Vai trò của Trưởng thôn trong tham gia quản lý nhà nước ở cơ sở ( qua thực tiễn tỉnh Bắc Kạn) - Pdf 25


đại học quốc gia hà nội
khoa luật

l-ờng thị thu hòa vai trò của tr-ởng thôn
trong tham gia quản lý nhà n-ớc ở cơ sở
(qua thực tiễn tỉnh bắc kạn) luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2011


1

2

MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU
1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TRƯỞNG THÔN
TRONG THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở CƠ SỞ
4
1.1.
Sự ra đời, phát triển của thôn, người đứng đầu thôn ở nước ta qua các
thời kỳ lịch sử

Nhiệm vụ của trưởng thôn
33
1.3.1.
2
Quyền hạn của trưởng thôn
34
1.3.1.
3.
Phương pháp hoạt động của trưởng thôn
36
1.3.2.
Sự khẳng định vai trò của người đứng đầu thôn trong tham gia quản lý
nhà nước ở cơ sở hiện nay
38
1.3.3.
Các yêu cầu đặt ra đối với trưởng thôn trong thời kỳ đổi mới hiện nay
41

Chương 2: TRƯỞNG THÔN THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Ở CƠ SỞ TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY, QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN (QUA VÍ DỤ
Ở TỈNH BẮC KẠN)
44
2.1.
Sự đổi mới và hoàn thiện của pháp luật Việt Nam về thôn và trưởng
thôn trong thời gian gần đây
44
2.2.
Thực tiễn việc tham gia quản lý nhà nước ở cơ sở của trưởng thôn -
qua ví dụ tỉnh Bắc Kạn

2.2.3.
2.
Nguyên nhân của các thành tựu trong tham gia quản lý nhà nước của
trưởng thôn ở cơ sở trong thời gian qua
85
2.2.4.
Một số hạn chế và nguyên nhân dẫn tới các hạn chế của đội ngũ trưởng
thôn trong tham gia quản lý nhà nước ở cơ sở
87
2.2.4.
1.
Những hạn chế điển hình của đội ngũ trưởng thôn trong tham gia quản
lý nhà nước ở cơ sở trong thời gian qua
87
2.4.4.
2.
Nguyên nhân dẫn tới hạn chế của trưởng thôn trong tham gia quản lý
nhà nước ở cơ sở trong thời gian qua
92

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA TRƯỞNG THÔN TRONG THAM GIA QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC Ở CƠ SỞ
99
3.1.
Sự cần thiết phát huy vai trò của trưởng thôn trong tham gia quản lý
nhà nước ở cơ sở hiện nay
99
3.1.1.
Yêu cầu về phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà

120
3.3.3.
2.
Chế độ bảo hiểm
121
3.3.4.
Chế độ khen thưởng, kỷ luật đối với trưởng thôn
124
3.3.5.
Công tác quản lý, kiểm tra đối với trưởng thôn
125

KẾT LUẬN
133

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
135

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thôn, làng, xóm, ấp, bản, sóc, play, tổ dân phố (trong luận văn này
xin được gọi chung là thôn) là nơi cộng đồng dân cư bền vững, liên kết chặt
chẽ với nhau trong quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, họ tộc và huyết
thống. Ở nước ta, thôn được hình thành cách đây hàng nghìn năm. Trong thời
kỳ phong kiến và Pháp thuộc, nhà nước ta luôn lấy thôn làm đơn vị hành
chính cấp cơ sở. Hiện nay, thôn không phải là một cấp chính quyền mà là tổ
chức tự quản của cộng đồng dân cư nằm dưới xã, phường, thị trấn. Trưởng
thôn, trưởng bản vừa là người đại diện cho nhân dân của thôn vừa đại diện cho

Các công trình trên đề cập đến các vấn đề ở nhiều khía cạnh khác
nhau của thôn và trưởng thôn, về cả lý luận và thực tiễn. Nhưng cho tới nay,
chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập riêng đến đội ngũ trưởng thôn
dưới góc độ luật Hành chính và đặc biệt nghiên cứu ở địa bàn một tỉnh miền
núi đặc thù như Bắc Kạn.
3. Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu đề tài tác giả mong muốn:
Thứ nhất, làm rõ các vấn đề lý luận liên quan tới đội ngũ trưởng thôn,
tổng hợp lại các chế định pháp luật điều chỉnh về hoạt động của trưởng thôn.
Thứ hai, phân tích thực trạng hoạt động hiện hành của đội ngũ trưởng
thôn, đặc biệt nêu ra các vấn đề bất cập (đặt trong bối cảnh một tỉnh miền núi
như Bắc Kạn).
Cuối cùng, nêu một số lý giải và kiến nghị nhằm phát huy vai trò quản lý
của trưởng thôn trong thời kỳ hiện nay, đặc biệt tại các tỉnh miền núi ở nước ta.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn lấy thôn, trưởng thôn làm đối tượng nghiên cứu và tập trung
giải quyết một số vấn đề sau:

3
- Xem xét hệ thống văn bản pháp luật về thôn, trưởng thôn nói chung
và đặc biệt ở tỉnh Bắc Kạn nói riêng.
- Xem xét thực trạng hoạt động của Trưởng thôn (thông qua địa bàn
nghiên cứu ở tỉnh Bắc Kạn), từ đó nêu ra những đóng góp to lớn của đội ngũ
trưởng thôn trong sự phát triển chung của tỉnh. Đặc biệt, luận văn nêu ra
những nét hạn chế và bất cập của đội ngũ trưởng thôn - so với yêu cầu tham
gia vào quản lý nhà nước ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay, trong địa bàn một
đơn vị miền núi đặc thù.
- Kiến nghị một số biện pháp nhằm tăng cường vai trò của trưởng thôn
trong hoạt động quản lý nhà nước ở cấp cơ sở.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

quan hệ huyết thống vẫn được bảo tồn và củng cố tạo thành kết cấu làng - họ
rất đặc trưng ở Việt Nam. Người đứng đầu công xã nông thôn là già làng,
trưởng bản - những người đàn ông cao tuổi và có uy tín với nhân dân trong
công xã được hình thành tự phát do mọi người tự suy tôn. Các công việc
chung trong công xã đều thực hiện theo ý của già làng, trưởng bản và họ hoạt
động như một vị thủ lĩnh, trung thành tuyệt đối với lợi ích chung của cộng
đồng. Công xã nông thôn Việt Nam là một loại hình của công xã phương
Đông, trong đó nông nghiệp gắn liền với thủ công nghiệp, làng xóm gắn liền
với ruộng đất, nên tự nó mang tính ổn định rất cao. Tính ổn định cao này đã
hóa thân thành tinh thần công xã, thành truyền thống xóm làng nên nó trở
thành nguồn sức mạnh diệu kỳ của người Việt Nam trong cuộc đọ sức với các
mưu đồ nô dịch và đồng hóa của giặc ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử
dân tộc. Đến thời kỳ Văn Lang, nhà nước được chia thành các Bộ lạc, đứng
đầu là các Lạc tướng. Mỗi bộ lạc gồm nhiều công xã với người đứng đầu là
các bồ chính (giống như các già làng, trưởng bản ngày nay)- người đại diện
cho công xã nhiều hơn là nhà nước.

5
Có thể nói, thôn ở Việt Nam được hình thành trên cơ sở công xã nông
thôn vào cuối thời kỳ Hùng Vương.
Thời kỳ Bắc thuộc
Nhà nước phong kiến Trung Hoa đã chính thức biến nước ta trở thành
thuộc địa của chúng từ sau thất bại của An Dương Vương vào năm 179 trước
công nguyên. Mặc dù tìm mọi cách vươn xuống tận cơ sở để nắm lấy và sử dụng
làng Việt truyền thống như một công cụ phục vụ cho mưu đồ thống trị và đồng
hóa dân tộc ta nhưng chúng đã không thành công. Tuy từ đầu công nguyên, chế
độ lạc tướng đã bị xóa bỏ và chính quyền đô hộ phương Bắc đã nắm giữ được
cấp huyện, nhưng vẫn không thể khống chế nổi cơ sở hạ tầng của xã hội Việt
Nam là các công xã (thôn ngày nay). Có thể nói lúc bấy giờ, người Việt đã mất
nước nhưng trong thực tế chưa thật sự bị mất công xã. Trong suốt thời kỳ này,

một thiết chế tổ chức mới do Nhà nước phong kiến áp đặt là chánh lệnh
trưởng và tá lệnh trưởng cầm đầu các xã (tương đương cấp thôn) nhằm đảm
bảo các nguồn thu thuế, phu và lính.
Qua các triều phong kiến thời Ngô, Đinh, Tiền Lê vẫn duy trì cấp xã
giống như thời họ Khúc. Mối quan hệ giữa nhà nước và công xã nông thôn là
mối quan hệ tương đối dân chủ, người nông dân vừa có nghĩa vụ với chính
công xã mình, vừa có nghĩa vụ với Nhà nước thông qua công xã.
Mãi đến thời Lý, vẫn theo sử cũ, tên thôn mới xuất hiện với tư cách là
một đơn vị tụ cư dưới ấp (mà ấp ở đây là hương ấp). Như thế có nghĩa là thôn
cũng là làng hay chí ít cũng là đơn vị tụ cư tương đương với làng.
Qua các triều Trần - Hồ - Lê, thôn không bị giải thể, song dần dần phụ
thuộc và trở thành đơn vị kinh tế - xã hội cơ sở của Nhà nước phong kiến, vừa
cung cấp lương thực, thực phẩm, lao dịch, binh dịch cho Nhà nước vừa cung
cấp đất đai để Nhà nước ban cho những viên chức của mình. Giai đoạn này,
Nhà nước ban hành nhiều chính sách để kiểm soát các hoạt động của cư dân
như: lập sổ đinh, sổ hộ khẩu, đặt ra các chức quan trong ngạch nhà nước để
nắm thôn. Các viên xã quan (gồm đại tư xã và tiểu tư xã) dưới thời Lý - Trần

7
có trách nhiệm điều tra nắm bắt quân số của thôn rồi báo cáo lên cấp trên.
Còn dưới dưới thời nhà Hồ có các chức Lý trưởng, Giáp thủ. Triều đình
phong kiến cho phép các thôn có quyền tự bầu chọn các chức quan này, họ
đều phải là dân "chính cư", tức là có ít nhất ba đời sinh sống tại thôn đó.
Sau khi chiến thắng quân xâm lược Minh, đến tháng 11 năm 1428 Lê
Lợi tiến hành tổ chức lại làng xã, tùy theo số đinh mà phân thành ba loại xã
cơ bản là lớn, trung bình và nhỏ. Theo cách phân loại này thì những xã loại
vừa và nhỏ trên thực tế chỉ là thôn, trong đó thôn cũng được chia ra thành hai
loại là thôn phụ thuộc xã và thôn độc lập. Các xã quan trên nguyên tắc vẫn là
các viên chức của Nhà nước được cử ra để quản lý làng, xã, nhưng thực tế vào
đầu thời Lê sơ, họ đã là người quản lý trực tiếp từng làng, xã thậm chí là từng

lại việc bầu xã trưởng nhằm kiểm tra chặt chẽ hơn người lãnh đạo làng, xã:
"chọn các con em nhà lương thiện là Xã trưởng để dạy bảo xã dân hữu biết lễ
nghĩa". Đến năm 1726, vua Lê Dụ Tông định lại phép khảo công xã trưởng về
nhiệm vụ coi giữ xóm, làng, thu nộp thuế.
Nhà Nguyễn, ngay khi mới bắt tay vào tổ chức vương triều cho tới khi
để đất nước ta rơi vào tay thực dân Pháp, luôn tìm cách giải quyết mối quan
hệ giữa xã và thôn, cũng như khắc phục những mặt hạn chế tiêu cực của
người đứng đầu đại diện các xã, thôn ấy. Dưới thời Gia Long, ông đặc biệt đề
cao vai trò của làng, xã trong quốc sách trị nước của mình. Nung nấu ý định
cải tổ làng, xã, song trên thực tế ông vẫn phải thừa nhận tổ chức làng, xã cũ,
vẫn chấp nhận việc bầu xã trưởng và sự tự trị trong phạm vi nhất định của
làng, xã, vẫn xếp các xã trưởng (thậm chí cả thôn trưởng) vào hàng quan chức
với hạng phẩm cấp thấp nhất.
Đến thời Minh Mạng đã có sự cải tổ lại bộ máy quản lý xã, thôn: bỏ
chức xã trưởng và thay vào đó chức lý trưởng và phó lý giúp việc cho lý
trưởng. Những chức danh này phải do dân làng bầu cử, được phủ, huyện xét
kỹ lại và bẩm lên trấn để cấp văn bằng, mộc triện. Mặc dù phải chịu trách

9
nhiệm mọi công việc trong thôn, từ việc binh lương, thuế khóa, phu phen, tạp
dịch đến việc an ninh, xử những vụ kiện cáo lặt vặt, nhưng lý trưởng đến lúc
này lại không được nằm trong hàng quan chức nữa. Đây xét về hình thức là
biện pháp hạn chế quyền hành của lý trưởng, nhưng trong thực tế lại chính là
cơ hội tốt để bọn cường hào đứng sau lý trưởng mà thao túng thôn. Một trong
những cơ sở quan trọng mà bọn cường hào có thể dựa vào đó mà lũng đoạn
chính là sự không đồng nhất của hệ thống quản lý thôn, xã.
Như vậy có thể nói, ngay từ khi mới thoát khỏi ách đô hộ của Trung
Hoa, các chính quyền tự chủ của người Việt lấy làng truyền thống làm đơn vị
hành chính cấp cơ sở của Nhà nước (tức là cấp xã) thì cấp thôn cũng xuất hiện
ở trong các làng, xã đó. Nền độc lập dân tộc đã thúc đẩy quá trình phát triển

Pháp dưới nhiều hình thức khác nhau và cho đến khi Đảng cộng sản Đông
Dương ra đời, các thôn đó lại trở thành những cơ sở cho Đảng gây dựng lực
lượng chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám và phong trào cách mạng
sau này.
Sau Cách mạng tháng Tám
Đảng và Nhà nước ta chủ trương duy trì và củng cố hoạt động của
thôn, phát huy ưu thế của cộng đồng này để xây dựng các đoàn thể quần
chúng và hỗ trợ chính quyền địa phương trong việc động viên nhân dân tăng
gia sản xuất, thanh toán nạn mù chữ và chống giặc ngoại xâm. Sau cuộc bầu
cử Hội đồng nhân dân xã vào tháng 4 năm 1946, nhà nước bỏ cấp tổng, nhiều
thôn làng cũ có quan hệ về nguồn gốc lịch sử, văn hóa, có sự gần gũi về địa
vực cư trú, sự gắn bó tự nhiên về kinh tế, xã hội…bắt đầu được sáp nhập
thành những xã tương đối lớn. Do phạm vi quản lý của chính quyền xã lúc đó
quá rộng nên vai trò và tác dụng của thôn được đề cao, phát huy tốt và tồn tại
cho đến những năm cuối của cuộc kháng chiến. Về người đứng đầu thôn
trong thời kỳ này, mỗi thôn có một trưởng thôn (nhiều nơi gọi là ủy nhiệm
hành chính thôn); ở Nam Bộ có ấp gọi là trưởng ấp; ở miền núi có bản gọi là

11
trưởng bản. Trưởng thôn thường là người đứng tuổi, được nhân dân bầu và
Ủy ban hành chính xã cử, là người đại diện cho nhân dân địa phương mình,
đồng thời cũng là người thay mặt chính quyền xã chăm lo công việc hành
chính của thôn theo đúng pháp luật của Nhà nước và tập tục của thôn.
Ở Miền Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954
Chính quyền Ngô Đình Diệm đã quyết định xóa bỏ Hội đồng hương
chính là mô hình xã, ấp của chính quyền thân Pháp trước, xóa sạch cơ chế địa
phương tự trị còn lại và xây dựng mới toàn bộ hệ thống chính quyền ở nông
thôn nhằm đảm bảo sự quản lý, can thiệp chính thức của chính quyền trung
ương vào các làng, ấp. Chúng tăng cường xây dựng cấp thôn ấp, đặt ra chức
vụ ấp trưởng phụ trách chung và ấp phó phụ trách an ninh. Chúng còn cho lập

đang dấn sâu vào cảnh nghèo nàn đơn điệu. Cá biệt một số xã có điều kiện tốt
để thừa hưởng và biết khai thác những giá trị truyền thống trong tổ chức quản
lý thôn, làng trước đây nên họ phần nào khắc phục được những vướng mắc
của cơ chế và vẫn có những bước tiến. Nhìn chung các xã này vẫn giữ được
nhịp độ phát triển và trở thành những điển hình về quản lý kinh tế - xã hội.
Thời kỳ đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Sau khi có Chỉ thị 100 của Ban Bí thư khóa IV tháng 1-1981, đặc biệt
là sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI ban hành ngày 5-4-1988 về
khoán sản phẩm trong nông nghiệp nông nghiệp, các HTX đã thực hiện chế
độ khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động và hộ gia đình được coi là
một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ. Lúc này, tư cách tự quản của HTX đã có
nhiều biến đổi, vai trò của đội sản xuất và HTX đã không còn như trước nữa.
Công việc trong thôn nảy sinh nhu cầu hình thành tổ chức tự quản địa phương
bên cạnh tổ chức HTX hoạt động theo Luật HTX mới ban hành. Việc khôi
phục hoạt động tự quản tách biệt với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh
của đơn vị kinh tế trở thành yêu cầu khách quan, tất yếu trong các thôn. Các hoạt
động của thôn thời gian này đã dần trở lại theo quỹ đạo của nó. Việc tái lập chức
danh trưởng thôn, việc xây dựng Hương ước của các thôn đã có tác dụng tích

13
cực, là bước tiến đổi mới thể chế quản lý kinh tế - xã hội, đưa thôn Việt Nam
trở lại đúng vị trí là "cánh tay với dài" của chính quyền cơ sở. Trong thời gian
qua, các trưởng thôn đã phát huy tác dụng ngày càng rõ rệt trong quản lý cộng
đồng dân cư trên địa bàn; động viên nhân dân thực hiện các nghĩa vụ và
quyền lợi chính đáng của mình, hỗ trợ đắc lực cho chính quyền xã.
1.2. Thôn và mối quan hệ của thôn với chính quyền cơ sở
1.2.1. Thôn trong mối quan hệ với chính quyền cơ sở
"Chính quyền địa phương" là khái niệm được phái sinh từ khái niệm
hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương, được sử dụng khá phổ biến
trong các văn bản pháp luật của nhà nước. Hiểu một cách khá chung chung,

chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, tăng cường đại đoàn
kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả
năng phát triển kinh tế - xã hội tổ chức cộng đồng dân cư [17].
Chính quyền cấp cơ sở là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân địa phương, trực tiếp tổ chức thực hiện đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các quyết
định, chỉ thị của cơ quan nhà nước cấp trên. Vì vậy, chính quyền cấp cơ sở
phải thực sự trong sạch, vững mạnh, phải thể hiện đúng bản chất Nhà nước
Việt Nam: của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên thực tế, trong quá
trình hoạt động của mình, chứ không chỉ thể hiện bản chất nhà nước về lý
thuyết. Mọi chủ trương, quyết định quản lý hành chính do chính quyền cấp cơ
sở ban hành phải phù hợp với pháp luật, phù hợp với ý chí và nguyện vọng
của nhân dân, đáp ứng được các yêu cầu, nhu cầu chính đáng, hợp pháp, hợp
lý của nhân dân. Vì vậy, chính quyền cấp cơ sở phải thực sự gắn bó mật thiết
với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát, kiểm tra của nhân dân với
phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

15
Để thực hiện tốt các vấn đề trên đây, dưới phường, xã, thị trấn đã
thành lập tổ dân phố, ấp, thôn, làng, bản, buôn, sóc, phum (dưới đây gọi tắt là
thôn). Tổ chức này là hệ thống "chân rết" giúp chính quyền cấp cơ sở thực
hiện đúng và có hiệu quả công tác quản lý hành chính nhà nước ở địa phương.
Đảng và Nhà nước ta đã xác định vị trí pháp lý của các tổ chức này trong các
văn bản cấp nhà nước, khẳng định sự tồn tại và hoạt động của thôn là tất yếu,
không thể thiếu trong quá trình hoạt động của chính quyền cơ sở. Đó là hình
thức tổ chức dưới phường, xã, thị trấn, tập hợp một số hộ liền kề trên cùng
một địa bàn dân cư với quy mô hợp lý do nhân dân thành lập dưới sự hướng
dẫn, công nhận và quản lý của UBND cấp xã, phường, thị trấn.
Như vậy, thôn không phải là cơ quan nhà nước, không phải là một cấp
hành chính mà là một tổ chức mang tính tự quản, là cầu nối giữa UBND cấp

quan. Bộ máy đó do dân bầu nhưng theo phương thức dân chủ đại diện. Các
thành viên HĐND xã, những đại biểu của dân thay mặt dân bầu ra chủ tịch và
các chức danh trong UBND như là một cơ quan chấp hành của Hội đồng.
Trong khi đó, ở thôn, toàn dân, thực chất là toàn thể các chủ hộ trực tiếp bầu
ra trưởng thôn. Đây là người đại diện cho tinh thần tự quản của dân, cùng với
dân trong thôn tự quản lý công việc của mình. Đó là dân chủ trực tiếp. Thôn
tự quản đồng thời phải thực hiện một số nghĩa vụ quản lý do xã ủy quyền.
Xã quản lý bằng pháp luật, chính sách, chế độ, cơ chế, có bộ máy
hoàn chỉnh, có quyền, và là một cấp ngân sách. Trong khi đó, trưởng thôn
cùng với dân thôn tự quản bằng hương ước như một thỏa ước tập thể, không
được trái pháp luật, phải tuân thủ luật nhưng vẫn có một "không gian quyền
lực" của mình qua hương ước, do dân cùng tự nguyện cho phép, tự nguyện
thực hiện. Xã và các cấp trên cho phép thôn dùng hương ước để tự quản, đồng
thời cũng thông qua hương ước mà quản lý thôn. Quản lý không dừng ở xã
mà xuống tới thôn, cũng như tự quản không chỉ diễn ra ở thôn, trong phạm vi
thôn mà còn ở xã nữa, trên những việc, những hoạt động cụ thể. Quản lý
mang tính pháp lý chính thống có cả cưỡng chế, cưỡng bức theo pháp luật, lý

17
trí, trong khi tự quản ở thôn lại dùng thuyết phục, phân công hợp tác tự nguyện
giao lưu, khế ước, tự nguyện theo "tập quán pháp", theo thỏa ước.
Quản lý và tự quản ở xã - thôn và trong thôn - xã không đối lập loại
trừ nhau, không chia cắt nhau mà dựa vào nhau, hỗ trợ, thúc đẩy, chi phối lẫn
nhau. Thôn tự quản theo sợi dây liên kết giữa các chủ thể nhân cách: cá nhân -
chủ hộ - trưởng thôn - trưởng họ - theo những điều khoản của hương ước, quy
ước đồng thời tuân thủ pháp luật. Dư luận xã hội trong cộng đồng thôn là một
sức mạnh điều chỉnh của tự quản cộng đồng. Tự quản còn có sức hỗ trợ của
đạo đức, kinh tế, tâm lý, lối sống.Còn quản lý luôn quy chiếu theo quyền và
nghĩa vụ do luật định, quản lý ứng xử với con người theo luật, theo các thiết
chế, bộ máy, phương tiện, công cụ đã có. Quản lý chặt chẽ, nghiêm minh, có

Thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (gọi chung là thôn);
tổ dân phố, khu phố, khóm (gọi chung là tổ dân phố) không phải là
một cấp hành chính mà là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư,
nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi để phát huy các
hình thức hoạt động tự quản và tổ chức nhân dân thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và
nhiệm vụ cấp trên giao.
Dưới xã là thôn. Dưới phường, thị trấn là tổ dân phố.
Thôn và tổ dân phố chịu sự quản lý trực tiếp của chính
quyền xã, phường, thị trấn [3].
Như vậy có thể hiểu: Thôn là nơi sinh sống của người dân Việt Nam,
được hình thành một cách tự nhiên do quá trình phát triển của xã hội; là tổ
chức tự quản của cộng đồng dân cư; là đơn vị cấu thành chính quyền cơ sở, là
nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp
luật của Nhà nước.
Để hiểu rõ thêm về khái niệm này, cần phân biệt thôn với một số các
thuật ngữ có nội hàm tương tự sau:

19
Làng (hay còn gọi là thôn) là những đơn vị tụ cư sinh sống của một
cộng đồng nông dân Việt Nam (đặc biệt là người Việt - kinh), có khu vực sinh
sống, cơ sở hạ tầng, tục lệ riêng
Bản hay Mường là đơn vị cư trú, đồng thời là đơn vị xã hội cơ sở
duy nhất tồn tại ở các dân tộc Tày, Thái, Mường, tập trung đa số vùng núi
phía Bắc, tương đương với làng của người Việt. Số dân không đồng đều,
thường chỉ tập trung vài ba trăm người với mấy chục nóc nhà và ở rải rác
cách nhau vài km.
Ấp là đơn vị cấu thành chính quyền cơ sở ở các tỉnh phía Nam, tương
đương với làng ở các tỉnh phía Bắc.
Tổ dân phố, khu phố, cụm dân cư là thuật ngữ tương đương làng,

động của nó không thể hiện tính chất Nhà nước, tức là không có quyền nhân
danh Nhà nước hay sử dụng quyền lực nhà nước nếu không được ủy quyền
đặc biệt. Nói cách khác, không có quyền ban hành các quyết định quản lý Nhà
nước mang tính cưỡng chế và tính bắt buộc thi hành.
Thứ ba, vì thôn không phải là cơ quan nhà nước, không phải là một
cấp hành chính nên tổ chức của nó rất gọn nhẹ và linh hoạt. Một thôn có một
trưởng thôn và một hoặc hai phó thôn giúp việc cho trưởng thôn.
Thứ tư, thôn có tính cộng đồng. Tính cộng đồng là sự liên kết các
thành viên trong thôn với nhau trên cơ sở các mối quan tâm chung của họ đối
với các vấn đề có liên quan đến đời sống; cuộc sống về kinh tế, văn hóa, xã
hội. Tính cộng đồng đòi hỏi mọi thành viên trong thôn trong quá trình chăm
lo cho lợi ích của bản thân và gia đình mình còn phải chú ý đảm bảo lợi ích
chung của các thành viên khác trong thôn. Sự liên kết giữa các thành viên
trong thôn là sự liên kết của những người cùng cư trú trên một địa bàn liền kề,
gần nhau theo không gian, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, tôn giáo, nghề
nghiệp, địa vị, xã hội. Tính cộng đồng của con người Việt Nam được hình

21
thành từ xa xưa theo tập quán, truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam và được duy trì cho đến ngày nay. Tính cộng đồng là nền tảng cho các
quan hệ dân chủ, bình đẳng ở thôn, là cái gốc của "tình làng, nghĩa xóm", "tối
lửa tắt đèn có nhau", là "bán anh em xa mua láng giềng gần".
Tính cộng đồng đem lại cho mỗi cá nhân và cho cả làng xã một sức
mạnh như vậy, tuy nhiên bên cạnh đó nó cũng có tính hạn chế của nó:
Một là, vì quá đề cao tính tập thể nên nó thủ tiêu vai trò của cá nhân.
Cách giải quyết xung đột theo lối "hòa cả làng" là hết sức phổ biến. Điều này
khác hẳn với truyền thống văn hóa phương Tây, nơi con người được rèn luyện
ý thức về cá nhân ngay từ khi còn nhỏ.
Hai là, tính cộng đồng dẫn đến thói quen dựa dẫm của người dân, ỷ lại
vào tập thể, là tư tưởng cầu an và cả nể.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status