ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ BẢO NGA
KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP
CÓ VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ BẢO NGA
KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP
CÓ VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Nguyên Khánh
1.1.3 Khái niệm kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
12
1.2
Quan niệm chung về pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trƣờng thị trƣờng
15
1.3
Đặc điểm, vai trò của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trƣờng
18
1.3.1 Đặc điểm
18
1.3.2 Vai trò
21
1.4
Pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế trong việc kiểm soát
hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
32
2.1.2 Nhận thức của xã hội, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước
về Luật cạnh tranh và kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường
36
2.1.3 Tình trạng lạm dụng của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường
38
Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam điều chỉnh vấn đề
kiểm soát hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh thị trƣờng
42
2.2
2.2.1 Những quy định về xác định thị trường liên quan
43
2.2.2 Xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp
47
65
3.1.2 Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật
.
cạnh tranh phải phù hợp với nguyên tắc kinh doanh; với phong tục, tập
quán, chuẩn mực đạo đức kinh doanh; và quy luật vận động khách
quan của nền kinh tế thị trường
67
3.1.3 Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật
.
cạnh tranh phải là cơ sở pháp lý vững chắc để bảo đảm cạnh tranh lành
mạnh, công bằng giữa các chủ thể kinh doanh và đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của người tiêu dùng
69
3.1.4 Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật
.
cạnh tranh phải đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
71
3.1.5 Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật
.
cạnh tranh phải đảm bảo sự độc lập của bộ máy thực thi và sự tương
tác với các lĩnh vực pháp luật khác
73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
92
PHỤ LỤC
97
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AMA
: Luật về chống độc quyền tư nhân và đảm bảo giao dịch
công bằng
AFTA
: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC
: Diễn đàn Châu Á - Thái Bình Dương
FDI
: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
JFTC
WB
: Ngân hàng thế giới
WEF
: Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO
: Tổ chức kinh tế thế giới
MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, đã và đang khẳng định sự đúng
đắn thông qua những thành tựu quan trọng trong hoạt động kinh tế: lượng vốn đầu tư
được thu hút vào Việt Nam như ngày càng tăng và số lượng doanh nghiệp có tiềm lực
kinh doanh cũng tăng lên một cách đáng kể... Tuy nhiên, quá trình mở cửa thị trường
này đòi hỏi chúng ta phải gỡ bỏ rào cản về thủ tục hành chính, thuế quan và những ưu
đãi với doanh nghiệp trong nước... Điều đó khiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của
chúng ta không chỉ đối mặt với sự cạnh tranh với các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh
thị trường, độc quyền trong nước mà còn với các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh trên
thế giới, nhất là khi Việt Nam chính thức trở thành viên của WTO. Vì vậy, nâng cao
hiệu quả của quản lý nhà nước và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh sẽ là một điều kiện
then chốt, một đòi hỏi bắt buộc để phát triển nền kinh tế, cũng như góp phần cho tăng
trưởng kinh tế dài hạn của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu.
Theo xu hướng phát triển, doanh nghiệp khi tham gia vào kinh doanh đều mong
muốn phát triển hơn nữa thế lực của mình, nhất là những doanh nghiệp có thị phần lớn.
Cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được hình thành
từ khá sớm trong lịch sử, và dần trở thành nội dung quan trọng trong hệ thống pháp
luật của mỗi quốc gia. Ở nước ta, từ khi Đảng và nhà nước có chủ trương chuyển đổi
nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, chính sách cạnh tranh về vấn
đề này đã bước đầu được nghiên cứu làm tiền đề lý luận cho các quy định pháp luật
phù hợp với đời sống thực tiễn hơn. Có thể kể đến một số tài liệu như Nguyễn Như Phát
(1997), “Xây dựng pháp luật cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật; Nguyễn Như Phát (2000), “Đối tượng điều chỉnh
của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật;
Phạm Duy Nghĩa (2000), “Pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam: nhu cầu, khả năng và
2
một vài kiến nghị”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật; Phạm Duy Nghĩa (2003), “Độc
quyền hành chính: Góp phần nhận diện và tiếp cận từ pháp Luật cạnh tranh”, Tạp
chí nghiên cứu lập pháp; Đặng Vũ Huân (2002), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và
chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên mang nặng tính chất chính
sách và định hướng xây dựng khung cơ chế mà chưa có bước triển khai cụ thể.
Cho đến khi Luật cạnh tranh chính thức ra đời năm 2004, đã có nhiều công
trình nghiên cứu về vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền, về các hành vi lạm dụng
vị trí độc quyền và các ảnh hưởng của nó đến kinh tế - xã hội như: Nguyễn Ngọc Sơn
(2006), “Luật cạnh tranh: Sứ mệnh và triển vọng”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp;
Nguyễn Ngọc Sơn (2006), “Xác định thị trường liên quan theo Luật cạnh tranh
2004”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Phan Thị Vân Hồng (2005), Độc quyền và pháp
luật về kiểm soát độc quyền ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội; Đào Ngọc Báu (2004), “Vấn đề độc quyền ở Việt Nam”, Tạp
chí nghiên cứu lập pháp, Lê Nết, Nguyễn Anh Tuấn (2006), “Luật cạnh tranh và
những vấn đề về hợp đồng, phân phối, tài trợ trong thương mại”, Tạp chí nghiên cứu
kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Nêu thực trạng bối cảnh kinh tế
- xã hội Việt Nam và đánh giá thực trạng pháp luật cạnh tranh hiện hành trong việc
kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Từ đó đưa ra những định
hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này. Từ mục đích nghiên cứu
trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu, phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến vị trí thống lĩnh thị
trường, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường;
- Đưa ra quan niệm về pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường, đặc điểm và vai trò của cơ chế;
- Nêu kinh nghiệm quốc tế trong kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường;
4
- Nêu bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam, tình trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường ở Việt Nam và nhận thức xã hội về Luật cạnh tranh và kiểm soát hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường;
- Đánh giá thực trạng pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường;
- Kiến nghị một số định hướng và giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp
luật về vấn đề này.
4. Phƣơng pháp và phạm vi nghiên cứu
Về phương pháp. Nhằm hoàn thành các nhiệm vụ đã đặt ra, luận văn sử dụng
nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp tổng hợp và
phân tích; phương pháp so sánh và đối chiếu; kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn.
Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện trên nền tảng của phương
pháp luận duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở quan điểm đường lối về chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
bao gồm 3 chương:
Chương 1 - Một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát hành vi lạm dụng
cuả doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
Chương 2 – Thực trạng kiểm soát hành vi lạm dụng cuả doanh nghiệp có vị
trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Chương 3 – Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh
về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
6
Chƣơng 1 – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI
LẠM DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƢỜNG
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường
Các nhà khoa học trên thế giới đều thừa nhận rằng cạnh tranh là một quy luật
vận động khách quan của kinh tế thị trường. Bởi trong nền kinh tế đó, các chủ thể
phải vận động theo quy luật thị trường và cạnh tranh lẫn nhau để tồn tại và khẳng
định vị thế. Xét trên lộ trình của sự phát triển, cạnh tranh sẽ là nguyên nhân sự ra đi
của các doanh nghiệp yếu thế, nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện các doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trường. Vì vậy có thể nói cạnh tranh lành mạnh là động lực
thúc đẩy cuộc sống xã hội đi lên và góp phần tạo ra các giá trị đích thực. Mặc dù vậy,
cần thẳng thắn nhìn nhận rằng cạnh tranh cũng có xu hướng dẫn tới sự lạm dụng của
các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền. Lợi nhuận sẽ thúc
đẩy các chủ thể này thực hiện các hành vi nhằm tích tụ tối đa tư bản; hoặc duy trì và
củng cố vị trí của mình. Vì lẽ đó, để bảo vệ cấu trúc thị trường và xây dựng nền kinh
tế lành mạnh, hiệu quả, cần thiết phải có sự kiểm soát các hành vi lạm dụng của các
chủ thể có vị trí thống lĩnh trên thị trường.
Để kiểm soát được một quan hệ nào đó thì trước hết phải nhận diện được khách
Ở một số nước khác lại có cách tiếp cận khác so với pháp luật cạnh tranh về vấn
đề này, trong đó điển hình là Luật thương mại lành mạnh và những quy định về độc
quyền 1980 của Hàn Quốc (“gọi tắt là Luật Thương mại Hàn Quốc”).
Theo khoản 7, Điều 2 của Luật:
Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường là bất kỳ người mua, người
bán trong một lĩnh vực thương mại nhất định và nắm giữ vai trò thống lĩnh thị trường
để ấn định, duy trì hoặc thay đổi giá cả, khối lượng, chất lượng và các điều kiện
thương mại khác hoặc trên cơ sở độc lập hoặc trên cơ sở câu kết với các doanh nghiệp
khác. Khi xét đoán các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, cần phải tính đến các yếu
8
tố như thị phần, sự tồn tại và quy mô của các rào cản đối với việc thâm nhập thị
trường và các quy mô tương đối của các doanh nghiệp cạnh tranh.
Với quy phạm này, Luật Thương mại Hàn Quốc đã đảm bảo xây dựng một khái
niệm mang tính lý luận tổng quát, miêu tả đầy đủ và ngắn gọn các đặc tính của đối
tượng; và hoàn thiện hơn so với cách nhận diện vị trí thống lĩnh thị trường của doanh
nghiệp trong Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam. Khái niệm đã chỉ ra rằng vị trí thống
lĩnh thị trường không chỉ được xem xét dưới góc độ vị trí của một doanh nghiệp mà có
thể là vị trí của một nhóm doanh nghiệp cùng hành động (tập trung kinh tế để đạt được
vị trí thống lĩnh thị trường). Các doanh nghiệp này có khả năng kiểm soát thực tế hoặc
tiềm năng đối với thị trường liên quan mà doanh nghiệp đó đang hoặc sẽ hoạt động. Và
việc xem xét vị trí thống lĩnh thị trường sẽ căn cứ trên nhiều tiêu chí thị phần, quy mô
rào cản mà khả năng thực tế của doanh nghiệp trên thị trường.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả thừa nhận khái niệm “vị trí thống lĩnh thị
trường” của Luật Thương mại Hàn Quốc là cách hiểu chung khi sử dụng cụm từ này
trong quá trình nghiên cứu và phân tích. Để làm rõ và bao quát hơn khái niệm vị trí
thống lĩnh thị trường, tác giả nhìn nhận vị trí độc quyền như là một dạng đặc thù của vị
trí thống lĩnh thị trường. Với mong muốn ngày càng bành trướng thế lực, các doanh
diện: "Sự lạm dụng bao gồm hành vi từ chối bán, các điều kiện áp đặt giá bán hoặc
phân biệt đối xử cũng như sự phá vỡ các mối quan hệ thương mại đã được thiết lập chỉ
trên cơ sở mà bên đối tác từ chối thực hiện đối với các điều kiện thương mại không
công bằng" [24].
Tổ chức hợp tác và phát triển Liên hợp quốc (OECD) thì định nghĩa hành
vi này theo cách thứ hai: "Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền để
hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh hoặc độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường
10
bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh"
[49, tr 52].
Có thể nhận thấy hai cách tiếp cận này chỉ nhau ở tính chủ động của hành vi.
Nếu như cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, Pháp và Canada nhìn nhận hành vi lạm
dụng dựa vào hậu quả của hành động, tức là khả năng làm cản trở, sai lệch hoặc làm
giảm cạnh tranh; thì Luật mẫu về cạnh tranh của Liên hợp quốc lại xem xét hành vi ở
mục đích khi chủ thể hành động, nhằm tăng cường và củng cố địa vị của mình thông
qua việc ngăn chặn đối thủ thực tế hoặc tiềm năng tham gia thị trường hoặc hạn chế
quá mức cạnh tranh cho phép. Bình luận trên góc độ lý luận và áp dụng thực tiễn, khái
niệm được xây dựng theo cách thức đầu tiên sẽ gây khó khăn trong cách hiểu và áp
dụng thực thi bởi cách xác định được căn cứ trên phương pháp định tính. Sẽ không có
đại lượng nào có thể cân đong đo đếm sự phân biệt ứng xử, sự giảm cạnh tranh trên
thương trường… Ngược lại, xác định sự duy trì hay tăng cường vị trí của doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trường lại đơn giản hơn nhiều. Người ta có thể căn cứ trên báo
cáo hoạt động của doanh nghiệp, các phân tích thị trường liên quan và thị phần chiếm
lĩnh, số lượng doanh nghiệp đối thủ… để đưa ra kết luận chính xác.
Nhưng dù hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
trong phạm vi kinh doanh của mình về phía không có cạnh tranh – độc quyền. Điều đó
sẽ xâm hại đến quyền tự do kinh doanh của các chủ thể khác, gây bất bình đẳng và phá
vỡ cấu trúc thị trường mà hệ quả sâu xa là vi phạm lợi ích của Nhà nước. Trước những
tác động tiêu cực mà hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có thể gây ra và để
bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng như bảo vệ các doanh nghiệp yếu thế,
pháp luật các nước đều nhận định rằng cần phải có sự kiểm soát các hành vi này.
Kiểm soát theo định nghĩa của Từ điển Luật học là việc “xem xét để phát hiện,
ngăn ngừa kịp thời việc làm trái với thỏa thuận, với quy định” [60, tr 264]. Tức là, khi
thực hiện chức năng kiểm soát, pháp luật sẽ xây dựng các tiêu chí nhận diện hành vi
được coi là vi phạm pháp luật và nhận diện các chủ thể có khả năng thực hiện các hành
12
vi đó. Từ khung pháp luật chung, cá nhân, tổ chức có trách nhiệm kiểm soát sẽ đối
chiếu vào thực tế để xác định chủ thể thỏa mãn điều kiện, tiêu chí trở thành đối tượng
thuộc phạm vi kiểm soát; đồng thời chủ động tiến hành theo dõi một cách chủ động các
hành vi của chủ thể nhằm phát hiện các dấu hiệu vi phạm các nguyên tắc, quy tắc đã
được thừa nhận. Nếu hành vi có sự xâm phạm nhưng chưa đủ cấu thành vi phạm thì
chức năng kiểm soát sẽ thực hiện các biện pháp ngăn ngừa, cách ly hành vi đó tiếp tục
thực hiện vi phạm và quay trở về quỹ đạo lành mạnh ban đầu. Nếu chủ thể có những
hành vi vi phạm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến các quy tắc, nguyên tắc kiểm soát
ban đầu được đặt ra thì tùy từng trường hợp sẽ được áp dụng các biện pháp chế tài
nghiêm khắc, tất nhiên sẽ có xem xét đến yếu tố miễn trừ. Bình luận trên góc độ lý
luận, khái niệm kiểm soát được nhận diện tương đối giống với khái niệm gần “giám
sát” [60, tr 292]. Hai khái niệm này cùng chỉ ra việc theo dõi, quan sát mang tính chủ
động thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đối với hoạt động của các đối
tượng chịu sự kiểm soát, giám sát. Nếu phát hiện các hành vi vi phạm sẽ tác động bằng
các biện pháp tích cực để yêu cầu và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế
nhằm đạt được mục đích từ trước, bảo đảm cho các quy định pháp luật được tuân thủ
Bản chất của kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được thể
hiện thông qua hai góc độ hành vi và góc độ cơ chế. Nhìn từ góc độ hành vi, kiểm soát
sự lạm dụng là sự tác động từ phía cơ quan, chủ thể có thẩm quyền đối với doanh
nghiệp bị kiểm soát. Trong đó, sự kiểm soát từ phía cơ quan trực tiếp quản lý cạnh
tranh thực hiện chức năng theo dõi, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm;
còn đối với các chủ thể có thẩm quyền khác (các đối thủ cạnh tranh hoặc người tiêu
dùng) thực hiện chức năng kiểm soát thông qua việc phát hiện, tố cáo lên cơ quan cạnh
tranh hoặc thực hiện quyền khởi kiện để đảm bảo quyền và lợi ích của mình. Trong hai
hành vi tác động này, hành vi từ phía cơ quan quản lý cạnh tranh có ý nghĩa lớn trong
việc ngăn chặn và khắc phục hiệu quả các hành vi vi phạm, đồng thời có tính răn đe
cao. Ở góc độ cơ chế, vấn đề này được thể hiện ở ba khía cạnh là sự phân quyền trong
nội bộ chủ thể có quyền kiểm soát; kiểm soát dựa trên sự giới hạn của chủ thể có thẩm
14
quyền đối với quyền tự do kinh doanh của khách thể; và kiểm soát dựa trên mối liên hệ
giữa chủ thể và khách thể kiểm soát. Có thể nói, trong ba khía cạnh trên thì kiểm soát
mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể trong kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường đóng vai trò quan trọng và cần thiết phải được quan tâm. Bởi, trong hoạt
động kiểm soát, chủ thể quản lý phải luôn luôn có thông tin để nhanh chóng phát hiện
ra các hành vi vi phạm và kịp thời đưa ra các biện pháp xử lý. Mặt khác đối tượng bị
kiểm soát cũng muốn có được những thông tin nhanh nhất về yêu cầu của chủ thể cũng
như các quyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện đúng, có hiệu quả.
1.2. Quan niệm chung về pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trƣờng
Trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa, doanh nghiệp đạt được vị trí
thống lĩnh thị trường là hiện tượng tất yếu khách quan. Vì tự thân vị trí thống lĩnh thị
trường không thể gây ra những tác hại lớn cho nền kinh tế cũng như làm méo mó cấu
đòi hỏi phải có tính ổn định và chuẩn xác. Theo đó, các quy phạm về kiểm soát hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, mà cụ thể là các nguyên tắc và các quy định
chung về nhận dạng vị trí thống lĩnh thị trường, các trường hợp được coi là lạm dụng vị
trí, chế tài áp dụng cho hành vi vi phạm, cơ quan có chức năng kiểm soát, cơ chế thực
thi phải được ghi nhận trong luật. Vì các quy định này sẽ được điều chỉnh chung cho
tất cả các lĩnh vực. Ở mức độ thấp hơn là nghị định, các quy phạm điều chỉnh chỉ nhằm
mục đích giải thích mà minh thị các quy định đã được nêu ở góc độ chung. Thông
thường trong nghị định của các nước sẽ đi sâu diễn giải chi tiết cách thức nhận diện vị
trí thống lĩnh thị trường thông qua thị phần hoặc các tiêu chí định tính; cụ thể hóa các
hành vi được coi là lạm dụng; làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan
quản lý cạnh tranh; xây dựng các mức phạt và khung phạt cụ thể của chế tài; quy định
trình tự, thủ tục điều tra và xử lý. Đối với những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường thuộc các lĩnh vực đặc thù thì tùy từng nhu cầu cụ thể mà thông tư do bộ trực
tiếp quản lý các lĩnh vực đó quy định. Ví dụ cách xác định vị trí thống lĩnh thị trường
16
của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực điện lực sẽ khác với các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Khi đó, cơ quan đứng đầu quản lý ngành sẽ
trực tiếp ra thông tư để hướng dẫn việc xác định.
Về mục đích, pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
trước hết hướng tới xây dựng một khuôn khổ thị trường lành mạnh. Trong đó mọi
doanh nghiệp đều có cơ hội thành công hay thất bại tùy thuộc vào năng lực cạnh
tranh. Các quy định của pháp luật được áp dụng nhằm thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả
và không ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của bất kỳ đối thủ cạnh tranh hay nhóm đối
thủ cạnh tranh nào. Mặc khác, các chính sách cạnh tranh được xây dựng và áp dụng
để khuyến khích cạnh tranh mà không phải để trừng phạt các doanh nghiệp có vị trí
thống lĩnh thị trường nếu như việc tạo lập vị trí đó là hợp pháp (dù kết quả của chiến
lược đó có loại bỏ đối thủ cạnh tranh). Nói cách khác, việc áp dụng pháp luật kiểm
đích và cơ chế điều chỉnh được phân tích ở trên mà còn phải bảo đảm tôn trọng các
tiêu chí tiên quyết sau:
(i)
Tuân theo các quy định của điều ước quốc tế về vấn đề này;
(ii)
Tôn trọng truyền thống, tập quán và đạo đức kinh doanh;
(iii)
Kết hợp hài hòa lợi ích của người sản xuất, kinh doanh với những chủ thể
sản xuất, kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dùng, lợi ích của nhà nước và xã hội;
(iv)
Đảm bảo sự minh bạch và ổn định trên thị trường;
(v)
Đảm bảo tính hợp lý và hợp pháp của các quy định pháp luật;
(vi)
Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh và của Luật
cạnh tranh: nguyên tắc tự do kinh doanh, nguyên tắc tự do giá cả, nguyên tắc tự do
cạnh tranh.
19