ĐẶT VẤN ĐỀ
Xói mòn đất là hiện tượng bào mòn lớp đất mặt, làm mất dinh dưỡng
đất ở những vùng đất dốc, gây ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động sản xuất của
con người. Đây là vấn đề đã và đang được quan tâm, tranh luận nhiều trong
sản xuất Nông - Lâm nghiệp, đặc biệt với đối tượng cây cao su (Hevea
brasiliensis Muell) mới được đưa vào canh tác trên đất Lâm nghiệp. Với đặc
tính sinh trưởng nhanh và dễ trồng, hiện nay cây cao su đã và đang được phát
triển nhanh chóng ở Việt Nam. Tổng diện tích trồng cao su đến nay đã đạt
trên 500.000 ha. Những nơi trồng nhiều nhất là miền Đông Nam Bộ, Tây
nguyên và một số tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Hiện
nay, người ta đang nghiên cứu mở rộng diện tích trồng cao su ra cả các tỉnh
miền núi phía Bắc với các mô hình trồng rừng Cao su thử nghiệm tại Lai
Châu, Sơn La. Cây Cao su hứa hẹn là cây góp phần phủ xanh đất trống đồi
núi trọc, là một trong những loài cây chủ đạo làm thay đổi những vùng đất
nghèo khó, phát triển kinh tế miền núi và là “cây vàng” trong thời kỳ kinh tế
thị trường. Tuy nhiên, trước sự gia tăng nhanh chóng diện tích trồng cao su đã
xuất hiện nhiều ý kiến trái ngược nhau về tác động của rừng trồng cao su trên
đất dốc đến môi trường đất, đặc biệt là vấn đề xói mòn đất. Hiện tượng xói
mòn mạnh hay yếu? Những thành phần vật chất khác nhau của đất mất đi bao
nhiêu? Biện pháp kỹ thuật cụ thể để duy trì dinh dưỡng của đất dưới rừng Cao
su?
Ở nước ta những năm gần đây, trồng mới cây cao su chủ yếu là ở
những vùng đất dốc (với độ dốc từ 8
0
- 25
0
) tại nhiều tỉnh miền Trung và miền
Bắc. Những vùng đất này rất nhạy cảm với thiên tai, đặc biệt rất dễ bị xói
mòn mạnh do lớp phủ thảm thực vật nguyên thủy không còn như trước mà
thay vào đó là những cánh rừng cao su mới trồng. Để canh tác và phát triển
cây cao su bền vững, đạt hiệu quả cao về kinh tế - xã hội - môi trường, vấn đề
Chakraborty.D, 1989; Ohta, 1993). Các loài cây khác nhau có ảnh hưởng rất
khác nhau đến độ phì của đất, cân bằng nước, sự phân hủy thảm mục và chu
trình dinh dưỡng khoáng (Bernhard Reversat.F, 1993; Trung tâm Lâm nghiệp
quốc tế (CIFOR), 1998; Chandran.P, Dutta.D.R, Gupta.S.K và Banerjee.S.K,
1998).
Công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất và dòng chảy được thực
hiện bởi nhà bác học Volni người Đức trong thời kỳ 1877 đến 1885 ( Hudson,
1981)[11]. Những ô thí nghiệm được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố như thực bì, lượng mưa tới dòng chảy và xói mòn đất trong
3
công trình này. Tác giả cũng nghiên cứu ảnh hưởng của loại đất và độ dốc
mặt đất tới dòng chảy và xói mòn đất. Tuy nhiên, phần lớn các kết luận chưa
được định lượng một cách rõ ràng.
Sau đó, những nghiên cứu về xói mòn đất được thực hiện ngày một
nhiều ở Mỹ, Liên Xô và một số nước phát triển khác.
Bằng các thí nghiệm trong phòng, Ellsion (Hudson, 1981)[11] thấy
rằng các loại đất khác nhau có biểu hiện khác nhau trong các pha xói mòn đất
do nước. Ellsion là người đầu tiên phát hiện ra vai trò của lớp phủ thực vật
trong việc hạn chế xói mòn đất và vai trò cực kỳ quan trọng của hạt mưa rơi
đối với xói mòn. Phát hiện của ông đã mở ra một hướng mới trong nghiên cứu
xói mòn đất, đã làm thay đổi quan điểm nghiên cứu về xói mòn và khả năng
bảo vệ của lớp thảm thực vật. Các nghiên cứu xói mòn bắt đầu chuyển sang
nghiên cứu định lượng, xác định cơ chế xói mòn, tìm công thức toán học để
mô phỏng quá trình xói mòn. Nhờ các phương tiện hiện đại, người ta đã tiến
hành nghiên cứu xói mòn không chỉ trong điều kiện tự nhiên mà cả trong điều
kiện nhân tạo: mưa nhân tạo, độ dốc nhân tạo, độ che phủ nhân tạo. Các nhà
nghiên cứu nổi tiếng trong giai đoạn này là: Ellsion ( Hudson, 1981 [11]),
Delixop, Mikhevic (Zakharop, 1981[11]), Wischmeier (1959 [21], 1974
[22]),...
Vào năm 1958, Wischmeier và Smith đã đưa ra phương trình mất đất
vật và nhân tố bảo vệ đất thành nhân tố thực bì. Việc áp dụng phương trình
mất đất biến đổi trở nên đơn giản hơn. Tuy nhiên, mục tiêu sử dụng phương
trình chủ yếu vần là đất nông nghiệp. Khi áp dụng cho các loại rừng thì kết
quả có độ chính xác không cao. Vì thế, tùy vào điều kiện cụ thể mà có những
điều chỉnh phù hợp.
- Nghiên cứu tác động của rừng cây cao su đến môi trường đất.
Cây cao su có tên gốc gọi là cây Hê vê (Hévéa), mọc dọc theo sông A-
ma-zôn ở Nam Mỹ. Đây là một trong những cây công nghiệp quan trọng về
5
kinh tế nên được phát triển ở nhiều quốc gia, là nguồn nguyên liệu chiến lược
cho nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống.
Ở Trung Quốc từ đầu những năm 1950 đã có nhiều ha rừng tự nhiên
được thay thế bởi các đồn điền cao su. Chúng không chỉ được phát triển trên
đất đỏ bazan màu mỡ, ở những nơi bằng phẳng với khí hậu ấm áp mà còn
được phát triển trên cả những loại đất có độ phì kém hơn ở những vùng dốc
với khí hậu lạnh hơn. Kết quả nghiên cứu của WANG Xianpu cho thấy rừng
cao su ở Trung Quốc có khả năng bảo vệ đất và nước tốt hơn nhiều một số
loại hình rừng trồng thuần loài khác.
Ailen et al.,(1982) khi nghiên cứu về tác động môi trường rừng cao su
ở bán đảo phía Tây Singapo nhận thấy những hiệu quả thấp về giữ nước và
bảo vệ đất của rừng trồng cao su. Ông kết luận rằng quá trình trồng cao su sẽ
không tránh khỏi sự gia tăng dòng chảy mặt và xói mòn đất. Xói mòn đất
càng nghiêm trọng hơn khi người trồng cao su tiến hành phát dọn sạch thực bì
dưới tán rừng.
Một số tác giả nghiên cứu về khả năng bảo vệ môi trường của rừng cao
su như: Gao Suhua (1985), Wu Eryu (1984), Chen Yongshan (1982) đã điều
tra hiệu quả bảo vệ đất và nước của các đồn điền cao su ở Trung Quốc.
Nhìn chung các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới chủ yếu là nghiên cứu
sơ bộ đặc điểm hệ sinh thái rừng cao su và chức năng sinh thái của chúng, mà
một số tác động khác của hệ sinh thái này chưa được làm rõ.
đất ở Việt Nam như sau ( dẫn theo Phạm Văn Điển, 2006 [3]):
+ Quá trình xói mòn đất ở Việt Nam có những đặc điểm khác biệt so
với các miền ôn đới, hàn đới. Ở nước ta, hiện tượng xói mòn theo bề mặt gây
tác hại to lớn hơn cả, tiếp sau là xói mòn theo dòng, còn xói mòn do gió chỉ
hoạt động ở một số nơi có điều kiện thích hợp như ở Tây Nguyên và dải đồng
bằng hẹp ven biển miền Trung. Do vậy, hướng nghiên cứu và các biện pháp
chống xói mòn đất ở nước ta chủ yếu nhằm vào quá trình xói mòn bề mặt.
7
+ Việc chống xói mòn ở Việt Nam phải mang đặc điểm riêng của miền
nhiệt đới ẩm, chứ không theo khuôn mẫu của các nước Âu, Mỹ.
+ Cường độ xói mòn đất Nông nghiệp ở Việt Nam rất mạnh (150 - 200
tấn/ ha/ năm), song các biện pháp chống xói mòn còn rất thô sơ và chưa được
triển khai rộng rãi. Nhận định này của tác giả cơ lẽ hơi phiến diện, vì lượng
đất xói mòn 150 - 200 tấn/ ha/ năm chỉ xảy ra ở một số nơi có độ dốc lớn, đất
có kết cấu không tốt, nghèo mùn, thảm thực vật trơ trụi, chứ không thể là
lượng đất xói mòn bình quân ở nước ta.
Từ đầu những năm 1990, với sự sát nhập vào mạng lưới Nghiên cứu
Đất dốc Châu Á của tổ chức Nghiên cứu Quản lý Đất Quốc tế ( IBSRAM),
nhiều nghiên cứu định vị đã được triển khai ở các tỉnh phía Bắc và Tây
Nguyên. Các ô đo đếm xói mòn được thiết kế thống nhất, việc quan trắc tiến
hành lâu dài và có hệ thống. Tiêu biểu là một số công trình: Công trình của
Bùi Quang Toản (1991), “ Một số vấn đề về nương rẫy ở Tây Bắc và phương
hướng sử dụng”; Công trình nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ (1979, 1983,
1984, 1990) về xói mòn đất nông nghiệp Tây Nguyên và các nhân tố ảnh
hưởng tới xói mòn;…
Năm 1999, Phạm Văn Điển đã nghiên cứu đặc điểm thủy văn của một
số thảm thực vật rừng làm cơ sở cho việc xây dựng tiêu chuẩn rừng giữ nước
vùng xung yếu thủy điện Hòa Bình. Bằng những nghiên cứu cụ thể, tác giả đã
đưa ra được tiêu chuẩn để lớp phủ thực vật bắt đầu có giá trị giữ nước được
viết dưới dạng biêu thức: U = [(TC + CP).X / S] ≤ 53,75. Các giá trị của tổng
quan đến đề tài nghiên cứu, ta có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
- Trên thế giới, việc nghiên cứu tác động của rừng trồng nói chung và
rừng Cao su nói riêng tới môi trường đất đã có lịch sử lâu dài. Nhưng các kết
quả nghiên cứu đều cho thấy chưa có sự khác biệt rõ ràng giữa rừng trồng
Cao su với các loại rừng khác đối với đất.
- Ở Việt Nam, cây Cao su có đặc điểm sinh thái tương đối phù hợp, là
cây có triển vọng phát triển kinh tế cao. Tuy nhiên, những tác động đến môi
9
trường của rừng trồng Cao su, đặc biệt là môi trường đất còn chưa được làm
rõ và có nhiều tranh luận đưa ra: Một số người cho rằng rừng trồng Cao su có
hiệu quả tích cực với môi trường, nhưng một số khác lại khẳng định rừng Cao
su có khả năng bảo vệ đất, cải thiện độ phì đất và giữ nước kém,... Vì vậy,
phát triển cây Cao su một cách ồ ạt ở nước ta có thể dẫn đến những tác động
xấu cho môi trường đất đai trên địa bàn canh tác. Đây chính là yêu cầu, đòi
hỏi cấp thiết của thực tiễn trong kinh doanh, trồng rừng Cao su trên địa bàn
nhiều tỉnh. Đề tài: “Nghiên cứu thành phần vật chất xói mòn ở rừng cao su tại
Hương Khê – Hà Tĩnh” được thực hiện nhằm cung cấp thêm các thông tin về
thành phần và lượng các chất xói mòn, lượng đất xói mòn. Trên cơ sở đó đề
xuất được các giải pháp kỹ thuật làm giảm thiểu lượng đất, lượng chất dinh
dưỡng bị mất do xói mòn nhằm phát triển cây Cao su tại khu vực và các địa
phương khác có điều kiện tương tự.
10
CHƯƠNG 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được thành phần, hàm lượng các chất trong vật chất xói mòn
tại các lâm phần Cao su, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp giảm xói
mòn đất.
- Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu lượng chất
Khê, Hà Tĩnh.
c. Nguồn số liệu về chế độ mưa được thu thập từ:
+ Trạm quan trắc thủy văn của huyện.
+ Nông trường Hương Long và Nông trường Phan Đình Phùng: đo bằng
bình đo mưa ở vị trí lân cận khu thí nghiệm
d. Phương pháp bố trí thí nghiệm ( bãi đo đếm xói mòn)
Từ thực tiễn phân tích các đặc điểm khí hậu thủy văn và điều kiện địa
hình của khu vực trồng Cao su, đề tài đã lựa chọn phương án nghiên cứu thiết
lập các bãi đo xói mòn như sau:
Bãi đo đếm hình chữ nhật có diện tích 240m
2
với kích thước :
+ Chiều rộng: 12m theo đường đồng mức, chứa đủ 4 hàng cây.
+ Chiều dài: 20m vuông góc với đường đồng mức.
Đường viền cô lập bãi đo đến được làm bằng chất dẻo.
Máng được làm bằng tôn với kích thước là: 1200×20×20 cm, trên mỗi
máng lắp đặt một đồng hồ đo dòng chảy và có lưới chắn trước đồng hồ.
Việc thiết kết máng thu nước như trên nhằm mục đích là cho phép đo
lượng nước chảy ra từ tất cả cửa thoát nước trong thời gian thí nghiệm để tính
tổng lượng nước chảy bề mặt thực tế.
12
Hình 2.1. Ô thí nghiệm và bố trí máng thu nước
12m
20m
13
14
Nước chảy bề mặt xuống
Cửa thoát
nước
12m
tán trung bình .
+ Độ tàn che của tầng cây cao (TC) được xác định theo phương pháp 100
điểm trên các tuyến điều tra.
+ Cây bụi, thảm tươi:
Độ che phủ, chiều cao trung bình của cây bụi thảm tươi (CP %) ở các
bãi đo được xác định thông qua điều tra ô dạng bản 4m
2
, tổng diện tích ô dạng
bản chiếm 10% diện tích bãi đo.
Phương pháp điều tra độ tàn che và độ che phủ của cây bụi thảm tươi
được trình bày cụ thể trong phụ lục 03 và 04.
f. Thu thập lượng đất xói mòn
Lượng đất xói mòn được thu thập từ các máng một lần/ tháng (thường
vào cuối tháng), sau đó đất được phơi khô và đem cân.
2.4.2. Phương pháp nội nghiệp
a. Thống kê và xác định các nhân tố điều tra cấu trúc rừng bằng những
phương pháp nghiên cứu trong điều tra rừng.
b. Xử lý mẫu, phân tích đất tại phòng thí nghiệm bằng phương pháp
truyền thống.
15
+ Xử lý mẫu: Các mẫu đất sau khi đem về được phơi khô trong điều kiện
tự nhiên, nhặt bỏ rễ cây, đá lẫn, kết von...Sau đó, tiến hành giã nhỏ và rây qua
rây có đường kính 1 mm.
+ Phân tích mẫu: Sau khi mẫu đất được xử lý xong, tiến hành phân tích
để xác định:
- Thành phần cơ giới bằng phương pháp ống hút Rôbinsơn.
- Hàm lượng mùn trong đất bằng phương pháp Tjurin.
- Xác định Canxi, Magie trao đổi bằng Trilon B (EDTA).
- Đạm, lân, kali dễ tiêu ( NH
4
2
O dễ tiêu)
trong dung dịch nước đã lọc của sản phẩm xói mòn rừng trồng Cao su tại
Nông trường Hương Long, Hà Tĩnh.
- Xác định Canxi, Magie trao đổi bằng Trilon B (EDTA).
- Đạm, lân, kali dễ tiêu ( NH
4
+
, P
2
O
5
, K
2
O) bằng phương pháp so màu.
e. Xác định lượng đất xói mòn.
Lượng đất xói mòn được tính theo công thức:
240
1010
34
axx
A
−
=
(tấn/ha/năm) (2 – 1)
Trong đó: A: lượng đất xói mòn của 1ha/năm.
α : lượng đất xói mòn xác định được từ một bãi đo trong một
năm (Kg)
10
4
o
, địa hình này chủ yếu
được khai thác để trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây hoa màu.
- Dạng địa hình sườn dốc với các dãy đồi có độ dốc từ 15 – 25
o
, được
sử dụng để trồng cây công nghiệp lâu năm, phát triển mô hình nông lâm kết
hợp.
- Dạng địa hình dốc với các dãy đồi cao và núi thấp, có độ dốc trên 25
o
,
đây là vùng bị chia cắt nhiều, đặc biệt có những nơi đã mất thảm thực vật che
phủ.
Nằm trong địa bàn huyện, vùng trồng Cao su của hai nông trường cũng
mang đặc điểm địa hình của khu vực. Nhưng chúng cũng có những khác biệt:
- Nông trường Hương Long có địa hình rất phức tạp, có nhiều dãy đồi
cao và núi thấp. Độ dốc trung bình nằm trong khoảng 15 - 25
o
, nhiều khu vực
có độ cao lớn hơn 35
o
, lớp thảm thực vật hầu như không có. Có thể nói đây là
một yếu tố gây bất lợi cho quá trình trồng và chăm sóc cây Cao su.
17
- Trong khi đó nông trường Phan Đình Phùng có địa hình đơn giản hơn,
độ dốc trung bình nằm trong khoảng 12 - 20
o
, lớp thảm thực vật đa dạng, đó
là điều kiện tốt cho phát triển cây công nghiệp, nông nghiệp, ăn quả…
3.3. Khí hậu thủy văn
50% tổng lượng mưa cả năm. Mưa tập trung vào một giai đoạn, cường độ
mưa lớn, lượng mưa nhiều sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình xói mòn
đất. Mưa nhiều sẽ làm cho độ ẩm của đất tăng, do đó sẽ làm giảm khả năng
18
hút nước của đất. Mưa càng lớn thì dòng chảy mặt càng lớn và khả năng bào
mòn bề mặt đất của dòng nước càng mạnh.
c. Lượng bốc hơi bình quân năm
- Lượng bốc hơi bình quân trên năm: 899 mm.
- Lượng bốc hơi lớn nhất/ tháng: 106 mm.
- Lượng bốc hơi nhỏ nhất/ tháng: 46 mm.
d. Độ ẩm không khí
- Độ ẩm trung bình năm: 81,22%.
- Độ ẩm trung bình tháng cao nhất: 89%.
- Độ ẩm trung bình tháng thấp nhất: 71,33%.
Thời kỳ độ ẩm thấp nhất là tháng 6 và tháng 7 ứng với thời kỳ này là
gió Tây khô nóng ở mức độ cao.
e. Nắng
- Số giờ nắng trung bình năm: 1196 giờ/năm.
- Số giờ nắng tháng cao nhất: 177 giờ/tháng.
- Số giờ nắng tháng thấp nhất: 29 giờ/tháng.
3.4. Đất
- Theo tài liệu cung cấp của nông trường Hương Long: Đất trồng Cao
su của nông trường chủ yếu là đất Feralit hình thành trên đá mẹ cuội sỏi kết
nhiều thạch anh, tầng đất trung bình đến mỏng, đá lẫn nhiều đến rất nhiều (40 -
80 %), đất tầng mặt mỏng đến trung bình (5 - 20 cm). Ngoài ra còn có đất Feralit
hình thành trên đá phiến sét, tầng đất trung bình, đá lẫn từ trung bình đến nhiều
(20 -50 %). Tỷ lệ sét vật lý dao động trong khoảng từ 28,4 – 58,9%; tỷ kệ kết
von, đá sỏi chủ yếu là từ 30 – 60%, có nơi lên đến 80%. Hàm lượng mùn của
khu vực dao động trong khoảng 1,9 – 5,04%, đất khá nghèo mùn.
- Theo tài liệu cung cấp của nông trường Phan Đình Phùng: Đất trồng
Nam ban hành năm 2004; Tham khảo quy trình trồng cây Cao su vùng Miền
20
núi phía Bắc của Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam ban hành năm 2010
các nông trường đã áp dụng kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng Cao su như sau:
- Thiết kế hàng trồng: Đất dốc < 8% , trồng thẳng hàng theo hướng Bắc
Nam. Đất dốc ≥ 8%, trồng theo đường đồng mức, tạo bậc thềm 1m và trồng
cây Cao su ở giữa bậc thềm.
- Mật độ và khoảng cách trồng: 555 cây/ha (6 x 3m).
- Thời vụ trồng: từ 15/9 đến 31/10.
- Kỹ thuật trồng: Trồng rừng Cao su bằng tum bầu 2 - 3 tầng lá ổn định.
Tiêu chuẩn của tum bầu có tầng lá: chồi ghép có ít nhất 2 tầng lá ổn định,
khỏe; bầu đất không bị vỡ, cây không bị long gốc.
+ Hố có kích thước dài 70cm, rộng 50cm, sâu 60cm, đáy hố 50 x
50cm. Khi đào hố phải để riêng lớp đất mặt và lớp đất đáy; trên đất dốc thì để
riêng lớp đất đáy về phía dưới dốc. Đào hố để ải trước khi bón phân và lấp hố
khoảng 15 ngày.
+ Bón lót: Phân lân nung chảy 300g/hố, phân chuồng ủ hoai
10kg/hố.
+ Lấp hố: được thực hiện trước khi trồng ít nhất 5 ngày. Lấp lớp
đất mặt đến nửa hố. Sau đó trộn đều phân hữu cơ, phân lân với lớp đất mặt
xung quanh để lấp đầy hố. Cắm cọc ở giữa tâm hố để đánh dấu điểm trồng
cây.
+ Trước khi trồng cần dọn sạch cỏ, rễ cây… xung quanh hố, sau
đó dùng cuốc để móc đất trong hố lên tới độ sâu bằng chiều dài rễ của cây
tum. Đặt tum thẳng đứng, mắt ghép quay về phía hướng gió chính, mí dưới
của mắt ghép ngang với mặt đất. Lấp lại hố bằng phần đất vừa lấy lên, dậm kỹ
để đất bám chặt vào tum. Sau cùng dùng đất tơi xốp phủ kín cổ rễ ngang mí
dưới mặt ghép.
+ Trồng dặm lại những cây bị chết bằng tum bầu 2 - 3 tầng lá ổn
định, vào thời điểm sau trồng chính 20 ngày.
4.1.1. Chế độ mưa
a. Lượng mưa và cường độ mưa
Nguồn nước của đất là do mưa. Mưa là một trong những nhân tố có tác
động trực tiếp đến quá trình xói mòn; đồng thời ảnh hưởng đến cấu trúc,
ngoại mạo và động thái phát triển của lớp thảm thực vật. Lượng mưa là chỉ
tiêu dùng để biểu thị mưa nhiều hay ít, là chiều cao của lớp nước mưa đo
được ở ống đong mưa theo quy định chung sau mỗi trận mưa trong một đơn
vị thời gian, nó phản ánh mưa lớn hay nhỏ.
Do cường độ mưa thay đổi và khó xác định, nên cần sử dụng chỉ tiêu
cường độ mưa bình quân (I
bq
). Cường độ mưa bình quân phản ánh mức độ
mưa to hay nhỏ của từng trận mưa hay trong một khoảng thời gian mưa xác
định. Cường độ mưa bình quân trên phút (I
bq
, mm/phút) được xác định bằng
tỷ số giữa lượng mưa (mm) và thời gian mưa (phút), sau đó quy đổi ra cường
độ mưa bình quân trên giờ (I
bq
, mm/h).
Qua thu thập số liệu (số liệu mưa được lấy từ trạm khí tượng thủy văn
Chu Lễ, Hương Khê – Hà Tĩnh), đề tài tổng hợp được bảng phân bố lượng
mưa và cường độ mưa tại khu vực nghiên cứu tại phụ lục 02. Lượng mưa và
cường độ mưa bình quân năm được trình bày tại bảng sau:
Bảng 4.1. Lượng mưa và cường độ mưa bình quân năm
Năm
Lượng mưa
(P, mm)
Cường độ mưa bình quân
(I
trong năm tại bảng 4.2.
Bảng 4.2. Phân bố lượng mưa và số ngày mưa các tháng trong năm
24
Tháng
2008 2009 2010 Trung bình
Lượng
mưa
(mm)
Lượng
mưa
(mm)
Lượng
mưa
(mm)
Số
ngày
mưa
Lượng
mưa
(mm)
Số ngày
mưa
1 51 41,1 61,7 17 49,2 15
2 35,2 5,8 36,7 11 42,0 9
3 62,4 120,3 6,6 8 74,1 13
4 141,8 220,2 76,5 12 147,0 14
5 58,7 374,8 108,3 9 214,0 14
6 78,1 44,6 149,1 5 84,8 7
7 123,9 142,2 217,1 9 142,6 9
8 227 221,1 530,1 20 481,3 16
25