Pháp luật bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ PHƯƠNG NGA

PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2008


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ PHƯƠNG NGA

PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số
: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trịnh Đức Thảo

HÀ NỘI – 2008


2.1.1 PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8
NĂM 1945 ĐẾN NAY.....................................................................................................29
2.1.2. BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM
2000 .................................................................................................................................31
2.1.3 QUYỀN NHÂN THÂN CỦA TRẺ EM TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH NĂM 2000 ............................................................................................................37

81


2.1.4 QUYỀN TÀI SẢN CỦA TRẺ EM TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NĂM 2000 .......................................................................................................................41
2.2. BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG .............................42
2.3. BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ .................................46
2.3.1 CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TRẺ EM PHẠM TỘI .................................47
2.3.2 CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI PHẠM TỘI XÂM HẠI
TRẺ EM .........................................................................................................................52
CHƢƠNG 3 THỰC TRẠNG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ THỰC HIỆN ...................................90
3.1 KHÁI QUÁT NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM Ở
NƢỚC TA...........................................................................................................................90
3.1.1. Phê chuẩn và nội luật hoá các nguyên tắc của Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em
........................................................................................................................................90
3.1.2 Xây dựng một hệ thống pháp luật tƣơng đối đồng bộ về bảo vệ quyền trẻ em
trong các lĩnh vực quan hệ xã hội ..................................................................................91
3.1.3 Hoạch định và tổ chức thực thi nhiều chƣơng trình hành động quốc gia về chăm
sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em ........................................................................................59
3.2 NHỮNG HẠN CHẾ CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ TRẺ EM .......................................................................................................................94
3.3 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM VIỆT NAM

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
1.1 TRUYỀN THỐNG BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM
TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM
Dân tộc ta từ ngàn xưa đã có truyền thống coi trọng gia đình, thương yêu,
tôn trọng trẻ em. Truyền thống đó đã đi vào ca dao, tục ngữ và cả trong pháp luật,
từ xa xưa ông cha ta đã có câu “con hơn cha là nhà có phúc”, hay “dạy con từ
thuở còn thơ”. Tuy cuộc sống đầy khó khăn, vất vả song các bậc cha mẹ, ông bà
đều dành cho trẻ em một sự quan tâm đặc biệt.
Ngược dòng thời gian, chúng ta bắt gặp một sự quan tâm, ưu ái đặc biệt đối
với trẻ em trong bối cảnh một xã hội phong kiến. Bộ Luật Hồng Đức dưới triều
đại vua Lê Thánh Tông, một trong những bộ luật tầm cỡ thế giới với nhiều quy
định pháp lý tiến bộ, mang đậm tính nhân văn và đạt trình độ cao về kỹ thuật pháp
lý là một minh chứng sống cho truyền thống quý báu này.
Quốc triều hình luật là một bộ luật điển hình, hoàn thiện nhất trong lịch sử
nhà nước pháp luật phong kiến Việt nam. Bộ luật chứa đựng nhiều nội dung tiến
bộ, nhân văn sâu sắc, kỹ thuật pháp lý hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời;
có những điểm tiếp cận với kỹ thuật pháp lý hiện đại [1], làm cho nhiều nhà
nghiên cứu đã "đi từ sự ngạc nhiên này đến sự ngạc nhiên khác"[2].
Điều 16 Bộ Luật Hồng Đức quy định: “những người từ 15 tuổi trở xuống,
phạm từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc bằng tiền, phạm tội thập ác thì không
theo luật này; trẻ em từ 10 tuổi trở xuống phạm tội phản nghịch, giết người đáng
phải tội chết thì cũng phải tâu để Vua xét định, ăn trộm và đánh người bị thương
thì cho chuộc, còn ngoài ra không bắt tội; trẻ em từ 7 tuổi trở xuống dầu có bị tội
chết cũng không hành hình, nếu có kẻ nào xui xiểm thì bắt tội kẻ xui xiểm, nếu ăn
trộm có tang vật thì kẻ nào chứa chấp tang vật ấy phải bồi thường. Nếu ai xét ra

1



nhân văn của bộ luật và truyền thống của dân tộc được thể hiện trong bộ luật về

2


bảo vệ trẻ em. Đương nhiên, chúng ta không thể đặt vấn đề so sánh với pháp luật
hiện đại bởi “mọi sự so sánh đều khập khiễng”, song có thể nói, hiếm có một bộ
luật nào vào thời bấy giờ trên thế giới lại có thể quy định về bảo vệ và chăm sóc
trẻ em nhiều và sâu sắc, tiến bộ đến như vậy. Mặc dù pháp luật phong kiến chủ
yếu bảo vệ tầng lớp địa chủ, áp bức nông dân với những điều luật và hình phạt hà
khắc song vẫn có những quy định mang đậm tính nhân văn, bảo vệ trẻ em trong
một bối cảnh xã hội hết sức đói nghèo và lạc hậu.
Chúng ta ngày nay nên học tập kinh nghiệm quý báu của người xưa “trong
việc qui định trách nhiệm pháp lý giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là
trách nhiệm pháp lý của cha mẹ đối với con cái; kết hợp giáo dục đạo đức với
giáo dục pháp luật trong các môi trường: gia đình, đoàn thể, cộng đồng dân cư
và xã hội”[3].
1.2 MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN TRONG ĐƢỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA
ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC TA VỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC
TRẺ EM
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một truyền thống và đường lối nhất
quán, xuyên suốt trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước ta. Đường lối của
Đảng về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được thể hiện rất rõ nét, sinh
động, thấm đượm chủ nghĩa nhân văn và phát triển phù hợp xu hướng của thế
giới hiện đại. Điều đó đã được khẳng định ngay từ ngày đầu mới thành lập (3-21930) dù trong hoàn cảnh kháng chiến khó khăn, Đảng ta vẫn giành mối quan tâm
rất lớn đến chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đối với trẻ em. Trong chương
trình Việt Minh đã xác định học sinh, nhi đồng là hai tầng lớp nhân dân - lực
lượng của cách mạng, đối với học sinh có chính sách là "Bỏ học phí, mở thêm
trường học, giúp đỡ học trò nghèo" còn đối với nhi đồng thì chính sách là "được
Chính phủ chăm sóc đặc biệt về thể lực và trí lực".


Người đã dành một sự quan tâm ưu ái sâu sắc và cảm động đối với trẻ em. Người
quan niệm, trẻ em là thế hệ mầm non, người chủ tương lai, quyết định vận mệnh
của quốc gia, dân tộc. Điều đó xuất phát từ tình thương bao la, rộng lớn và thể
hiện một nhân cách đặc trưng riêng của Hồ Chí Minh. Người coi trọng nhân tố
con người trong mọi công việc, hoạt động xã hội trong đó trẻ em được dành sự
quan tâm đặc biệt. Người nói: "Muốn có chế độ xã hội chủ nghĩa thì phải có con
người xã hội chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa thì phải có tư
tưởng xã hội chủ nghĩa"
Từ đó đi đến việc phải "trồng người" - phải giáo dục, rèn luyện ngay từ khi
còn nhỏ.
"Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến trẻ em, Người đã
từng viết trong di chúc rằng: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho
các cháu thanh niên và nhi đồng”. Với cả cuộc đời đi làm cách mạng, phục vụ tổ
quốc, đồng bào, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không quên truyền bá tư tưởng bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vì “ngày nay các cháu là nhi đồng, ngày sau các
cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại
cho dân tộc ta một di sản tư tưởng vô cùng quý báu trong đó có những quan điểm
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Điều này đã được thể hiện ngay trong

4


chương trình Việt Minh mang dấu ấn rất đậm nét, đặc thù của tư tưởng Hồ Chí
Minh, một nhà lãnh tụ cách mạng, nhà văn hoá lớn của dân tộc và thời đại.
Tư tưởng nhân văn, phát triển đối với trẻ em nói chung và quyền trẻ em
nói riêng đã được cương lĩnh hoá trong chương trình Việt Minh và sau đó Cách
mạng tháng Tám thành công đã được thể chế hoá trong đạo luật cơ bản đầu tiên

dục trẻ em vẫn nhất quán được thể hiện trên phương diện lý luận, pháp luật và tư
tưởng. Đường lối chính sách của Đảng về trẻ em được cụ thể hoá trong "Pháp lệnh
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em". Pháp lệnh này đánh dấu sự kiện pháp lý cơ
sở mang tính toàn diện nhất so với trước đó trong công tác bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em.
Đặc biệt trong Hiến pháp năm 1992, các quyền xã hội của công dân trong
đó có quyền trẻ em đã có sự kế thừa và phát triển, phù hợp với những điều kiện
mới [5;275]. Các quy định về quyền trẻ em đã trở thành một bộ phận cấu thành
nội dung Luật Hiến pháp Việt nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền lập hiến Việt nam
[6;20]. Đến Hiến pháp năm 1992, vấn đề quyền trẻ em, với trên 10 điều trong số
147 điều của Hiến pháp không còn là những quy định riêng lẻ, mà đã thực sự trở
thành một chế định pháp lý chặt chẽ, hoàn chỉnh, mang tính hiến định. Hiến pháp
đã thể hiện một nhân sinh quan, một nhận thức toàn diện đối với vấn đề trẻ em
trong các vấn đề xã hội.
Với quan điểm coi quyền trẻ em là một bộ phận quan trọng của quyền con
người, Hiến pháp 1992 đã thể hiện việc đặt mối quan hệ quyền trẻ em với quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân, với quyền con người. Trong số 34 điều (từ điều
49 đến điều 82) của chương V "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân", có đến
25 điều quy định các quyền cơ bản của công dân trực tiếp hay gián tiếp có liên
quan đến quyền trẻ em, vì bản thân trẻ em cũng là công dân. Điều 65 của Hiến
pháp trịnh trọng tuyên bố: "Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục". Đầu tư cho sự nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em cũng là đầu
tư cho tương lai. Hiến pháp đã gắn nhu cầu chăm sóc trẻ em bên cạnh nhu cầu
chăm sóc người mẹ, Điều 40 quy định: "Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân
có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em".
Về phương diện mối quan hệ giữa người mẹ và trẻ, điều 63 Hiến pháp đã
quy định: "Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức có
quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định
của pháp luật... nhà nước và xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi,
nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm gánh nặng gia đình, tạo điều

Đó là những quyền tự nhiên của con người đặc biệt trẻ em lại là những người
chưa trưởng thành nên việc đảm bảo những quyền tối thiểu cơ bản trên cho trẻ em
là đạo lý truyền thống không chỉ của riêng quốc gia, dân tộc nào mà là đạo lý của
nhân loại. Toàn xã hội cần phải dành ưu tiên cho trẻ em. Sự ưu tiên của người lớn
được thể hiện ở việc người lớn phải có nghĩa vụ đáp ứng những nhu cầu cần thiết
cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em trong những điều kiện có thể. Sự ưu tiên
cho trẻ em cần phải được thực hiện từ trong gia đình cho đến cộng đồng và toàn
xã hội. Sự ưu tiên này được thể hiện trong việc hoạch định chính sách, xây dựng
pháp luật, ở sự lồng ghép các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
với vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em[39]. Mục đích là để tạo điều kiện

8


để trẻ em có thể thông qua những hành vi tích cực của người lớn có thể hưởng các
dịch vụ tốt nhất về y tế, văn hoá, thể thao… một cách bình đẳng.
Xã hội cần đảm bảo cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành
mạnh, phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ và đạo đức, giảm nhanh tỉ lệ trẻ em
suy dinh dưỡng. Đây là một trong những biện pháp quan trọng để Đảng ta xây
dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con người Việt nam,
tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng nòi giống. Chăm lo cho trẻ em còn là một
trong những mục tiêu của 5 năm tới (2006-2010), đó là mục tiêu thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội.
Truyền thống bảo vệ, chăm sóc trẻ em của dân tộc ta đã được kế thừa, phát
triển trên những tầm cao mới trong điều kiện xây dựng xã hội pháp quyền, dân
chủ, hội nhập. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt nam đều nhìn nhận
vai trò của trẻ em trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đảng và Nhà
nước ta luôn coi trọng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em như một
trong những ưu tiên trong toàn bộ chiến lược xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới.
Từ cuộc sống đến pháp luật và từ pháp luật đến cuộc sống, đường lối của Đảng về

trẻ em, ràng buộc các quốc gia thành viên vào trách nhiệm cụ thể để thay thế
Tuyên ngôn vì Tuyên ngôn chỉ là “luật mềm”, không phải là văn bản mang tính
ràng buộc và không áp đặt những nghĩa vụ cụ thể nào với các quốc gia thành
viên. Việc bảo vệ quyền trẻ em đòi hỏi phải có một khuôn khổ, một chuẩn mực
được cộng đồng quốc tế đồng ý.
Đề xuất của Ba lan đã được Liên hợp quốc chấp thuận và sau 10 năm soạn
thảo, Công ước được Liên hiệp quốc chính thức thông qua ngày 20/11/1989, ngày
26/01/1990 Công ước được mở cho các nước ký và phê chuẩn. Tại lễ ký ở Liên
hiệp quốc, đại diện 60 nước đã ký vào văn bản cam kết rằng Chính phủ họ sẽ phê
chuẩn phù hợp với Hiến pháp của từng nước. Công ước có hiệu lực là luật quốc tế
vào ngày 02/09/1990.
Ngay tại điều 1 của Công ước về quyền trẻ em đã xác định rõ: “trong
phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp
pháp luật áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn”.
Như vậy, trong công ước về quyền trẻ em, trẻ em được xác định là người
dưới 18 tuổi (trừ khi luật pháp quốc gia quy định độ tuổi sớm hơn). Các văn bản
pháp luật quốc tế khác như: Quy tắc Bắc Kinh, Hướng dẫn Riát và Quy tắc của
Liên hiệp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thường sử

10


dụng thuật ngữ người trẻ tuổi, người chưa thành niên, trẻ em, là những người
chưa đến 18 tuổi và thanh niên là người từ 15 đến 24 tuổi.
Ngoài ra, khái niệm trẻ em còn có sự khác nhau ở cách quy định độ tuổi
trong từng lĩnh vực cụ thể, ví dụ như ở một số văn bản, văn kiện khác của một số
tổ chức thuộc Liên hiệp quốc như Quỹ dân số Liên hiệp quốc (VNFPA), tổ chức
lao động quốc tế (ILO) và tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hiệp
quốc (UNESCO) thì trẻ em là những người dưới 15 tuổi.
1.3.1.2 Khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt nam

luật do nhà nước ban hành trên cơ sở khách quan của đời sống xã hội, được đảm
bảo thực hiện bằng các biện pháp của nhà nước và xã hội, nhằm điều chỉnh những
quan hệ xã hội liên quan đến trẻ em.
Xét một cách phổ quát nhất, sự điều chỉnh pháp luật về trẻ em là một bộ
phận cấu thành trong hệ thống pháp luật quốc gia nên nó cũng có những đặc trưng
chung như các lĩnh vực điều chỉnh pháp luật khác, đồng thời pháp luật về trẻ em
lại có nhiều đặc thù riêng xuất phát từ chính bản thân đối tượng này và những yếu
tố xã hội khách quan tác động đến [8].
Một khái niệm cần làm rõ nữa là địa vị pháp lý của trẻ em. Địa vị pháp lý
của trẻ em đó là tổng thể các quyền và nghĩa vụ - bổn phận pháp lý của trẻ em
cùng với những đảm bảo pháp lý thực hiện. Địa vị pháp lý của trẻ em thể hiện bản
chất nhà nước và xã hội cùng những điều kiện kinh tế, văn hoá, đạo đức xã hội và
của nhân loại. Trong từng lĩnh vực pháp luật, địa vị pháp lý của trẻ em lại có
những biểu hiện đặc thù. Chẳng hạn, trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia
đình, địa vị pháp lý của trẻ em được thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ - bổn phận
của trẻ em với tư cách là thành viên trong đại gia đình. Trong lĩnh vực pháp luật
tố tụng hình sự - trẻ em với tư cách là bị can, bị cáo có những quyền tố tụng để họ
tự bảo vệ quyền lợi của mình.
1.3.3 Một số đặc thù cơ bản của pháp luật về trẻ em
Xét về cấu trúc, pháp luật về trẻ em, sự điều chỉnh pháp luật về trẻ em có
phạm vi rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội, đến nhiều ngành
luật khác nhau. Mỗi một ngành luật có những đặc thù riêng về việc bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em. Luật Hiến pháp điều chỉnh các quan hệ về trẻ em trên
những vấn đề mang tính nguyên tắc áp dụng như là cơ sở cho tất cả các ngành luật

12


khác. Mọi quy định pháp luật về trẻ em đều không được trái với hiến pháp. Mỗi
ngành luật điều chỉnh về quyền trẻ em với các nét đặc thù riêng nhưng tập hợp lại

- Quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ;
- Quyền được học tập;
- Quyền được vui chơi, giải trí lành mạnh, được học tập văn hoá, văn nghệ,
thể thao và du lịch;
- Quyền được có tài sản, thừa kế và hưởng các chế độ bảo hiểm.

15


Trẻ em không chỉ có quyền mà còn phải gánh vác cả nghĩa vụ song pháp
luật Việt nam xác định trẻ em là đối tượng cần được quan tâm đặc biệt, vì vậy đối
với trẻ em pháp luật không sử dụng thuật ngữ “nghĩa vụ” mà dùng thuật ngữ
“bổn phận”, việc sử dụng thuật ngữ “bổn phận” trong một khía cạnh nào đó
cũng bao hàm yếu tố nghĩa vụ nhưng không mang tính bắt buộc như nghĩa vụ.
Tại Điều 13 Luật BVCS&GD trẻ em quy định trẻ em có các bổn phận như sau:
- Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, lễ phép với người lớn,
thương yêu trẻ nhỏ, đoàn kết với bạn bè, giúp đỡ người già yếu, tàn tật, giúp đỡ
gia đình làm những việc vừa sức của mình;
- Chăm chỉ học tập, rèn luyện thân thể, tuân theo nội quy của nhà trường;
- Tôn trọng pháp luật, thực hiện nếp sống văn minh, trật tự công cộng và
an toàn giao thông, giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người khác;
- Yêu quê hương đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ tổ
quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa;
- Trẻ em không được đánh bạc, uống rượu, hút thuốc lá và dùng các chất
kích thích khác có hại cho sức khoẻ.
1.4. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ
CÁC QUYỀN TRẺ EM
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một vấn đề lớn được cộng đồng
quốc tế quan tâm. Từ năm 1924 Hội Quốc liên đã thông qua bản Tuyên ngôn về
quyền trẻ em. Bản Tuyên ngôn đã xác định:

-

Quyền được sống, bao gồm quyền của trẻ em được sống và được đáp

ứng những nhu cầu để tồn tại. Các nhu cầu đó gồm: mức sống đủ, có nơi ở và
được chăm sóc sức khoẻ...
- Quyền được phát triển nghĩa là trẻ em cần có những điều kiện để phát
triển đầy đủ nhất như: quyền được hưởng giáo dục, vui chơi, tiếp cận thông tin, tự
do tín ngưỡng, tôn giáo...
- Quyền được bảo vệ nghĩa là trẻ em phải được bảo vệ chống lại tất cả các
hình thức lạm dụng, sao nhãng và bóc lột. Các quyền này bao gồm những vấn đề
như: Bảo vệ đặc biệt cho trẻ em khỏi nạn tra tấn, lạm dụng khi vi phạm hình sự,
không bị tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang, lao động trẻ em, nghiện ma
tuý và lạm dụng tình dục...

17


- Quyền được tham gia nghĩa là cho phép trẻ em đóng một vai trò tích cực
trong cộng đồng và đất nước của các em. Các quyền này bao gồm sự tự do diễn
đạt, bày tỏ quan điểm và ý kiến, được phát biểu trong những vấn đề có liên quan
đến cuộc sống của các em, được tham gia hội đoàn và tụ họp mang tính hoà
bình...
Mặc dù có thể tìm thấy nhiều quyền trẻ em trong các văn bản khác xong
công ước này chính là sự pháp điển hoá mang tính chất lịch sử - là cơ sở thúc đẩy
các nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ và thực hiện quyền trẻ em trên toàn thế
giới. Văn kiện pháp lý quốc tế này đã đưa ra khái niệm định nghĩa thống nhất về
quyền trẻ em cho tất cả các nước trên thế giới dù ở mỗi quốc gia có sự khác nhau
về hệ thống chính trị, văn hoá, tín ngưỡng ... đối với các tổ chức quốc tế, công
ước là công cụ hữu hiệu việc định hướng viện trợ trong lĩnh vực chăm sóc và giáo

cho sự phát triển và cuộc sống hạnh phúc của trẻ em. Thực hiện quyền trẻ em
không có nghĩa là gây ra sự mâu thuẫn hay đụng độ giữa trẻ em với gia đình, bố
mẹ.
Trước thực tiễn về nạn đại dịch AIDS đang hoành hoành, lần đầu tiên
trong một công ước quốc tế đã đề cập đến nhiều trẻ em cần được bảo vệ. Đó là
những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như: trẻ em tàn tật, trẻ em mại dâm,
trẻ em trong chiến tranh và xung đột vũ trang... Các thách thức hay những vấn đề
cấp bách mà trẻ em đang gặp phải (lao động cưỡng bức, đại dịch HIV/ AIDS, bị
giết hại, lạm dụng tình dục, buôn bán trẻ em...) đều được công ước đặc biệt quan
tâm.
Lần đầu tiên Công ước đã gắn các quyền dân sự và chính trị với các quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá. Việc thông qua công ước thực sự đã khẳng định địa vị
của trẻ em trên khắp thế giới. Xác định trẻ em là chủ thể của các quyền, đối tượng
cần sự thương hại, cứu trợ và lòng từ thiện thuần tuý.
Công ước là một công cụ hữu hiệu giúp các tổ chức quốc tế và các nước
cấp viện trở đúng đắn, tích cực và đúng đối tượng. Đây không còn là vấn đề nhân
đạo hay từ thiện mà là trách nhiệm mang tính pháp lý.
Nhìn vấn đề một cách tổng thể có 4 nhóm quyền cơ bản của trẻ em:
Quyền dân sự và chính trị của trẻ em gồm các quyền có họ tên và quốc
tịch, quyền được tự do biểu đạt và giao kết, quyền được hưởng an toàn xã hội,
được bảo vệ không bị tra tấn hoặc bị đối xử tàn tệ ...
Các quyền kinh tế của trẻ em gồm các quyền được có mức sống đủ để phát
triển, được bảo vệ để khỏi bị bóc lột trong công việc ...

19


Các quyền xã hội của trẻ em gồm các quyền được hưởng sự chăm sóc sức
khoẻ cao nhất và các dịch vụ chữa bệnh, được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt nếu
bị tàn tật, được bảo vệ khỏi bị bóc lột hay bị lạm dụng tình dục, được làm con



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status