của các công trình trên tác giả sẽ có sự lý giải và đánh giá
sát thực về CĐQL, những giá trị đương đại mà CĐQL đóng góp cho sự phát
triển của các NNPK Việt Nam.
2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu trực diện về CĐQL trong TKPK
Việt Nam và quan chế thời Hậu Lê
Nghiên cứu về CĐQL trong TKPK ở Việt Nam có rất nhiều công trình
nghiên cứu khác nhau, ở các mức độ khác nhau. Có thể liệt kê một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Trần Văn Giáp, Lược khảo chế độ khoa cử
thu các giá trị truyền thống trong xây dựng NNPQ Việt Nam hiện nay. Có thể
kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Mã số KX.04.09, TS. Thang Văn Phúc
(chủ nhiệm), (Đề tài cấp NN), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng
đòi hỏi của NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân; Đề tài cấp độc lập cấp NN,
Quan điểm, phương hướng và các giải pháp hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt
Nam; Mã số ĐTĐL - 2004/25, PGS.TS. Phạm Hồng Thái (chủ nhiệm),
Nghiên cứu cơ sở khoa học hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam; Học viện
Hành chính quốc gia, Về cải cách bộ máy hành chính NN và xây dựng đội ngũ
công chức hành chính NN (1991), Nxb. Sự thật, Hà Nội; TS. Thang Văn
Phúc, TS. Nguyễn Minh Phương, Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức (2005), Nxb. Chính trị quốc gia; PGS.TS. Nguyễn Đăng
Dung, Công chức và cải cách bộ máy hành chính NN, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, số 9/2006; Ths. Lương Thanh Cường, Xây dựng các nguyên tắc của
hoạt động công vụ trong NNPQ Việt Nam XHCN, Tạp chí Dân chủ và PL, số
7/2006; Ths.Trần Quốc Hải: Về hoàn thiện thể chế công vụ và công chức ở nuớc ta hiện nay, Tạp chí Tổ chức NN, số 6/2005; Ths. Tạ Ngọc Hải, Công vụ
và cải cách thể chế công vụ NN, Tạp chí NN và PL, số 11/2006; Tạ Ngọc Hải,
(Luận án tiến sĩ), (2011), Hoàn thiện PL công chức, công vụ đáp ứng yêu cầu
5
cải cách hành chính NN, Hà Nội...
Các công trình nghiên cứu nói trên đã tạo lập nền tảng lý luận cơ bản về
công chức, công vụ và về nhu cầu, khả năng tiếp thu các giá trị, kinh nghiệm
lịch sử trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức phúc đáp yêu cầu xây dựng
NNPQ Việt Nam hiện nay. Đó là những tiền đề nhận thức cần được tiếp thu,
kế thừa trong bản luận văn này. Tuy nhiên, liên quan đến chủ đề của luận văn,
các công trình nghiên cứu nêu trên mới chỉ đề cập một hoặc một số khía cạnh
khác nhau trong tổng thể nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và luận giải.
Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về CĐQL thời Hậu Lê,
hướng tới mục tiêu đánh giá nội dung và những giá trị tích cực mang ý nghĩa
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm, chính sách, PL và các
biện pháp thực tế của NNPK Việt Nam thời Hậu Lê nhằm xây dựng đội ngũ
quan lại.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn cũng bao gồm những hoạt động cụ
thể của quan lại phản ánh vai trò của đội ngũ này trong thời kỳ NNPK Hậu
Lê.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian của việc nghiên cứu đề tài là các yếu tố hợp thành
CĐQL trong thời kỳ Hậu Lê ở Việt Nam.
Phạm vi thời gian của việc nghiên cứu đề tài là thời kỳ Hậu Lê trong
CĐPK Việt Nam (1428 -1788).
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận và phương pháp luận
Đề tài được tiếp cận dưới góc độ của khoa học pháp lý nhằm làm sáng tỏ
một phạm trù quan trọng của đời sống NN và PL.
Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài đòi hỏi phải vận dụng triệt để
cách tiếp cận liên ngành pháp lý – lịch sử. Những vấn đề liên quan đến CĐQL
7
được xem xét trong mối liên hệ với điều kiện lịch sử cụ thể của diễn trình
TKPK Việt Nam, trước hết là với mô hình tổ chức và hoạt động của NNPK
thời Hậu Lê ở Việt Nam.
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và NN ta về kế
thừa tinh hoa văn hoá của dân tộc, về vai trò và tính tất yếu của nhiệm vụ xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức NN đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt
động của bộ máy NN, hướng tới hoàn thành mục tiêu xây dựng NNPQ xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Tăng cường hiểu biết về CĐPK Việt Nam nói chung, về CĐQL thời
Hậu Lê nói riêng. Qua đó, góp phần tạo dựng nhận thức đầy đủ về diện mạo
của đời sống NN và PL Việt Nam trong lịch sử;
Các luận điểm khoa học và kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị
tham khảo đối với những người làm công tác nghiên cứu, các nhà lập pháp và
quản lý, các học viên, sinh viên chuyên ngành luật và các cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác trong quá trình hoạch định chính sách, PL và các biện pháp cụ thể
nhằm xây dựng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn bao gồm 03 chương. Cụ thể:
Chương 1: Quan chế thời Hậu Lê: nhận diện từ khía cạnh lịch sử;
Chương 2: Nội dung cơ bản của Quan chế thời Hậu Lê;
Chương 3: Giá trị đương đại của Quan chế thời Hậu Lê và định hướng
kế thừa các giá trị đó trong quá trình xây dựng NNPQ Việt Nam hiện nay.
9
CHƯƠNG 1
QUAN CHẾ THỜI HẬU LÊ: NHẬN DIỆN TỪ KHÍA CẠNH LỊCH SỬ
1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam triều Hậu Lê
Có thể nói, cuộc xâm lược và thống trị của quân Minh (1407 – 1427) là
thời kỳ đen tối trong lịch sử Việt Nam. Do có ý định thủ tiêu nền độc lập dân
tộc và biến nước ta thành quận, huyện của mình nên nhà Minh đã ra sức bóc
lột, vơ vét của cải, khủng bố, tàn sát dã man những cuộc nổi dậy của nông dân
và thi hành các chính sách thuế nặng nề, hà khắc. Bên cạnh đó, vì mục đích
đồng hóa thâm độc, muốn hủy diệt nền văn hóa Đại Việt nên chúng bắt nhân
dân ta phải từ bỏ những phong tục, tập quán truyền thống và tuân theo phong
tục tập quán Trung Hoa. Không chịu khuất phục trước những chính sách đô
và đại tri châu. Đơn vị hành chính cơ sở là xã, gồm 3 loại: xã lớn; xã vừa; xã
nhỏ, đứng đầu là các xã quan. Dưới cấp xã là thôn.
Đến thời Lê Thánh Tông, bộ máy NN từ Trung ương đến địa phương
đã có sự thay đổi. Năm 1466, Lê Thánh Tông chia nước thành 12 đạo. Năm
1471, Lê Thánh Tông lập thêm thừa tuyên thứ 13. Năm 1490, triều đình định
bản đồ trong cả nước, quy định các khu vực hành chính thuộc 13 đạo thừa
tuyên. Năm 1490 và quy định lại các đơn vị hành chính cấp xã…
Có thể nói, bộ máy NNPK thời Lê tương đối cồng kềnh. Các quan lại
theo thứ bậc cao thấp được hưởng đặc quyền theo NN quy định như cấp
ruộng thế nghiệp, lộc điền…Ngoài ra còn quy định về cách ăn mặc, màu sắc
quần áo…của các cấp quan mà dân thường không được áp dụng.
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội – tư tưởng
1.1.2.1 Tình hình kinh tế
Về nông nghiệp. Sau giải phóng triều Lê khẩn trương tiến hành tịch thu
ruộng đất của quân Minh và bọn tay sai, điền trang thái ấp của các quý tộc đã
chết cùng ruộng bỏ hoang làm ruộng đất công để ban cấp cho quý tộc, quan
11
lại làm lộc điền và chia cho dân cày theo chế độ quân điền. Chính sách quân
điền được triều Lê thi hành từ thời Lê Lợi đến thời Lê Thánh Tông, theo đó
ruộng đất công làng xã được chia theo định kỳ 6 năm một lần, nông dân sử
dụng đất phải nộp tô thuế cho NN. Thực hiện chế độ quân điền là một bước
chuyển quan trọng trong sự phát triển của CĐPK Việt Nam. Ở thế kỷ XV, nó
đã góp phần ổn định kinh tế tiểu nông, hạn chế sự phân hóa xã hội. Bên cạnh
đó, để đảm bảo an toàn cho sản xuất, NN tiến hành lập sổ ruộng đất và chủ
động phân phối. Ruộng đất được phân phối làm 3 bộ phận chính: ruộng đất
thuộc sở hữu NN; ruộng đất công làng xã; ruộng đất tư hữu.
Bằng những nỗ lực nhằm phục hồi và phát triển kinh tế như ổn định tình
hình ruộng đất, giảm sưu thuế cho dân, mặt khác, NN đặc biệt quan tâm đến
trao đổi hàng. Các sản phẩm sành, sứ, vải lụa, lâm sản quý vẫn là những thứ
hàng hóa mà thương nhân nước ngoài ham thích. Tuy nhiên, để giữ vững an
ninh, NN đặt các trạm kiểm soát ở cảng khẩu.
1.1.2.2 Xã hội
Sự biến thiên lớn về chính trị, kinh tế đã làm thay đổi ít nhiều cơ cấu giai
cấp trong xã hội. Hai giai cấp chính là địa chủ phong kiến và nông dân, ngày
càng xác lập. Giai cấp địa chủ phong kiến được chia thành hai tầng lớp chính:
quý tộc, quan chức trung, cao cấp và địa chủ thường dần dần trở thành những
người làm chủ về mọi mặt. Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số cư dân,
sống chủ yếu ở các làng xã, bao gồm nông dân tư hữu, tá điền và một ít nông
nô. Phần lớn nông dân được chia ruộng công, cày cấy sinh sống, làm nghĩa vụ
cho NN và ít nhiều được học hành. Tầng lớp thợ thủ công và thương nhân
ngày càng đông hơn nhưng chưa trở thành một lực lượng lớn mạnh. Nô tì vẫn
còn là một tầng lớp đáng kể trong xã hội. Số đông trong họ là người Hoa hoặc
các dân tộc ít người.
13
Nhờ sự nỗ lực của nhân dân và NN, nền kinh tế nhanh chóng được phục
hồi rồi phát triển. Dân số ngày càng tăng, NN đã cho phép các làng có trên
500 hộ có thể tách ra, thành lập thêm làng mới. Cuộc sống của nhân dân nói
chung ổn định, thanh bình. Nền độc lập và thống nhất của nước Đại Việt được
củng cố và có thể nói, bấy giờ Đại Việt là nước cường thịnh nhất của cả khu
vực nam Trung Quốc.
1.1.2.3 Cơ sở tư tưởng
Từ cuối thời Trần, Nho giáo đã lấn át Phật giáo. Ở thời Hậu Lê, Nho
giáo chiếm địa vị độc tôn. Do vậy, nó đã chi phối ở nhiều lĩnh vực, nhất là
trong hệ thống giáo dục từ địa phương đến triều đình. Lê Quý Đôn viết:
“Khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1471) hằng năm ban phát sách công
cho các phủ thư như Tứ thư, Ngũ kinh…Học quan do đấy để giảng dạy, khoa
“Tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ” mà ở đó, đội ngũ giai cấp cầm
quyền giữ vai trò tiên phong.
Quan lại được coi là cột xương sống của bộ máy chính quyền Nhà nước
phong kiến, mà nho sĩ và khoa cử là vườn ươm của quan chức. Bởi thế, Lê
Thánh Tông – vị vua đa tài nhất trong số các vị vua nước Việt thường xuyên
trăn trở về vai trò, trách nhiệm và tiêu chuẩn trong việc xây dựng đội ngũ
quan lại – rường cột của Nhà nước quan liêu. Nhận thức về vai trò đặc biêt
quan trọng của quan lại là nhận thức bao trùm và chỉ đạo mọi nỗ lực xây dựng
đội ngũ quan lại trong suốt cuộc đời làm vua của mình. Cũng giống như nhiều
ông vua lấy Nho giáo làm cơ sở tư tưởng bình và trị thiên hạ, ông hiểu rằng:
“Trăm quan là gốc của trị, loạn”, đồng thời ông triển khai rộng hơn: “Một
nước hay hay dở là do ở vua và quan giỏi hay dở…”.
Như vậy, có thể thấy được vai trò chủ đạo của Nho giáo đối với công
cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước của các TĐPK Việt Nam nói
15
chung và đặc biệt là nhà Hậu Lê nói riêng. Sự thống trị của Nho giáo đã ảnh
hưởng sâu sắc đến sự hình thành, phát triển và những vấn đề liên quan của hệ
thống quan chế triều Hậu Lê cũng như các triều đại sau đó.
1.1.3 Pháp luật
Thế kỷ XV là dấu mốc hết sức quan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt
Nam nhằm xác định ý chí của giai cấp thống trị và bảo vệ nền chuyên chính
của giai cấp phong kiến. Với tôn chỉ “PL là phép công của NN, vua cùng
quan đều phải theo”, Lê Thánh Tông đã ban hành Bộ luật Hồng Đức hay còn
gọi là Quốc triều hình luật cùng với nhiều văn bản pháp lý khác. Quốc triều
hình luật gồm 722 Điều, chia thành 16 Chương là Bộ luật có giá trị quan trọng
trong lịch sử PL Việt Nam. Luật Hồng Đức nói riêng và hệ thống PL nhà Hậu
Lê nói chung thể hiện rõ nét ý thức giai cấp của NN trong các mối quan hệ xã
hội đồng thời cũng phản ánh khá đậm nét tính dân tộc. Thông qua hệ thống
thời là người có phẩm hàm, có tư và có thể có tước.
Phẩm hàm (còn được gọi là Phẩm trật – trật tự phẩm hàm) là danh tính
của quan, xác định vị trí cao thấp của một viên quan trong quan trường, là cơ
sở để tính lương. Phẩm hàm của hệ thống quan lại Việt Nam trong TKPK là
sự mô phỏng hệ thống phẩm hàm trong mô hình quan chế đời Đường, Tống ở
Trung Quốc gồm 9 bậc cao thấp (cửu phẩm), mỗi bậc lại chia làm hai: Chánh
và Tòng. Như vậy trên thực tế, phẩm hàm chia làm 18 bậc. Thông thường
chức vụ của quan lại đi đôi với phẩm hàm và tương xứng với nhau. Tuy
nhiên, cũng có trường hợp, phẩm hàm cao mà chức vụ thấp hoặc không có
chức vụ và ngược lại.
Tư (tư cách, đạo đức) là đức độ của quan, là loại tước vị bổ trợ cho phẩm
hàm, tương xứng với phẩm hàm. Những người làm quan có phẩm, có tước là
đương nhiên có tư. Tư có 24 bậc và được định sẵn cho từng bậc phẩm, tước
17
theo quy ước hơn kém nhau một bậc. Việc ban Tư xuất hiện lần đầu tiên ở
nước ta vào thời Lê Sơ.
Tước là danh vọng tôn quý của quan. Tước gồm có 6 bậc theo thứ tự cao
thấp (Vương, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam). Tước thường chỉ được vua ban cho
họ hàng hay những người có quan hệ hôn nhân với nhà vua hoặc những người
có công lao đặc biệt to lớn với vua với nước. Đối tượng được phong tước vị
không nhiều và ngày càng có xu hướng thu hẹp. Tước Vương thường chỉ
được phong tặng cho các hoàng tử, thậm chí nhà Nguyễn chỉ truy tặng tước
Vương sau khi đối tượng được phong tặng đã chết.
Trong xã hội phong kiến (XHPK) Việt Nam, Quan có thể xuất thân từ
quý tộc hoặc từ bình dân. Tuy nhiên, việc xác định loại Quan không căn cứ
vào nguồn gốc xuất thân mà chủ yếu dựa vào vị trí công việc đảm trách hay
địa bàn làm việc. Vì vậy, nếu căn cứ vào vị trí công việc đảm trách thì Quan
được chia làm bốn ngạch: Quan văn; Quan võ; Tăng quan; Nội quan. Nếu