BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LÊ VĂN HƯƠNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN VẬT LIỆU CHÁY CỦA
RỪNG THÔNG BA LÁ (Pinus kesyia) LÀM CƠ SỞ
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHÁY TẠI
VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP-NÚI BÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Đồng Nai, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LÊ VĂN HƯƠNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN VẬT LIỆU CHÁY CỦA
RỪNG THÔNG BA LÁ (Pinus kesyia) LÀM CƠ SỞ
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHÁY TẠI
VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP-NÚI BÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHÙNG VĂN KHOA
Đồng Nai, 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.2 – Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu
2.2.1 – Quan điểm
2.2.2 – Phương pháp luận
2.4.1 – Phương pháp kế thừa số liệu thứ cấp
2.4.2 – Phương pháp điều tra hiện trường
2.4.3 - Phương pháp xử lý số liệu
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1- Phân chia các mùa trong năm
Bảng 4.1 – Thống kê các vụ cháy rừng của Lâm Đồng từ 1996-2009
Bảng 4.2 – Số liệu khí tượng ở trạm Đà Lạt bình quân trong 20 năm, từ
năm 1978-1998
Bảng 4.3 – Tổng hợp các nguyên nhân gây cháy rừng ở VQG Bidoup – Núi
Bà
Bảng 4.4 – Hiện trạng các trạng thái rừng ở VQG Bidoup-Núi Bà
Bảng 4.5 - Thành phần các loài thực vật dễ bắt cháy
Bảng 4.6 - Các chỉ tiêu đặc trưng của rừng trồng theo cấp tuổi và lập địa
trên các tiểu khu khác nhau
VQG Vườn Quốc gia
VLC Vật liệu cháy
PCCCR Phòng cháy, chữa cháy rừng
QĐ Quyết định
Hình 4.3 - Mô hình hóa mối tương quan giữa khối lượng vật liệu khô m1
và khối lượng vật liệu tươi m2 đối với rừng trồng Cổng Trời: m2 = exp (a
+ b*m1 2), a = 1,053883 , b = -0,14732
Hình 4.4 - Mô hình hóa mối tương quan giữa khối lượng vật liệu khô m1
và tổng khối lượng vật liệu M đối với rừng trồng Đưng K’nớ: M = (a +
b*lnm1)^2, a = 1,74026, b = 0,6926
Hình 4.5 - Mô hình hóa mối tương quan giữa khối lượng vật liệu khô m1
và tổng khối lượng vật liệu M đối với rừng tự nhiên Bidoup: M = exp(a +
b*lnm1), a = 1.1868, b = 0.55254
Hình 4.6 - Mô hình hóa mối tương quan giữa khối lượng vật liệu tươi m2
và tổng khối lượng vật liệu M đối với rừng trồng Bidoup: M = sqrt(a +
b*m2^2), a = 5,2131, b = 1,71263
Hình 4.7 - Mô hình hóa mối tương quan giữa khối lượng vật liệu tươi m2
và tổng khối lượng vật liệu M đối với rừng trồng Bidoup: M = sqrt(a +
b*m2^2), a = 2,41762, b = 1,94021
vi
Hình 4.8 Mô hình hóa mối tương quan giữa khối lượng vật liệu khô m1 và
hệ số khả năng bắt cháy K ở rừng trồng Cổng Trời: K = m1 / ( A + B*m1 )
, A = 2,902691 , B = 0,46979
Hình 4.9 Mô hình hóa mối tương quan giữa khối lượng vật liệu khô m1 và
hệ số khả năng bắt cháy K ở rừng tự nhiên Bidoup: K = sqrt[1/(a +b *
lnm1)], a = 11,64198 , B = - 8,71205
Hình 4.10 - Mô hình hóa mối tương quan giữa khối lượng vật liệu tươi m2
và hệ số khả năng bắt cháy K ở rừng trồng Cổng trời: , A = 0,38386 , B =
-0,08532
Hình 4.11 - Mô hình hóa mối tương quan giữa khối lượng vật liệu tươi m2
và hệ số khả năng bắt cháy K ở rừng tự nhiên Bidoup: K = cubrt(a +
b/m2^3), a = 0,03453 , b = 0,1071
Hình 4.12 - Mô hình hóa mối tương quan giữa thời gian cháy Tc và khối
lượng vật liệu khô m1ở rừng trồng Đưng K’nớ: Tc = exp(a + b/m1), a =
Vườn quốc gia (VQG) Việt Nam trong đó có VQG Bidoup-Núi Bà.
VQG Bidoup-Núi Bà nằm trong hệ thống các VQG Việt Nam được
Thủ tướng Chính phủ thành lập theo Quyết định số 1240/QĐ-TTg ngày 18
tháng 11 năm 2004. VQG Bidoup-Núi Bà có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, phòng hộ đầu nguồn, cung cấp dịch vụ
môi trường, phát triển du lịch, bảo vệ an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế
xã hội của địa phương. Với vùng khí hậu mang tính đặc thù của vùng Nam
Tây Nguyên với mùa khô kéo dài, cháy rừng là nguy cơ thường trực đối với
VQG Bidoup-Núi Bà.
Nghiên cứu về sự cháy và cháy rừng đã được nhiều nhà khoa học trong
nước và quốc tế quan tâm, nhiều kết quả nghiên cứu đã và đang được áp dụng
trong thực tiễn để phòng cháy, chữa cháy rừng, tuy nhiên khi cháy rừng xảy
ra hầu như con người vẫn chưa thể kiểm soát được và hoàn toàn bị động. Vì
vậy, việc nghiên cứu về thành phần vật liệu cháy và mối quan hệ giữa chúng
làm cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp phòng cháy phù hợp chủ động
được coi là hướng đi tối ưu về phòng cháy, chữa cháy rừng hiện nay.
Những năm gần đây, mặc dầu đã rất cố gắng trong việc quản lý lửa
rừng, tuy nhiên, hàng năm trên địa bàn VQG Bidoup-Núi Bà đã xẩy ra hàng
chục vụ cháy do nhiều nguyên nhân khác nhau. Kết quả nghiên cứu của đề tài
không những có ý nghĩa trong việc phòng cháy, chữa cháy đối với VQG
2
Bidoup-Núi Bà mà còn có khả năng ứng dụng trong các hệ sinh thái lửa rừng
khác nhau đối với khu hệ rừng thông ba lá tại Lâm Đồng.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 – Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Kết quả nghiên cứu của Weitmann (1918) về mối quan hệ giữa hàm lượng
nước của VLC với khả năng cháy dẫn đến kết luận như sau: Khi hàm lượng
nước của VLC>= 25% thì không phát sinh cháy rừng, còn nếu hàm lượng
’ là nhiệt độ không khí tối cao lúc 13h đo ở nhiệt biểu ướt;
- n là số ngày không mưa kể từ ngày có trận mưa cuối cùng a<5mm
Phương pháp dự báo cháy rừng tổng hợp của V.G Nesterop công bố năm
1939 đã được nhiều tác giả Việt Nam và thế giới vận dụng và cải tiến để lập
biểu dự báo cấp cháy rừng phổ biến nhất cho đến hiện nay.
4
K.P. Davis (1959) đã tiến hành thiết lập mô hình toán học để phục vụ cho
công tác dự báo cháy rừng như sau:
y = b0 + b1*x1 + b2*x2 + b3*x3 + b4*x4
Trong đó:
- x1 là điều kiện vật liệu cháy tinh (condition of lesser vegetation);
- x2 là chỉ số tích lũy (build-up index) của vật liệu cháy tinh;
- x3 là độ ẩm của vật cháy(fuel moisture);
- x4 là vận tốc gió (wind velocity);
- y là chỉ số đốt cháy (burning index).
Căn cứ vào kết quả tính toán từ chỉ số đốt cháy y sẽ phân ra được 5 cấp dự
báo cháy rừng như sau:
• Cấp 1(class 1): rất thấp (very low), y xấp xỉ 1,
• Cấp 2 (class 2): thấp (low), y từ 2 đến 5,
• Cấp 3 (class 3): trung bình (medium), y từ 6 đến 17,
• Cấp 4 (class 4): cao (high), y từ 18 đến 45,
• Cấp 5 (class 5): rất cao (extreme), y từ 46 đến 100.
Năm 1978, các nhà khoa học của Mỹ về quản lý lửa rừng đã đề xuất một
hệ thống đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng, đã và đang được áp dụng
trong việc quản lý lửa rừng hiện nay. Mức độ nguy hiểm của cháy rừng được
chia làm 4 pha: Nguy cơ cháy, khả năng bén lửa, lan tràn và thải nhiệt lượng.
Bốn pha chịu ảnh hưởng chi phối bởi vật liệu cháy, các nhân tố khí tượng và
độ dốc (Lửa rừng, Giáo trình Đại học Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp, 2002)
Kết quả nghiên cứu của L.Trabaud (1979) thực hiện ở một khu rừng dễ
cháy tại miền Nam nước Pháp đã xác định được nhiệt độ tối đa của vùng vật
Khi nghiên cứu về bản chất của sự cháy và các nhân tố ảnh hưởng đến quá
trình cháy, V.Bêlốp (1982) đã xác định được thành phần hóa học của vật liệu
cháy, hàm lượng các nguyên tố chính là C, H, O, N và các chất khoáng tham
gia vào quá trình cháy của một số loài cây vùng ôn đới như Thông, Dẻ, Bạch
dương
Năm 1991, dự án VIE 86/028 của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực
Liên Hợp Quốc ( FAO) về phòng chống cháy rừng tại Việt Nam ở hai tỉnh
Nghệ An và Lâm Đồng, các chuyên gia của dự án đã mở lớp tập huấn về
phòng chống cháy rừng thông ba lá (Pinus kesiya Royle ex Gordon). Nội
dung tập trung vào việc hướng dẫn kỹ thuật dùng lửa để xử lý thảm cỏ khô để
phòng cháy đối với rừng thông ba lá tự nhiên.
Xử lý VLC theo phương pháp đốt trước (đốt chủ động) làm giảm VLC
cũng đã được áp dụng nhiều nơi trên thế giới. Theo FAO (1991) định nghĩa
về đốt trước có kiểm soát là “Việc gây cháy có kiểm soát lớp thảm thực vật
trong tình trạng tự nhiên hay đã bị biến đổi, dưới các điều kiện môi trường
xác định mà cho phép lửa bị giới hạn trong một khu vực nhất định và trong
cùng một lúc có cường độ nóng và tốc độ lan truyền đúng theo yêu cầu nhằm
đạt được các mục tiêu quản lý nguồn tài nguyên theo kế hoạch”
Theo Wang Mingzu et al. (2006), có sự liên quan của cháy rừng, như tốc
độ cháy, đến khối lượng vật liệu cháy, tốc độ gió, nhiệt độ và lượng mưa của
các khu rừng tranh, lau sậy tại Khu bảo tồn đất ngập nước tự nhiên Zhalong,
tỉnh Heilongjiang, Trung Quốc; nhưng tác giả chưa có các đánh giá về mối
tương quan giữa khối lượng VLC tươi và khô để dự báo khả năng phát cháy
của rừng.
Nghiên cứu về quá trình cháy trong rừng bạch đàn, Phil Cheney (1996)
cũng đã cho thấy tầm quan trọng của việc giảm khối lượng VLCtrong việc
giảm quá trình lan truyền của cháy rừng. Tác giả đã xác định mối quan hệ
7
giữa thời gian cháy với khối lượng VLC trong rừng bạch đàn, trong đó 3 nhân
tố quan trọng là kích cỡ đường kính của khối vật liệu cháy, độ lèn chặt và độ
nhau đặc trưng cho số tháng khô, tháng hạn, số tháng kiệt trong năm:
X= S;A;D
Trong đó:
- X là chỉ số khô hạn;
- S là số tháng khô, nghĩa là các tháng có lượng mưa bình quân P
s
mm
<= 2t;
- t là nhiết độ bình quân của tháng khô.
- A là số tháng hạn, nghĩa là các tháng có lượng mưa bình quân P
a
mm
<= t;
- t là nhiết độ bình quân của tháng hạn.
- D là số tháng kiệt, nghĩa là với các tháng có lượng mưa bình quân
P
d
mm
<= 5mm
Theo Phạm Ngọc Hưng (2001) đã đề xuất phương pháp dự báo dài hạn
theo chỉ số ngày khô hạn liên tục không mưa (H) hoặc mưa < 5mm. Theo
ông, qua nghiên cứu phân tích mối tương quan giữa chỉ tiêu tổng hợp P của
Nestorop với chỉ số ngày khô hạn liên tục không mưa (H) cho thấy mối quan
hệ giữa P và H có tương quan rất chặt chẽ. Từ kết quả phân tích tương quan
giữa P và H, TS. Phạm Ngọc Hưng đã đề xuất công thức dự báo cháy rừng
đơn giản như sau:
H
i
= K(H
i-1
biện pháp kỹ thuật phát dọn thảm cỏ, kỹ thuật đốt VLC, cách thức tổ chức
10
thực hiện để áp dụng cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng thông ba lá
trên toàn tỉnh Lâm Đồng. Có thể nói từ khi áp dụng biện pháp đốt dọn VLC
đối với rừng non trong giai đoạn chăm sóc và nuôi dưỡng cũng như rừng tự
nhiên thông ba lá lớn, các vụ cháy rừng trong toàn tỉnh giảm đáng kể, mức độ
thiệt hại do cháy rừng gây ra không còn lớn như trước đây.
Từ kết quả nghiên cứu của Ts. Phó Đức Đỉnh và những kết quả tổng kết
thực tiễn trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng giai đoạn 1995-2006, kết
hợp với các công trình nghiên cứu liên quan khác. Chi cục Kiểm Lâm Lâm
Đồng đã đề xuất UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành quy định về kỹ thuật làm
giảm VLC trong phòng cháy rừng thông Lâm Đồng (QĐ số 31/2007/QĐ-
UBND ngày 10/9/2007). Bản quy định này là cơ sở cho việc xây dựng và
thực hiện phương án phòng cháy chữa cháy rừng hiện nay ở Lâm Đồng. Tuy
nhiên trong quy định này cũng còn một số hạn chế nhất định như xác định đối
tượng xử lý VLC không căn cứ vào khối lượng thực tế của VLC trên lô rừng
mà xác định theo năm trồng hoặc chu kỳ xử lý trước đó, chưa có cơ sở định
lượng cho mức độ cháy hết của đám vật liệu hay thời điểm đốt phù hợp trong
ngày…
Khi nghiên cứu vai trò sinh thái của lửa rừng, một số tác giả đã cho
rằng: lửa rừng là một nhân tố sinh thái đặc biệt. Theo Phùng Văn Khoa
(2002), lửa rừng là một nhân tố sinh thái không liên tục, có thể tồn tại độc lập
ngoài hệ sinh thái rừng, có mối quan hệ giữa lửa-con người-rừng và đi đến kết
luận lửa là một nhân tố sinh thái tàn khốc.
Lê Đình Thơm (2009) cho rằng kết quả về mối liên hệ giữa độ ẩm VLC
với chỉ số khí tượng tổng hợp trong đó có hệ số k thay đổi theo lượng mưa; từ
đó tác giả đã đề xuất thay đổi bậc thang dự báo cháy rừng cho khu vực Bắc
Trung Bộ (a > 7 mm).
11
Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ngày nay dựa vào các chỉ số tổng
Tại các tiểu khu: 26; 56;58;76;78;79; 100; 102; 103; 125;129;130 của
VQG Bidoup-Núi Bà thuộc huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng; TK 99 Ban
quản lý rừng phòng hộ Đầu nguồn Đa Nhim – Huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm
Đồng; tiểu khu: 148B Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Nung Đà Lạt Lâm
Đồng;
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về thành phần và mối quan hệ của VLC
dưới tán rừng trồng và rừng tự nhiên thông ba lá mà không đi sâu nghiên cứu
13
tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình cháy của VLC như địa hình, khí
hậu, lương mưa, độ ẩm vật liệu….
Đối với rừng tự nhiên thông ba lá, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu loại
rừng Th4.Ntb là loại rừng chiếm đa số tại VQG Bidoup-Núi Bà;
2.2 – Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu.
2.2.1 – Quan điểm
Sự cháy chỉ có thể xảy ra khi có sự kết hợp đồng thời của ba nhân tố cơ
bản tạo thành tam giác cháy là ôxy, VLC và nguồn nhiệt gây cháy. Ôxy là
nhân tố không thể kiểm soát vì luôn tồn tại trong không khí ở ngưỡng từ 21-
23%; việc kiểm soát nguồn nhiệt gây cháy đã không hiệu quả do các hoạt
động sử dụng lửa của con người và thiên tai. Vì vậy, VLC là đối tượng cần
quan tâm nghiên cứu trong từng điều kiện cụ thể khác nhau để hạn chế đến
mức thấp nhất nguy cơ cháy rừng cũng như thiệt hại khi cháy rừng xảy ra. Để
nghiên cứu VLC liên quan đến cháy rừng, đề tài sẽ tập trung vào việc nghiên
cứu thành phần và mối quan hệ của VLC là một trong ba nhân tố tạo nên cháy
rừng ở những địa điểm được lựa chọn qua đó đề ra các giải pháp phòng cháy
phù hợp.
2.2.2 – Phương pháp luận
Từ tổng quan nghiên cứu về cháy rừng cho thấy, có ba phương pháp dự
báo cháy rừng và từ kết quả của dự báo để đề xuất các giải pháp cho phòng
cháy khác nhau. Phương pháp thứ nhất là phát triển mô hình dự đoán mức độ
bắt cháy của VLC phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hàm lượng nước chứa
trong vật liệu, ẩm độ của vật liệu theo mùa, khối lượng VLC, thành phần và
cấu trúc của VLC, khả năng chất đống của VLC, các yếu tố tự nhiên như
nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, hướng phơi và các yếu tố khác như loài, mật độ
rừng trồng, thời gian chăm sóc, phương pháp bố trí cây trồng, chủng loại thực
15
bì, thời gian sinh trưởng và vật hậu…; như vậy có rất nhiều biến độc lập phản
ánh khả năng bắt cháy của VLC. Tuy nhiên về mặt thống kê, mô hình dự đoán
biến phụ thuộc (nguy cơ cháy rừng hay khả năng bắt cháy của VLC) dựa trên
nhiều biến độc lập chỉ có ý nghĩa phản ánh mối quan hệ giữa các biến. Vì vậy,
nếu dự đoán biến phụ thuộc từ nhiều biến độc lập thì sai số dự đoán sẽ lớn
hơn rất nhiều so với một hoặc hai biến độc lập.
Đề tài lựa chọn các biến độc lập có thể định lượng, ít bị thay đổi và dễ
kiểm soát để mô hình hóa các mối tương quan giữa chúng nhằm xác định khả
năng bắt cháy của VLC, từ đó đề xuất các giải pháp phòng cháy phù hợp.
Nghiên cứu thảm cỏ dưới tán rừng, định danh, tìm hiểu quá trình sinh
trưởng phát triển của thảm cỏ, phân loại và điều tra khối lượng vật liệu cháy,
tìm hiểu mối tương quan giữa chúng, xác định hệ số khả năng bắt cháy và đề
xuất các giải pháp làm giảm VLC là phương pháp luận của đề tài.
2.3 - Nội dung nghiên cứu
2.3.1- Nội dụng 1: Khảo sát thực trạng các nguyên nhân gây cháy rừng,
xác định đối tượng rừng dễ cháy tại VQG Bidoup-Núi Bà.
2.3.2- Nội dung 2: Điều tra các loài thực vật chủ yếu là nguồn gốc của
VLC và khối lượng trên các kiểu rừng dễ cháy.
2.3.3- Nội dung 3: Xác định hệ số khả năng bắt cháy của vật liệu cháy
(k) và các yếu tố liên quan để làm cơ sở đề xuất giải pháp phòng cháy;
2.3.4- Nội dung 4: Khảo nghiệm một số chỉ tiêu liên quan đến phương
pháp xử lý VLC phục vụ phòng cháy ở các kiểu rừng dễ cháy tại VQG
Bidoup Núi Bà.
2.3.5- Nội dung 5: Đề xuất các giải pháp phòng cháy cho VQG Bidoup-
thường của lâm học và điều tra rừng làm cơ sở cho việc phân tích mối quan
hệ giữa các chỉ tiêu bình quân của lâm phần với sự biến động của thành phần
khối lượng vật liệu cháy.
Thành phần thực vật dưới tán rừng trong ô tiêu chuẩn được xác định theo
những ô dạng bản kích thước 4m
2
(2m*2m). Trong mỗi ô tiêu chuẩn bố trí 5 ô
dạng bản ở bốn góc và 01 ô ở giữa để đo chiều cao và thống kê thành phần
các loài thực vật dưới tán rừng, sắp xếp theo họ và phân chia các loài dễ cháy,
các loài khó cháy, các loài sống lâu năm và hàng năm.
17
VLC được cấu thành từ Vật rụng (lá, thân, cành, quả khô) và thảm thực
vật dưới tán rừng. VLC gồm vật liệu tinh và vật liệu thô. Vật liệu tinh gồm
các thành phần nêu trên nhưng có đường kính của thân, cành khô nhỏ hơn 1
cm. Vật liệu thô gồm các thành phần nêu trên nhưng có đường kính của thân,
cành khô lớn hơn 1 cm (Giáo trình Đại học Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp,
2002). Vật liệu tinh là vật liệu tham gia ngay vào quá trình cháy khi cháy
rừng xẩy ra trong khi đó vật liệu thô chỉ cháy khi cường độ cháy đạt đến một
mức độ nào đó. Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi chỉ
nghiên cứu và phân loại vật liệu tinh ban đầu phục vụ cho công tác phòng
cháy rừng thông ba lá.
Phương pháp xác định khối lượng VLC như sau:
Đặt 36 ô tiêu chuẩn điền hình 1000m
2
(20m*50m) trên diện tích rừng
trồng của 3 cấp tuổi và rừng tự nhiên tương ứng với 3 cấp đất khác nhau. Trên
mỗi ô tiêu chuẩn đặt 9 ô dạng bản theo tuyến song song cách đều để đo đếm
khối lượng vật liệu cháy.
Trên các ô dạng bản 4m
2