đại học quốc gia hà nội
khoa luật
l-ờng thị thu hòa
vai trò của tr-ởng thôn
trong tham gia quản lý nhà n-ớc ở cơ sở
(qua thực tiễn tỉnh bắc kạn)
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2011
đại học quốc gia hà nội
khoa luật
l-ờng thị thu hòa
vai trò của tr-ởng thôn
trong tham gia quản lý nhà n-ớc ở cơ sở
(qua thực tiễn tỉnh bắc kạn)
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà n-ớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01
luận văn thạc sĩ luật học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hoàng Anh
Xu hướng hiện nay của một số nước trong tổ chức quản lý đơn vị quần
cư ở cơ sở
Trưởng thôn và vai trò của trưởng thôn trong tham gia quản lý nhà
nước ở cơ sở
Trưởng thôn: Quy chế tổ chức và hoạt động, những vấn đề chung về
trưởng thôn
Nhiệm vụ của trưởng thôn
1.3.1.
1.
1.3.1. Quyền hạn của trưởng thôn
2
1.3.1. Phương pháp hoạt động của trưởng thôn
3.
1.3.2. Sự khẳng định vai trò của người đứng đầu thôn trong tham gia quản lý
nhà nước ở cơ sở hiện nay
1.3.3. Các yêu cầu đặt ra đối với trưởng thôn trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Chương 2: TRƯỞNG THÔN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Ở CƠ SỞ TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY, QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN (QUA VÍ DỤ
Ở TỈNH BẮC KẠN)
2.1.
Sự đổi mới và hoàn thiện của pháp luật Việt Nam về thôn và trưởng
thôn trong thời gian gần đây
2.2.
Thực tiễn việc tham gia quản lý nhà nước ở cơ sở của trưởng thôn qua ví dụ tỉnh Bắc Kạn
2.2.1. Một vài đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn
2.2.2. Vài nét khái quát và pháp luật điều chỉnh về thôn, trưởng thôn trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn
2.2.2. Vài nét khái quát về thôn và trưởng thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
2.
Kạn
2.2.3. Trưởng thôn tham gia quản lý nhà nước ở cơ: Những thành tựu đạt
được và nguyên nhân
2.2.3. Những đóng góp của đội ngũ trưởng thôn trong tham gia quản lý nhà
1.
nước ở cơ sở trong thời gian qua
2.2.3. Nguyên nhân của các thành tựu trong tham gia quản lý nhà nước của
2.
trưởng thôn ở cơ sở trong thời gian qua
2.2.4. Một số hạn chế và nguyên nhân dẫn tới các hạn chế của đội ngũ trưởng
thôn trong tham gia quản lý nhà nước ở cơ sở
2.2.4. Những hạn chế điển hình của đội ngũ trưởng thôn trong tham gia quản
1.
lý nhà nước ở cơ sở trong thời gian qua
2.4.4. Nguyên nhân dẫn tới hạn chế của trưởng thôn trong tham gia quản lý
2.
nhà nước ở cơ sở trong thời gian qua
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA TRƯỞNG THÔN TRONG THAM GIA QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC Ở CƠ SỞ
3.1.
Sự cần thiết phát huy vai trò của trưởng thôn trong tham gia quản lý
nhà nước ở cơ sở hiện nay
3.1.1. Yêu cầu về phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
3.1.2. Yêu cầu phát huy vai trò của chính quyền cơ sở
3.1.3. Yêu cầu khắc phục những hạn chế trong thực trạng tham gia quản lý
nhà nước ở cơ sở của đội ngũ trưởng thôn
3.2.
99
100
102
104
104
111
120
120
121
124
125
133
135
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thôn, làng, xóm, ấp, bản, sóc, play, tổ dân phố... (trong luận văn này
xin được gọi chung là thôn) là nơi cộng đồng dân cư bền vững, liên kết chặt
chẽ với nhau trong quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, họ tộc và huyết
thống. Ở nước ta, thôn được hình thành cách đây hàng nghìn năm. Trong thời
kỳ phong kiến và Pháp thuộc, nhà nước ta luôn lấy thôn làm đơn vị hành
chính cấp cơ sở. Hiện nay, thôn không phải là một cấp chính quyền mà là tổ
chức tự quản của cộng đồng dân cư nằm dưới xã, phường, thị trấn. Trưởng
thôn, trưởng bản vừa là người đại diện cho nhân dân của thôn vừa đại diện cho
chính quyền xã đứng ra tổ chức quản lý mọi mặt hoạt động trong thôn mình.
Tỉnh Bắc Kạn (vốn thuộc tỉnh Bắc Thái trước đây - Năm 1997 tách
thành hai tỉnh là Bắc Kạn và Thái Nguyên), do có sự chỉ đạo thống nhất của
tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh nên cấp thôn được phục hồi và kiện
chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập riêng đến đội ngũ trưởng thôn
dưới góc độ luật Hành chính và đặc biệt nghiên cứu ở địa bàn một tỉnh miền
núi đặc thù như Bắc Kạn.
3. Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu đề tài tác giả mong muốn:
Thứ nhất, làm rõ các vấn đề lý luận liên quan tới đội ngũ trưởng thôn,
tổng hợp lại các chế định pháp luật điều chỉnh về hoạt động của trưởng thôn.
Thứ hai, phân tích thực trạng hoạt động hiện hành của đội ngũ trưởng
thôn, đặc biệt nêu ra các vấn đề bất cập (đặt trong bối cảnh một tỉnh miền núi
như Bắc Kạn).
Cuối cùng, nêu một số lý giải và kiến nghị nhằm phát huy vai trò quản lý
của trưởng thôn trong thời kỳ hiện nay, đặc biệt tại các tỉnh miền núi ở nước ta.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn lấy thôn, trưởng thôn làm đối tượng nghiên cứu và tập trung
giải quyết một số vấn đề sau:
2
- Xem xét hệ thống văn bản pháp luật về thôn, trưởng thôn nói chung
và đặc biệt ở tỉnh Bắc Kạn nói riêng.
- Xem xét thực trạng hoạt động của Trưởng thôn (thông qua địa bàn
nghiên cứu ở tỉnh Bắc Kạn), từ đó nêu ra những đóng góp to lớn của đội ngũ
trưởng thôn trong sự phát triển chung của tỉnh. Đặc biệt, luận văn nêu ra
những nét hạn chế và bất cập của đội ngũ trưởng thôn - so với yêu cầu tham
gia vào quản lý nhà nước ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay, trong địa bàn một
đơn vị miền núi đặc thù.
- Kiến nghị một số biện pháp nhằm tăng cường vai trò của trưởng thôn
trong hoạt động quản lý nhà nước ở cấp cơ sở.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Mỗi công xã nông thôn bao gồm một số gia đình sống quây quần
trong một khu vực địa lý nhất định và bên cạnh quan hệ địa lý - láng giềng,
quan hệ huyết thống vẫn được bảo tồn và củng cố tạo thành kết cấu làng - họ
rất đặc trưng ở Việt Nam. Người đứng đầu công xã nông thôn là già làng,
trưởng bản - những người đàn ông cao tuổi và có uy tín với nhân dân trong
công xã được hình thành tự phát do mọi người tự suy tôn. Các công việc
chung trong công xã đều thực hiện theo ý của già làng, trưởng bản và họ hoạt
động như một vị thủ lĩnh, trung thành tuyệt đối với lợi ích chung của cộng
đồng. Công xã nông thôn Việt Nam là một loại hình của công xã phương
Đông, trong đó nông nghiệp gắn liền với thủ công nghiệp, làng xóm gắn liền
với ruộng đất, nên tự nó mang tính ổn định rất cao. Tính ổn định cao này đã
hóa thân thành tinh thần công xã, thành truyền thống xóm làng nên nó trở
thành nguồn sức mạnh diệu kỳ của người Việt Nam trong cuộc đọ sức với các
mưu đồ nô dịch và đồng hóa của giặc ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử
dân tộc. Đến thời kỳ Văn Lang, nhà nước được chia thành các Bộ lạc, đứng
đầu là các Lạc tướng. Mỗi bộ lạc gồm nhiều công xã với người đứng đầu là
các bồ chính (giống như các già làng, trưởng bản ngày nay)- người đại diện
cho công xã nhiều hơn là nhà nước.
4
Có thể nói, thôn ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở công xã nông
thôn vào cuối thời kỳ Hùng Vương.
Thời kỳ Bắc thuộc
Nhà nước phong kiến Trung Hoa đã chính thức biến nước ta trở thành
thuộc địa của chúng từ sau thất bại của An Dương Vương vào năm 179 trước
công nguyên. Mặc dù tìm mọi cách vươn xuống tận cơ sở để nắm lấy và sử dụng
làng Việt truyền thống như một công cụ phục vụ cho mưu đồ thống trị và đồng
hóa dân tộc ta nhưng chúng đã không thành công. Tuy từ đầu công nguyên, chế
đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đơn vị hành chính cấp cơ
sở như ta hằng quan niệm xưa nay được hình thành trong thời điểm lịch sử
này. Cũng trong buổi đầu của thời kỳ độc lập, khi cấp xã được nhà nước chính
thống hóa trở thành đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nông thôn thì cấp thôn
cũng dường như đồng thời xuất hiện, tuy rằng thôn ở đây phải được hiểu là
đơn vị hành chính cấp cơ sở tương đương với xã. Lúc bấy giờ, xuất hiện thêm
một thiết chế tổ chức mới do Nhà nước phong kiến áp đặt là chánh lệnh
trưởng và tá lệnh trưởng cầm đầu các xã (tương đương cấp thôn) nhằm đảm
bảo các nguồn thu thuế, phu và lính.
Qua các triều phong kiến thời Ngô, Đinh, Tiền Lê vẫn duy trì cấp xã
giống như thời họ Khúc. Mối quan hệ giữa nhà nước và công xã nông thôn là
mối quan hệ tương đối dân chủ, người nông dân vừa có nghĩa vụ với chính
công xã mình, vừa có nghĩa vụ với Nhà nước thông qua công xã.
Mãi đến thời Lý, vẫn theo sử cũ, tên thôn mới xuất hiện với tư cách là
một đơn vị tụ cư dưới ấp (mà ấp ở đây là hương ấp). Như thế có nghĩa là thôn
cũng là làng hay chí ít cũng là đơn vị tụ cư tương đương với làng.
Qua các triều Trần - Hồ - Lê, thôn không bị giải thể, song dần dần phụ
thuộc và trở thành đơn vị kinh tế - xã hội cơ sở của Nhà nước phong kiến, vừa
cung cấp lương thực, thực phẩm, lao dịch, binh dịch cho Nhà nước vừa cung
cấp đất đai để Nhà nước ban cho những viên chức của mình. Giai đoạn này,
Nhà nước ban hành nhiều chính sách để kiểm soát các hoạt động của cư dân
như: lập sổ đinh, sổ hộ khẩu, đặt ra các chức quan trong ngạch nhà nước để
nắm thôn. Các viên xã quan (gồm đại tư xã và tiểu tư xã) dưới thời Lý - Trần
6
có trách nhiệm điều tra nắm bắt quân số của thôn rồi báo cáo lên cấp trên.
Còn dưới dưới thời nhà Hồ có các chức Lý trưởng, Giáp thủ. Triều đình
phong kiến cho phép các thôn có quyền tự bầu chọn các chức quan này, họ
với tư cách là một bộ luật thành văn của làng, xã.
Đến thế kỷ XVII, XVIII (Vua Lê, Chúa Trịnh ở đàng ngoài và Chúa
Nguyễn ở Đàng trong), khi mà nhà nước phong kiến trung ương tập quyền
suy yếu, mô hình quản lý tập trung thống nhất không còn hiệu quả, ở nhiều
địa phương, xu hướng thôn trưởng tự ý đặt ra các luật rồi thông qua đó mà
lũng đoạn làng xã, gây bè kéo cánh, tách lập thôn riêng, bất chấp pháp luật
của nhà nước ngày một nhiều. Tình hình đó càng trở nên nghiêm trọng vào
thời kỳ suy yếu của chế độ phong kiến khi Nhà nước hoàn toàn bất lực trong
việc quản lý các xã trưởng, bỏ mặc cho bọn cường hào hoành hành, gây ra
muôn vàn tệ nạn ở thôn. Dưới thời Cảnh Trị, vua Lê Huyền Tông phải định
lại việc bầu xã trưởng nhằm kiểm tra chặt chẽ hơn người lãnh đạo làng, xã:
"chọn các con em nhà lương thiện là Xã trưởng để dạy bảo xã dân hữu biết lễ
nghĩa". Đến năm 1726, vua Lê Dụ Tông định lại phép khảo công xã trưởng về
nhiệm vụ coi giữ xóm, làng, thu nộp thuế.
Nhà Nguyễn, ngay khi mới bắt tay vào tổ chức vương triều cho tới khi
để đất nước ta rơi vào tay thực dân Pháp, luôn tìm cách giải quyết mối quan
hệ giữa xã và thôn, cũng như khắc phục những mặt hạn chế tiêu cực của
người đứng đầu đại diện các xã, thôn ấy. Dưới thời Gia Long, ông đặc biệt đề
cao vai trò của làng, xã trong quốc sách trị nước của mình. Nung nấu ý định
cải tổ làng, xã, song trên thực tế ông vẫn phải thừa nhận tổ chức làng, xã cũ,
vẫn chấp nhận việc bầu xã trưởng và sự tự trị trong phạm vi nhất định của
làng, xã, vẫn xếp các xã trưởng (thậm chí cả thôn trưởng) vào hàng quan chức
với hạng phẩm cấp thấp nhất.
Đến thời Minh Mạng đã có sự cải tổ lại bộ máy quản lý xã, thôn: bỏ
chức xã trưởng và thay vào đó chức lý trưởng và phó lý giúp việc cho lý
trưởng. Những chức danh này phải do dân làng bầu cử, được phủ, huyện xét
kỹ lại và bẩm lên trấn để cấp văn bằng, mộc triện. Mặc dù phải chịu trách
8
9
soát, giám sát việc thành lập bộ máy quản lý thôn, coi đó là những "nước cộng
hòa nhỏ" và định ra mức cống nạp. Chúng duy trì tổ chức thôn cổ truyền qua
hệ thống quản lý ở đây bằng cách thực hiện "viên chức hóa" các chức dịch, kỳ
hào để kiểm soát các hoạt động của thôn. Lúc đầu, họ là người đại diện cho thôn
là chính, nhưng sau này do Nhà nước chỉ biết khoán trắng các khoản thu cho Lý
trưởng và thông qua Lý trưởng để quản lý thôn trong khi không có trách
nhiệm đầy đủ với họ nên họ dễ bề nhân danh phép nước để ức hiếp dân làng
và nhân danh thôn để hoãn thi hành việc nước. Đồng thời, chính quyền đô hộ
quản lý bằng cách đưa pháp luật của chúng vào hương ước của thôn.
Trong thời kỳ này, thôn là lực lượng chính góp sức vào công cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc. Nhiều thôn chống lại chính sách cai trị của thực dân
Pháp dưới nhiều hình thức khác nhau và cho đến khi Đảng cộng sản Đông
Dương ra đời, các thôn đó lại trở thành những cơ sở cho Đảng gây dựng lực
lượng chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám và phong trào cách mạng
sau này.
Sau Cách mạng tháng Tám
Đảng và Nhà nước ta chủ trương duy trì và củng cố hoạt động của
thôn, phát huy ưu thế của cộng đồng này để xây dựng các đoàn thể quần
chúng và hỗ trợ chính quyền địa phương trong việc động viên nhân dân tăng
gia sản xuất, thanh toán nạn mù chữ và chống giặc ngoại xâm. Sau cuộc bầu
cử Hội đồng nhân dân xã vào tháng 4 năm 1946, nhà nước bỏ cấp tổng, nhiều
thôn làng cũ có quan hệ về nguồn gốc lịch sử, văn hóa, có sự gần gũi về địa
vực cư trú, sự gắn bó tự nhiên về kinh tế, xã hội…bắt đầu được sáp nhập
thành những xã tương đối lớn. Do phạm vi quản lý của chính quyền xã lúc đó
quá rộng nên vai trò và tác dụng của thôn được đề cao, phát huy tốt và tồn tại
cho đến những năm cuối của cuộc kháng chiến. Về người đứng đầu thôn
trong thời kỳ này, mỗi thôn có một trưởng thôn (nhiều nơi gọi là ủy nhiệm
Nội vụ quy định bỏ chức danh trưởng thôn, trưởng xóm, sắp xếp ủy viên Ủy
ban hành chính xã phụ trách thôn, xóm thông qua đội trưởng sản xuất. Do
HTX phát triển lên quy mô toàn thôn, có một số ít lên quy mô toàn xã, mọi
công việc của chính quyền xã đưa về thôn, xóm đều do Ủy viên Ủy ban hành
11
chính xã phụ trách thôn, xóm đôn đốc giải quyết nên chức danh trưởng thôn,
xóm không còn cần thiết nữa, cơ chế quản lý thôn như trước đây coi như bị
giải thể. Tuy thế, một số yếu tố của thôn truyền thống cũng không dễ dàng
biến mất ngay. Một phần, vì bản tính bền chặt của nó đã được thử thách qua
thời gian, mặt khác, ngay trong mô hình HTX nông nghiệp, thôn, làng ít nhiều
vẫn giữ lại cái bóng một đơn vị kinh tế nông nghiệp công điền, độc canh với
cơ sở vật chất kỹ thuật thấp kém, một đơn vị tụ cư và phần nào là một đơn vị
văn hóa xã hội trong quy mô đội sản xuất.
Khi mô hình tập thể hóa nông nghiệp được đẩy lên đỉnh cao thì cuộc
sống vật chất và tinh thần của người nông dân khắp nông thôn miền Bắc cũng
đang dấn sâu vào cảnh nghèo nàn đơn điệu. Cá biệt một số xã có điều kiện tốt
để thừa hưởng và biết khai thác những giá trị truyền thống trong tổ chức quản
lý thôn, làng trước đây nên họ phần nào khắc phục được những vướng mắc
của cơ chế và vẫn có những bước tiến. Nhìn chung các xã này vẫn giữ được
nhịp độ phát triển và trở thành những điển hình về quản lý kinh tế - xã hội.
Thời kỳ đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Sau khi có Chỉ thị 100 của Ban Bí thư khóa IV tháng 1-1981, đặc biệt
là sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI ban hành ngày 5-4-1988 về
khoán sản phẩm trong nông nghiệp nông nghiệp, các HTX đã thực hiện chế
độ khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động và hộ gia đình được coi là
một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ. Lúc này, tư cách tự quản của HTX đã có
nhiều biến đổi, vai trò của đội sản xuất và HTX đã không còn như trước nữa.
của chính quyền Nhà nước thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan đại
diện quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu
ra Hội đồng nhân dân (HĐND), các bộ phận giúp HĐND thực hiện các chức
năng ra nghị quyết, giám sát như: thường trực HĐND, các ban của HĐND…
Và Ủy ban nhân dân (UBND) là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương, thực hiện hoạt động quản lý nhà
13
nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi lãnh thổ nhất định,
được thành lập trên cơ sở các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước theo quy
định của pháp luật. Ở các cấp hành chính có các cơ quan chuyên môn: Sở,
phòng, ban giúp UBND thực hiện nhiệm vụ quản lý.
Ngoài ra, người ta còn hay sử dụng khái niệm chính quyền địa phương
cấp cơ sở (hay còn gọi là chính quyền cơ sở) để chỉ chính quyền gần dân nhất,
quản lý đơn vị hành chính nhỏ nhất trong hệ thống hành chính địa phương 3
cấp ở nước ta, đó chính là chính quyền cấp xã. Nghị quyết hội nghị lần thứ 5
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa IX đã chỉ rõ:
Cấp cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân
dân cư trú sinh sống. Hệ thống chính trị cơ sở có vai trò rất quan
trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, tăng cường đại đoàn
kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả
năng phát triển kinh tế - xã hội tổ chức cộng đồng dân cư [17].
Chính quyền cấp cơ sở là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân địa phương, trực tiếp tổ chức thực hiện đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các quyết
định, chỉ thị của cơ quan nhà nước cấp trên. Vì vậy, chính quyền cấp cơ sở
phải thực sự trong sạch, vững mạnh, phải thể hiện đúng bản chất Nhà nước
một khái niệm rất năng động, nó cũng là một thực thể, một bản thể nhưng sinh
động hơn nhiều, ít tính chất quan liêu, hành chính hóa hơn nhiều so với xã.
Thôn, làng gắn bó máu thịt với từng người dân ở nông thôn, kể cả
người dân ở đô thị, trong tận chiều sâu tâm lý, tiềm thức của mỗi người. Thôn
biểu đạt một ý nghĩa kép. Với sắc thái quản lý, nói đúng hơn là khi thôn nhận
quản lý của xã thì gọi là thôn. Thôn, theo đó mang ý nghĩa của lối định danh
hành chính. Song mặt khác và đây là chủ yếu, thôn là một cộng đồng dân cư
vừa theo địa vực vừa có cả tính huyết thống. Thôn là tự quản cộng đồng, đây
là thuộc tính điển hình về chức năng, vai trò của thôn. Thôn có đời sống riêng
của nó, của sự gắn kết cộng đồng tự nhiên và bền vững trong lịch sử. Đó là
cộng đồng xã hội mà cũng là một cộng đồng văn hóa.
15
Xã và thôn đều có chung vị trí, vai trò của cơ sở nhưng xã và thôn là
những dạng cơ sở có chức năng, vị thế khác nhau. Xã là cấp cơ sở của quản lý
hành chính nhà nước. Chính quyền xã là hình ảnh đại diện của Nhà nước, của
Chính phủ ở cơ sở, tức là ở xã. Chức năng, quyền hạn quản lý đó thể hiện trên
phạm vi xã, do đó quyền quản lý của xã xuống tận thôn, xóm ở tất cả mọi
ngõ, mọi nhà, mọi hộ gia đình. Xã có quyền chỉ thị cho thôn, chỉ đạo thôn, ủy
quyền cho thôn theo chức trách, thẩm quyền nhưng có giới hạn.
Trong khi đó, thôn là một cộng đồng tự quản, không có chức trách,
thẩm quyền quản lý, không phải là một cấp hành chính, không có tư cách
pháp nhân, không có con dấu. Bộ máy của xã hình thành nên theo Luật tổ
chức chính quyền, theo Hiến pháp và các đạo luật khác của Nhà nước có liên
quan. Bộ máy đó do dân bầu nhưng theo phương thức dân chủ đại diện. Các
thành viên HĐND xã, những đại biểu của dân thay mặt dân bầu ra chủ tịch và
các chức danh trong UBND như là một cơ quan chấp hành của Hội đồng.
Trong khi đó, ở thôn, toàn dân, thực chất là toàn thể các chủ hộ trực tiếp bầu
cũng không vượt qua quản lý, không coi thường quản lý.
Quản lý kiểm soát tự quản và điều chỉnh những điều tự quản sai trái.
Tự quản cung cấp cho quản lý những thông tin và kết quả để thúc đẩy quản
lý tốt hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn, đồng thời tự quản giám sát quản lý,
tham gia vào quản lý. Đây chính là quan hệ dân chủ và tập trung dân chủ và
kỷ luật, kỷ cương, là quan hệ giữa pháp luật và hương ước, quy chế thôn - xã
hiện nay.
Đó cũng chính là những biểu hiện chủ yếu của sự tác động qua lại
giữa quản lý và tự quản, của quan hệ giữa xã và thôn mà mọi nỗ lực đổi mới
của hệ thống chính trị ở cơ sở hướng tới nhằm thực hiện quyền dân chủ và
làm chủ của nhân dân.
1.2.2. Khái niệm thôn
Theo như tài liệu Bồi dưỡng trưởng thôn về quản lý nhà nước của Học
viện Hành chính Quốc gia do GS.TS Đinh Văn Mậu chủ biên thì:
17
Thôn, ấp là một cộng đồng dân cư gồm nhiều hộ gia đình
cùng chung sống, gắn bó với nhau trên một địa bàn nhất định. Cộng
đồng dân cư này có mối quan hệ liên kết chặt chẽ trong lao động
sản xuất và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần, phòng chống thiên
tai, địch họa, bảo vệ khu vực lãnh thổ địa giới được xác định hoặc
được quy ước. Ngoài sự hình thành theo địa lý tự nhiên, thôn, ấp
còn có mối quan hệ về huyết tộc (dòng họ), về phong tục, tập quán,
truyền thống văn hóa và tôn giáo… [30, tr. 86-87].
Còn tại "Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn và tổ dân phố" (Ban
hành kèm theo Quyết định số 13/2002/QĐ-BNV ngày 06 tháng 12 năm 2002
của Bộ trưởng Bộ Nội vụ) khẳng định:
Thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc... (gọi chung là thôn);
Tổ dân phố, khu phố, cụm dân cư là thuật ngữ tương đương làng,
được dùng ở đô thị.
Buôn, hay Plây, hay kon: là đơn vị cư trú của các tộc người thuộc
nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer (như người Mạ, Chil, Cơ Ho ở Lâm Đồng) và
các dân tộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo (như Ê Đê, Gia Rai, Chăm), tập
trung chủ yếu ở Tây Nguyên và dọc Trường Sơn.
Như vậy, thực chất các thuật ngữ trên là một, chúng đồng nghĩa với
nhau, đều chỉ một tổ chức dân cư tự quản nằm dưới chính quyền cấp xã,
nhưng khác nhau trong cách sử dụng ở các vùng miền khác nhau ở nước ta.
Thông thường thuật ngữ làng, bản, phum, sóc… được sử dụng trong ngôn ngữ
hàng ngày, mang nghĩa phổ thông, dân dã, biểu thị sắc thái tình cảm nhiều
hơn. Để thuận tiện trong việc sử dụng người ta đã quy ước gọi chung tất cả
các thuật ngữ trên là thôn (ở nông thôn) và tổ dân phố (ở thành thị) trong các
văn bản hành chính, mang tính chất pháp lý, mang tính khái quát, sử dụng
chung trên phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Trong phạm vi luận văn, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ chung là thôn và
trưởng thôn (ngoại trừ có những vấn đề cần tách biệt thôn và tổ dân phố).
19
1.2.3. Đặc trưng của thôn
Thôn những đặc điểm riêng mà chúng ta cần phải nhận ra để có
phương pháp quản lý phù hợp và tạo những điều kiện thuận lợi về vật chất lẫn
tinh thần để thôn hoạt động mang lại hiệu quả cao nhất:
Thứ nhất, thôn không phải là một cấp hành chính đặt dưới sự quản lý
của UBND xã xét về mặt tổ chức hành chính. Do vậy, quan hệ giữa UBND xã
với thôn là quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với một tổ chức tự
quản của cộng đồng dân cư ở nông thôn, chứ không phải quan hệ giữa cơ
quan hành chính nhà nước với nhau. Vì vậy, trong quá trình hoạt động của
Cách giải quyết xung đột theo lối "hòa cả làng" là hết sức phổ biến. Điều này
khác hẳn với truyền thống văn hóa phương Tây, nơi con người được rèn luyện
ý thức về cá nhân ngay từ khi còn nhỏ.
Hai là, tính cộng đồng dẫn đến thói quen dựa dẫm của người dân, ỷ lại
vào tập thể, là tư tưởng cầu an và cả nể.
Ba là, tính cộng đồng, khi đứng trước khó khăn lớn nguy cơ đe dọa sự
sống còn của cả cộng đồng thì cái nổi lên sẽ là tinh thần đoàn kết, tính tập thể
(mà chống giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc, xóm làng là ví dụ điển hình) nhưng
khi nguy cơ ấy qua rồi thì có thể thói tư hữu, óc bè phái cục bộ địa phương lại
nổi lên.
Thứ năm, song hành với sự gắn kết cộng đồng chặt chẽ của cư dân
thôn là tính tự quản. Thôn là một tổ chức có tính tự quản của cộng đồng dân
cư ở nông thôn, tức là người dân trong thôn tự quản với nhau, tự mình quản
lý các công việc của mình mà không cần người khác, tổ chức khác can thiệp
bằng hành vi chỉ huy điều khiển. Tính tự quản được hình thành do yêu cầu
khách quan của cuộc sống cộng đồng trong thôn vì không phải bất kỳ hành
vi nào của con người, bất kỳ quan hệ xã hội nào cũng do pháp luật điều
chỉnh. Ngoài sự điều chỉnh của pháp luật, con người còn tự điều chỉnh hành
vi của mình theo quy phạm tập quán, đạo đức, tôn giáo... Tự điều chỉnh
hành vi của mỗi người chính là cơ sở tự quản. thôn tự quản một số công
việc như: tự chăm lo nhu cầu rèn luyện sức khỏe, tự giải quyết những mâu
21