Bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 07 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ BÍCH NGA

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ BÍCH NGA

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI NGỌC CƯỜNG


Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
........................................................................................................................... 8
1.1 Khái quát chung về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động............. 8
1.1.1. Quan niệm về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động ......... 8
1.1.1.1. Định nghĩa ............................................................................... 8
1.1.1.2. Ý nghĩa, vai trò của bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao
động ................................................................................................................... 9
1.2. Điều chỉnh pháp luật lao động về bồi thường thiệt hại ........................... 10
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bồi thường thiệt hại ................................ 10
1.2.2. Nguyên tắc thực hiện bồi thường thiệt hại ................................... 15
1.2.3. Nội dung thực hiện bồi thường thiệt hại ...................................... 18
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI, THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ................................................................... 22
2.1. Lược sử quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật lao
động Việt Nam về bồi thường thiệt hại ........................................................... 22


2.2. Thực trạng các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại trong luật lao
động Việt Nam ................................................................................................ 24
2.2.1. Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng lao động .................... 24
2.2.1.1 Bồi thường thiệt hại cho người lao động bị chấm dứt hợp đồng
lao động vì lý do kinh tế .................................................................................. 25
2.2.1.2 Bồi thường thiệt hại do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật .......................................................................................... 28
2.2.2. Bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe ................................ 35
2.2.3. Bồi thường thiệt hại về tài sản ...................................................... 39
2.3. Thực tiễn bồi thường thiệt hại trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng ................ 43
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO


NLĐ

: Người lao động

NSDLĐ

: Người sử dụng lao động

QHLĐ

: Quan hệ lao động

BHXH

: Bảo hiểm xã hội

TAND

: Tòa án nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quan hệ lao động, có sự phụ thuộc pháp lý giữa người lao
động và người sử dụng lao động, biểu hiện ở chỗ mối quan hệ không bình
đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động trong khi làm việc.
Xuất phát từ sự yếu thế hơn của người lao động trong quan hệ lao động,
nhất là trong điều kiện nền kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng như hiện

việc xử lý bồi thường thiệt hại của các doanh nghiệp vẫn có những biểu
hiện cố tình sai sót, không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người lao
động như đuổi người lao động rồi mới ra quyết định kỷ luật, lập biên bản
xử lý không có mặt người lao động, không có đại diện công đoàn, mời cả
những người không liên quan xét kỷ luật lao động.v.v[40].
Bộ luật lao động năm 1994, có hiệu lực ngày 01/01/1995, đã được
sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 và 2007[2] (sau đây viết tắt là
BLLĐ); cùng các văn bản hướng đã có quy định về xử lý kỷ luật lao động,
trong đó có quy định về một số trường hợp bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên,
sau hơn 15 năm thi hành, một số quy định của Bộ luật này đã bộ lộ những
hạn chế, trong khi một số quy định trong các văn bản hướng dẫn lại tỏ ra
phù hợp và hiệu quả. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp lao động những
năm qua cho thấy việc giải quyết các vụ án tranh chấp về “xử lý bồi thường
thiệt hại” khá phức tạp, các quy định của pháp luật lao động về vấn đề này
chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, nhiều quy định khi áp dụng trong thực tiễn còn
vướng mắc. Điều này đã dẫn đến thực tiễn khi giải quyết một số tranh chấp
về xử lý bồi thường thiệt hại còn nhiều lúng túng khi áp dụng pháp luật.

2


Chính bởi lẽ đó, Bộ luật lao động 2012 [1] ra đời, sửa đổi một số quy định
so với bộ luật cũ và chính thức bổ sung, ghi nhận thêm một số quy định
hợp lý trong các văn bản hướng dẫn, với mục đích mang lại sự tương xứng
với sự phát triển của xã hội, đi trước đón đầu để tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho các bên trong quan hệ lao động, khuyến khích phát triển tối đa và
lâu dài nguồn lực sức lao động.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, đồng thời
bảo đảm được quyền của người sử dụng lao động trong quản lý duy trì kỷ
luật lao động và hiệu quả sản xuất; nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả

chèn ép người lao động, giúp bảo vệ người lao động tốt hơn. Tác động tích
cực đến việc duy trì và làm ổn định các quan hệ lao động, cải thiện mối
quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Ba là, thông qua việc nghiên cứu đề tài này, tác giả mong muốn góp
phần cho các chủ thể áp dụng pháp luật về vấn đề này thuận lợi hơn trong
việc tìm hiểu và vận dụng pháp luật trong thực tiễn, đặc biệt là những
người trực tiếp thực hiện công tác giải quyết xét xử các vụ án lao động.
Ngoài ra, luận văn này còn là tài liệu tham khảo đối với việc học tập,
giảng dạy và nghiên cứu của sinh viên các chuyên ngành Luật, Quản trị
nhân sự...
1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các quy định của pháp luật
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật lao động; thực tiễn áp dụng
cũng như những điểm hạn chế của các quy định đó.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào phân tích chi tiết, cụ thể
những trường hợp bồi thường thiệt hại trong luật lao động nói chung và
thực tiễn về bồi thường thiệt hại trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng để từ đó đề

4


xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bồi thường
thiệt hại trong pháp luật lao động Việt Nam nói chung và tại Thành phố Đà
Nẵng nói riêng.
1.5. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian qua, với phạm vi và mức độ nghiên cứu khác nhau, có
nhiều tác giả có bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bồi
thường thiệt hại trong luật lao động như: Sách tham khảo của TS Nguyễn
Hữu Chí, Ths Đỗ Gia Thắng, Chế độ bồi thường trong Luật lao động Việt
Nam(2006), luận văn tốt nghiệp cao học luật “Vấn đề bồi thường thiệt hại

những nội dung sau:
- Phân tích những vấn đề lý luận về bồi thường trong pháp luật lao
động.
- Nghiên cứu, làm rõ thực trạng các quy định của pháp luật về bồi
thường thiệt hại cũng như việc áp dụng các quy định đó trên thực tế tại địa
bàn thành phố Đà Nẵng.
- Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về
bồi thường thiệt hại trong luật lao động, tác giả sẽ đưa ra một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện các quy định này.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật
biện chứng đi từ việc tìm hiểu lịch sử phát triển, khái niệm của các quy
định về bồi thường thiệt hại đến tìm hiểu các biểu hiện của các quy định
này trong luật lao động. Việc phân tích các luận điểm trong luận văn được
thực hiện dựa trên các quy định của Bộ luật lao động, các văn bản hướng
dẫn thi hành và thực tiễn áp dụng các quy định đó. Trên cơ sở tìm hiểu các
quy định của pháp luật, tác giả đi vào phân tích thực tiễn áp dụng các quy

6


định của pháp luật về bồi thường thiệt hại. Đồng thời, tác giả cũng sử dụng
các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh... để nghiên cứu các vấn đề
thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn theo nguyên tắc lý luận gắn liền
với thực tiễn.
3. Bố cục luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia làm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về bồi thường thiệt hại trong pháp luật

không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp
của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn
hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của
mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất
cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại (BTTH).

8


Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại trong lao động nói riêng là một quan hệ pháp luật lao
động, theo đó người gây ra thiệt hại trong những điều kiện mà pháp luật
quy định phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật của họ
gây ra. Trong quan hệ nghĩa vụ này bên bị thiệt hại được coi là người có
quyền và có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại là người có nghĩa vụ phải bồi
thường những thiệt hại đã xảy ra.
1.1.1.2. Ý nghĩa, vai trò của bồi thường thiệt hại trong luật lao động
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ nhằm bảo đảm việc đền
bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp
luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp
của người khác. Hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến
những bất lợi về tài sản mà người gây ra thiệt hại để bù đắp những thiệt hại
mà họ gây ra cho chủ thể khác.[21, tr.442]
Việc quy định chế độ bồi thường thiệt hại trong luật lao động là sự
cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp nhằm góp phần đảm bảo quyền hiến
định của người sử dụng lao động. Đồng thời đây cũng là việc hiện thực hóa
một trong các nguyên tắc cơ bản của luật lao động, đó là nguyên tắc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động. Hơn nữa, việc bồi
thường thiệt hại còn đảm bảo cho sự đền bù lại toàn bộ hoặc một phần thiệt
hại cho người bị thiệt hại, góp phần vào việc đảm bảo và tăng cường kỷ

phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây
thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.[21,tr.441].
Luật Thương mại thì ghi nhận thiệt hại là những tổn thất về tài sản,
chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế

10


bị mất hoặc giảm sút một bên phải gánh chịu khi bên kia không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ hợp đồng [23, tr.51].
Về mặt lý luận nhà nước và pháp luật, khi một quan hệ xã hội được
pháp luật điều chỉnh thì trở thành quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, không phải
quan hệ xã hội nào cũng đều được quy phạm của tất cả các ngành luật điều
chỉnh mà mỗi ngành luật có đối tượng riêng của nó. Đối tượng điều chỉnh
của pháp luật lao động cũng như vậy. Trong số các quan hệ lao động trong
đời sống xã hội, Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động làm
công ăn lương, quan hệ lao động phát sinh trên cơ sở hợp đồng lao động
giữa NLĐ làm công ăn lương với NSDLĐ [20,tr.18]. Theo pháp luật lao
động hiện hành ở nước ta, QHLĐ do pháp luật lao động điều chỉnh khác
với QHLĐ giữa cán bộ, công chức, viên chức với thủ trưởng cơ quan nhà
nước được điều chỉnh bởi pháp luật hành chính. Sự khác biệt này xuất phát
từ bản chất của hai loại QHLĐ này, nếu nhóm thứ nhất dựa trên sự bình
đẳng, thỏa thuận giữa các chủ thể trong quan hệ lao động thì QHLĐ thuộc
nhóm thứ hai mang nặng tính mệnh lệnh hành chính, nhất là trong quá trình
quản lý lao động của thủ trưởng cơ quan nhà nước.[22,tr 19].
Như vậy, quan hệ lao động thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật
lao động là quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương và
người sử dụng lao động được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động.
Khi tham gia quan hệ lao động, người lao động được người sử dụng
lao động giao quản lý, sử dụng tài sản phù hợp với trình độ, khả năng của

vi trái kỷ luật hoặc hợp đồng trách nhiệm của NLĐ. Đây cũng là một trong
những điều kiện bắt buộc cho việc áp dụng trách nhiệm vật chất. NLĐ
không phải bồi thường cho NSDLĐ nếu không có mối quan hệ nhân quả

12


giữa hành vi trái kỷ luật hoặc hợp đồng trách nhiệm với thiệt hại xảy ra.
[21,tr.420]
Thứ tư, có lỗi của người vi phạm. Lỗi là trạng thái tâm lý của một
người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra. NLĐ bị
coi là có lỗi khi họ có thể lựa chọn hành vi xử sự khác phù hợp nhưng vẫn
thực hiện hành vi trái với kỷ luật lao động hoặc hợp đồng trách nhiệm, gây
thiệt hại cho NSDLĐ. NLĐ được coi là không có lỗi, và do đó không phải
bồi thường cho NSDLĐ nếu gây thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng.
[21,tr.421]. Ví dụ: Trong trường hợp người lao động phải ngừng việc vì sự
cố điện nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động
hoặc vì những nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hỏa hoạn, dịch
bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì tiền lương ngừng
việc do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu
vùng do Chính phủ quy định. (Khoản 3 Điều 98 Bộ luật lao động 2012).
Ngoài bốn căn cứ trên, để giúp cho việc bồi thường thiệt hại này
được chính xác, hiệu quả, cũng như tính đến điều kiện thực tế của NLĐ,
NSDLĐ còn phải xem xét các yếu tố khác như: khả năng, kinh nghiệm làm
việc, hoàn cảnh gia đình, tài sản cũng như ý thức kỷ luật, thái độ của NLĐ
trước, trong và sau khi vi phạm để quyết định áp dụng trách nhiệm vật chất
và xác định mức bồi thường hợp lý để vừa đảm bảo quyền lợi người sử
dụng lao động vừa đảm bảo cho người lao động ổn định cuộc sống sau khi
thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Đó cũng là cách để răn đe, giáo

về giá trị hoặc mất mát tài sản của NSDLĐ. Còn thiệt hại gián tiếp là thiệt
hại phát sinh như phần lợi nhuận bị bỏ lỡ, phần thu nhập bị mất, bị giảm

14


sút mà lẽ ra đơn vị có thể có được. Đó là thiệt hại có tính dự báo, phải dựa
trên sự suy đoán khoa học mới chính xác được. Việc bồi thường thiệt hại
vật chất trong luật lao động chỉ căn cứ vào những thiệt hại trực tiếp mà
không phải bồi thường những thiệt hại gián tiếp. Đây là điểm khác nhau cơ
bản giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật lao động với trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật dân sự. [21, tr.321]
Xét về mục đích, trách nhiệm BTTH trong pháp luật lao động có sự
khác biệt so với trách nhiệm BTTH của pháp luật dân sự. Nếu trong luật
Dân sự, trách nhiệm BTTH chỉ nhằm khôi phục những thiệt hại mà các bên
đã gây ra cho nhau (trách nhiệm đó xuất phát từ lẽ công bằng), thì trong
Luật Lao động, trách nhiệm BTTH còn nhằm góp phần tăng cường kỷ luật
lao động, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bên và đồng thời bảo vệ
NLĐ. Điều này thể hiện rõ nét trong việc quy định mức và cách thức bồi
thường của NLĐ cho NSDLĐ trong pháp luật nước ta [22,tr.23].
1.2.2. Nguyên tắc thực hiện bồi thường thiệt hại
Theo khoản 2 Điều 131 BLLĐ, các quy định pháp luật về nguyên
tắc, thời hiệu và thủ tục xử lý vi phạm kỷ luật lao động cũng được áp dụng
cho việc xử lý bồi thường thiệt hại. [22, tr.423]. Cụ thể: “Việc xem xét,
quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại
thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao
động”. Mức bồi thường là khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá
30% tiền lương hàng tháng của NLĐ sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm
xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập (khoản
3 Điều 101 BLLĐ). Đây là mức quy định áp dụng đối với NLĐ. Còn đối

thiệt hại gián tiếp, có nghĩa là bồi thường theo thiệt hại thực tế. Đó chính là
một trong những điểm khác biệt giữa bồi thường theo pháp luật lao động

16


và pháp luật dân sự. Bởi việc bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động
không hướng đến mục tiêu bù đắp toàn bộ thiệt hại xảy ra, mà phần nhiều
mang ý nghĩa răn đe người lao động. Hơn nữa, nếu quy định nghĩa vụ của
người lao động bồi thường toàn bộ thiệt hại thì không mang tính khả thi, do
người lao động không có khả năng, nếu phải bồi thường toàn bộ, người lao
động không đảm bảo, không duy trì được cuộc sống cho chính họ, tạo ra
tâm lý lo sợ bồi thường của người lao động khi thực hiện nghĩa vụ lao động
sản xuất, ảnh hưởng năng suất lao động. Chính vì vậy, pháp luật lao động
đã giới hạn thiệt hại mà người lao động phải bồi thường. Chúng tôi cho
rằng quy định như vậy là hợp lý, bởi xét đến cùng việc gây thiệt hại của
người lao động không phải do cố ý, việc quyết tâm truy cứu trách nhiệm
đến cùng dễ dẫn đến sự đổ vỡ các quan hệ lao động.
Về vấn đề bồi thường thiệt hại cho NSDLĐ: thiệt hại về tài sản cho
NSDLĐ là điều kiện bắt buộc cho việc áp dụng trách nhiệm vật chất bởi lẽ
đây cũng là một loại trách nhiệm BTTH. Về nguyên tắc, thiệt hại về tài
sản cho NSDLĐ phải là thiệt hại thực tế, tức là tổn thất về tài sản, chi phí
hợp lí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại (thiệt hại trực tiếp), thu
nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (thiệt hại gián tiếp [3,Đ307]). Do pháp
luật lao động không quy định cụ thể nên trên thực tế, hiện không có một
cách hiểu thống nhất về thiệt hại đối với tài sản NSDLĐ. Có quan điểm cho
rằng thiệt hại này chỉ là những thiệt hại trực tiếp (chi phí sữa chữa dụng cụ,
thiết bị hư hỏng, tài sản bị mất hay vật tư bị tiêu hao quá định mức) chứ
không bao gồm thiệt hại gián tiếp (lợi nhuận bị giảm sút do phải ngừng sản
xuất để sửa chữa máy móc, thiết bị bị hư hỏng). Song, cũng có quan điểm

lao động. Đây là một điểm sáng, một con đường giúp cho người lao động
có cơ hội được bù đắp lại lỗi lầm của mình, mà vẫn có thu nhập cho cuộc

18


sống. Nó vừa thể hiện sự chia sẻ trách nhiệm của người sử dụng lao động
với người lao động, vừa tính đến nguyên nhân gây thiệt hại do sơ suất từ
việc không đủ khả năng hoặc những nguyên nhân tâm lý khác mà không
phải lúc nào người lao động cũng khắc phục được trong quá trình thực hiện
nghĩa vụ lao động. Tuy nhiên, nếu tính theo cách này, phải mất hơn 9 tháng
chủ sử dụng lao động mới lấy lại được số tiền bồi thường trị giá 3 tháng
tiền lương của người lao động, trong khi nếu tài sản của họ bị thiệt hại có
giá trị 10 tháng lương tối thiểu vùng, một con số không hề nhỏ, thì thiệt
thòi cho NSDLĐ trong trường hợp này cũng thật lớn. Quy định này dồn
thêm gánh nặng tài chính cho chủ sử dụng lao động, và chưa thực sự có tác
dụng răn đe nhiều đối với người lao động làm hư hỏng tài sản.
Với trường hợp thiệt hại từ mức 10 tháng lương tối thiểu vùng trở
lên, pháp luật lao động không đưa ra định mức bồi thường, mặc dù đây là
trường hợp cần thiết. Như vậy theo điều 130, khi người lao động gây thiệt
hại nghiêm trọng thì người lao động phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đó.
Về cơ bản, những quy định về bồi thường thiệt hại trong luật dân sự sẽ
được dẫn chiếu áp dụng, và người lao động có nguy cơ bị kỷ luật sa thải.
Do vậy, nên có hướng dẫn rõ ràng và cụ thể Bộ luật lao động 2012 cho
trường hợp này để tạo điều kiện cho việc thực hiện pháp luật được thuận
tiện và minh bạch, đảm bảo lợi ích chính đáng cho các bên liên quan.
Theo khoản 2 điều 130 BLLĐ, trong trường hợp người lao động làm
mất dụng cụ, thiết bị, làm mất các tài sản khác do người sử dụng lao động
giao, hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường một
phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status