Đánh giá vai trò của phụ nữ trong việc phát triển nông nghiệp tại xã Mai Đình, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. - Pdf 29

I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM NGUYN TH THU

Tờn ti:
Đánh giá vai trò của phụ nữ trong việc phát triển nông nghiệptại xã
Mai
Đình
,
huyện
H
iệp
H

,
tỉnh
B
NGUYN TH THU

Tờn ti:
Đánh giá vai trò của phụ nữ trong việc phát triển nông nghiệptại xã
Mai
Đình
,
huyện
H
iệp
H

,
tỉnh
B
ắc
G
iang


Tôi xin chân thành cảm ơn UBND, các trưởng thôn xã Mai Đình, phòng
Nông nghiệp, hội liên hiệp phụ nữ huyện Hiệp Hoà đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu. Qua đây tôi cũng bày tỏ lòng cảm ơn sâu
sắc tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập.
Mọi số liệu có được một các khách quan chính xác là nhờ sự nỗ lực của
bản thân, đồng nghiệp và sự giúp đỡ nhiệt tình của các trưởng khu,UBND xã;
hội liên hiệp phụ nữ, phòng nông nghiệp huyện.
Tôi xin kính chúc các thầy cô giáo mạnh khoẻ, hạnh phúc đạt nhiều
thành tích trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, chúc các bạn đồng nghiệp
thành công trên con đường sự nghiệp.
Thái Nguyên, ngày….tháng….năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Thu
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCH : Ban chấp hành
CC : Cơ cấu
CGFED : Trung tâm nghiên cứu về giới, gia đình và môi trường
trong phát triển
CN - TTCN : Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
CNH -
HĐH
: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
ĐVT Đơn vị tính

chăn nuôi (n = 60) 30
Bảng 4.2: Người ra quyết định các khâu trong trồng trọt, chăn nuôi (n=60) . 32
Bảng 4.3: Vai trò của phụ nữ trong sản xuất kinh doanh dịch vụ trong nông
nghiệp (n =20) 33
Bảng 4.4: Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ 35
Bảng 4.5: Người ra quyết định các công việc lớn trong gia đình 37
Bảng 4.6: Phụ nữ tham gia các tổ chức Chính quyền, đoàn thể 45

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 4.1: Biểu đồ thời gian chăm sóc nuôi dạy con cái 40
Hình 4.2: Biểu đồ thời gian lao động sản xuất của phụ nữ 42

MỤC LỤCTrang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu chung 2
1.3. Mục tiêu cụ thể 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập 3

3.5.3. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 24
3.5.3.1. Phương pháp thống kê mô tả 24
3.5.3.2. Phương pháp so sánh 24
3.5.3.3. Phương pháp phân tích thông tin 25
4.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tại xã Mai Đình 26
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 26
4.1.1.1. Vị Trí địa lý 26
4.1.1.2. Đặc điểm thời tiết khí hậu: 26
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 26
4.1.2.1. Tình hình đất đai của xã 26
4.1.2.2. Tình hình văn hóa xã hội 27
4.1.2.3. Tình hình kinh tế 28
4.2. Vai trò của phụ nữ trong phát triển Nông nghiệp xã Mai Đình 29
4.2.1. Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi 29
4.2.2. Vai trò của phụ nữ trong sản xuất kinh doanh dịch vụ trong nông nghiệp . 33
4.2.3. Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận các kênh thông tin Nông nghiệp,
Nông thôn 34
4.2.4. Những hoạt động trong đời sống ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ
trong phát triển Nông nghiệp 37
4.2.4.1. Vai trò của phụ nữ trong gia đình 37
4.2.4.2. Thời gian lao động sản xuất hàng ngày của phụ nữ 41
4.2.4.3. Vai trò của phụ nữ trong các tổ chức Chính quyền, đoàn thể tác
động tới nông nghiệp 43
4.3. Nhận xét chung: 48
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1. Kết luận 53
5.2. Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
tưởng trọng nam, khinh nữ đã kéo theo sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam
giới. Trước đây những người phụ nữ bị hành hạ chủ yếu là sống phụ thuộc
vào chồng. Khi chuyển sang kinh tế thị trường, vai trò của phụ nữ cũng thay
đổi, song thực tế đã ghi nhận rất nhiều trường hợp phụ nữ kiếm được nhiều
tiền hơn lại bị chồng đánh. Theo nghiên cứu của Hội liên hiệp phụ nữ Việt
Nam thì những trường hợp này chiếm 72% trong số những vụ xung đột gia
2

đình. Không những vai trò của phụ nữ cũng thay đổi mà phụ nữ nông thôn đã
nhận thức rõ và phát huy vai trò của mình trong sản xuất nông nghiệp, các
hoạt động phi nông nghiệp, các hoạt động xã hội và cộng đồng nông thôn.
Phát triển kinh tế thị trường đã đem lại nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ, đồng
thời cũng nảy sinh những tác động tiêu cực cho phụ nữ, họ phải lo toan nhiều
hơn cho cuộc sống gia đình, ít được tham gia các hoạt động xã hội. Một số
phụ nữ chưa hiểu rõ các quyền về mặt pháp lý của mình do học vấn thấp, thời
gian đồng áng và việc nội trợ cao, ít thời gian để tham gia hội họp cộng đồng,
ít tiếp cận thông tin để nâng cao kiến thức và hiểu biết. Từ đó, đòi hỏi phải có
những nghiên cứu để đánh giá đúng vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp,
nông thôn, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy nâng cao năng lực
của phụ nữ nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi để họ hoàn thành tốt trách
nhiệm của mình trong sản xuất, đời sống và các hoạt động xã hội. Xuất phát
từ lý do trên, và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ,
những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển
nông nghiệp,nông thôn tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá vai trò của
phụ nữ trong việc phát triển Nông nghiệp tại xã Mai Đình, huyện Hiệp
Hoà, tỉnh Bắc Giang”.
1.2. Mục tiêu chung

được sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động phát triển Nông nghiệp tại
địa phương.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho các cán bộ, ban ngành liên quan có
thêm những căn cứ để xây dựng các chương trình, dự án nhằm thúc đẩy vai
trò phụ nữ trong sản xuất phát triển nông nghiệp.
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nâng cao năng lực của phụ nữ,
tạo điều kiện thuận lợi để họ hoàn thành tốt trách nhiệm của mình trong sản
xuất, đời sống và các hoạt động xã hội.
Đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương.
4

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Một số khái niệm
- Khái niệm về phụ nữ:
“Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc
được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội. Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là
trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử
dụng. Nó đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất là
không xấu, đến những giá trị, những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ
những nữ giới này.”[17].
“Phụ nữ gồm những xét về mặt sinh học thuộc giống cái (phân biệt đối
lập với giống đực) xét về mặt khoa học tự nhiên, nếu ở góc độ khoa học xã
hội thì liên quan đến nam giới và nữ giới”[19].
- Khái niệm về phát triển

mối quan hệ về mặt xã hội giữa nam giới - nữ giới (trẻ em trai - trẻ em gái).
- Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo
điều kiện và cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng
đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau của sự phát triển đó (Luật bình
đẳng giới 2006)[20].
2.1.2. Vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.2.1. Khái quát về vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới
Trên toàn Thế giới, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong gia đình cả về
khả năng sản xuất và tái sản xuất, họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động;
số giờ lao động chiếm 2/3 tổng số giờ lao động cuả xã hội và sản xuất ra 1/2
trong tổng sản lượng Nông nghiệp. cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc
khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành Công
nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao.
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ tham
gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao:
- Tại Bangladesh: có 67,3% phụ nữ Nông thôn tham gia lực lượng lao
động so với 82,5% nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ Nông thôn cao gấp 2 lần
phụ nữ thành thị (28,9%). Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
nhiều nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54. Đáng chú ý
rằng, gần 61% phụ nữ Nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lượng lao
động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc biệt phụ nữ
Nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động [2].
6

- Tại Trung Quốc tỷ lệ nữ trong quốc hội giảm dần trong thập niên vừa
qua. Trong số 9 người đứng đầu các ủy ban của quốc hội, chỉ có 1 là nữ. Số
phụ nữ trong các cơ quan quan trọng nhất của Đảng như Bộ Chính chị, Ban
7

nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng,
nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu… Ngay tại các bộ,
ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn
gặp những khó khăn nhất định. Việc bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có
nơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động
nữ… Như vậy, mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định nhưng vấn đề
bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn
đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thật sự.
2.1.2.2. Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam
* Thực trạng phụ nữ Việt Nam: Chiếm 50,1% lao động khu vực nông
thôn, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và xây
dựng nông thôn mới. Chị em đã kiên trì vượt khó, thi đua sản xuất giỏi,
mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi, góp phần quan trọng vào phát triển nông nghiệp, duy trì tốc độ
tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an
ninh lương thực quốc gia, giữ vững vị trí là nước có sản lượng nông sản xuất
khẩu cao, đặc biệt xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Tuy nhiên họ là
nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không được như đội ngũ
công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức.
Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất
nông nghiệp như: cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo[9].
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những
năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
- Do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng
năm nước ta có khoảng 80 - 90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó:
lao động nữ chiếm 55% [3].

quyền trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa" (Điều 6) và "Mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật" (Điều 7)
Những quy định kể trên đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại về địa vị
pháp lý của phụ nữ Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam
được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới
trên tất cả các lĩnh vực. Những quy định đó cũng cho thấy tính chất tiến bộ
của pháp luật Việt Nam trên lĩnh vực này, nếu so sánh với pháp luật quốc tế.
Bình đẳng nam nữ (trên tất cả các phương diện) được khẳng định ngay từ
Hiến pháp năm 1946, khi nước Việt Nam mới được thành lập. Trong khi đó,
tính từ thời điểm Hiến pháp Mỹ được ban hành (1789), phải 133 năm sau
(1920) phụ nữ Mỹ mới được ghi nhận có quyền bình đẳng với nam giới về
bầu cử và ứng cử. Phụ nữ ở Thụy Sỹ đến năm 1971, phụ nữ ở Cô-oét mãi đến
năm 1991 mới được quyền bầu cử. Đó là chưa kể một số quốc gia, cho đến
9

thời điểm hiện nay, pháp luật vẫn chưa ghi nhận phụ nữ có các quyền bình
đẳng quan trọng này
Các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 của nước ta đã kế thừa những
nguyên tắc tiến bộ của Hiến pháp năm 1946 và liên tục bổ sung những nội
dung mới nhằm bảo đảm và thúc đẩy hơn nữa vị thế, việc hưởng thụ các
quyền con người của phụ nữ. Không những vậy, rất nhiều đạo luật quan trọng
như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân - Gia
đình, Luật Bình đẳng giới… cũng được Nhà nước ban hành và sửa đổi, bổ
sung qua các thời kỳ, nhằm cụ thể hóa các nguyên tắc về bình đẳng nam nữ
trong Hiến pháp.
Ngày 10/01/1967, ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành nghị quyết số
152 - NQ/TW về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ nữ “Tư tưởng

phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục
tiêu: Phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có
trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; có việc làm, được cải thiện rõ rệt về
đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc
xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội
và gia đình. Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình
đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực.
Ngày 15/07/2010, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ LĐ - TB và XH tổ
chức Hội thảo Dự thảo chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 -
2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Tại hội thảo Bộ
LĐ - TB - XH đã tổng kết Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng về
bình đẳng giới nhưng các đại biểu cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề bạo lực
trong gia đình, buôn bán phụ nữ trẻ em. Và Chính phủ đã giao cho Bộ LĐ -
TB - XH chủ trì xây dựng chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 - 2020.
Đặc biệt bình đẳng giới trong Hiến pháp (sửa đổi) 2013 cơ bản tiếp tục
kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp mới quy định các
vấn đề chung, có tính nguyên tắc liên quan đến gia đình tại Điều 16 (mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời
sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội) và Điều 26 (công dân nam nữ
bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình
đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển
toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội). Các quy định trực tiếp về
hôn nhân, gia đình được Hiến định tại Điều 36: nam nữ có quyền kết hôn, ly
11
hôn; hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ

12
những định kiến giới tác động với cả hai giới nhưng nhìn chung phụ nữ vẫn
chịu ảnh hưởng nhiều hơn.
2.2.2. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất Nông nghiệp
2.2.2.1. Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ là
người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đình
trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào
thu nhập của lao động nữ . Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất
nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt là ở các vùng Nông thôn, phụ nữ bị hạn chế
về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội
thấp. Trong số hơn 1,3 tỷ người trên Thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì
có đến 70% là nữ. Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về
mang thai, sinh đẻ…
Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực
lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các
lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy
nhà nước. Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong quốc hội (cao nhất ở Châu Á
và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội cao nhất thế giới); tỷ
lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69% [15].
Tuy nhiên, so với con số trung bình theo quy định của quốc tế tỷ lệ lao
động nữ là đại biểu quốc hội của Việt Nam chưa đạt và có xu hướng giảm
dần. Theo số liệu của Văn phòng Quốc hội thì tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia vào
quốc hội giai đoạn 1975 - 1976 là 32%; 1976 - 1981 là 27%; 1992 -1997 chỉ
còn 18,5%; 2002 - 2007 tăng lên là 27,31% [15].
Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ ngày càng tích cực, chủ động thực hiện
quyền công dân, tham gia các hình thức dân chủ trực tiếp ở cộng đồng. Đội

rửa bát).
Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia
đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ. Họ phải làm hầu
hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng
đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội.
Trong sinh hoạt cộng đồng: Phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động cộng
đồng tại xóm, thôn bản.
Có thể thấy những người nữ nông dân đang có vai trò hết sức quan trọng
trong sản xuất nông nghiệp. Mặc dù vậy, sản xuất của họ chỉ nhỏ lẻ thu hẹp
trong kinh tế hộ, họ thiếu kỹ thuật canh tác chăn nuôi, chủ yếu dựa trên kinh
nghiệm riêng của mỗi cá nhân. Họ cũng không có cơ hội học tập - đào tạo và
không được tiếp cận với thông tin thị trường và công nghệ. Vì thế mà năng
14
suất sản xuất không cao và kết quả phụ thuộc vào từng mùa vụ. Bên cạnh đó,
những người phụ nữ nông thôn còn đang phải đối diện với những vấn đề về
sức khoẻ như phải làm việc nhiều giờ trong ngày, lao động vất vả, kết hôn
sớm, sinh đẻ và nạo hút thai nhiều, dinh dưỡng kém, Mặc dù thu nhập từ sản
xuất nông nghiệp ít hơn nhiều so thu nhập của nam giới làm việc bên ngoài,
nhưng những người nữ nông dân ở đây vẫn ý thức được sự quan trọng của cây
lúa. Do vậy, họ vẫn mong muốn, hy vọng được tiếp cận với các giống cây
trồng mới và kỹ thuật canh tác tiên tiến để có thể nâng cao năng suất và sản
lượng của cây trồng.
Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và
những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình,
trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong bước tiến của nhân
loại. Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia
sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có

người bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em
không được đi học thì có tới 70% là trẻ em gái. Còn ở Việt Nam, theo thống
kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90%
tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước; chỉ có 0,63 % công nhân
kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46%. Tỷ lệ lao
động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là
0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới) [4]. Điều đó cho thấy trình độ học vấn và
chuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới.
Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp
không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm
kiếm thị trường, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất và đời sống. Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao
động của họ thấp.
* Yếu tố về sức khoẻ: Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa
phải thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú
bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức
khoẻ của họ bị giảm sút. Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao
động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc phát
triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn.
* Khả năng tiếp nhận thông tin: Do phụ nữ phải đảm nhận một khối
lượng công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động
cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm. Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh
người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải
thông tin khác.
16
* Các yếu tố chủ quan: Một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó là
nguyên nhân chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc
17
một doanh nghiệp phải được trả lương như nhau cho cùng một công việc như
nhau hoặc công việc có giá trị như nhau.
Trong giáo dục, Luật bình đẳng giới đề ra phụ nữ và nam giới có quyền
bình đẳng trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Đặc biệt Luật bình đẳng giới có 1 mục quy định: “Khi thành lập và bổ
nhiệm, bầu cử các thành viên của một cơ quan nhà nước, uỷ ban, hội đồng,
ban, có từ 4 thành viên trở lên thì mỗi giới phải có đại diện với tỷ lệ ít nhất là
40%”. Nếu cơ quan, đơn vị nào không đạt tỷ lệ đã quy định thì chính phủ
không cho phép thành lập. Do vậy, đến nay cơ quan các cấp ở Na Uy đã đạt
được tỷ lệ trung bình 43% nữ. Bên cạnh đó, một cơ quan thanh tra về bình
đẳng giới và chống phân biệt đối xử trực thuộc Bộ Gia đình và bình đẳng giới
cũng ra đời giúp chính phủ nhận đơn khiếu nại hoặc phát hiện những vấn đề
bất bình đẳng giới trình lên trên để cùng giải quyết.
Chế độ nghỉ thai sản và chăm sóc con cái cũng được Luật đề ra rất tốt.
Khi mang thai, nếu người phụ nữ đã đi làm ít nhất là 6 tháng trong vòng 10
tháng thai nghén sẽ được nghỉ chế độ và hưởng lương với số tiền không quá 6
lần số tiền bảo hiểm quốc gia cơ bản. Khi sinh nở, người mẹ được nghỉ 52
tuần hưởng 80% hoặc nghỉ 42 tuần hưởng 100% lương. Trong thời gian này,
mẹ phải nghỉ 3 tuần trước khi sinh, bố phải nghỉ bốn tuần theo chế độ người
cha. Ngoài ra, bố và mẹ được nghỉ từ 10 đến 20 ngày/năm chăm con ốm (kể
cả với con nuôi). Quỹ thời gian này người bố và mẹ tuỳ ý sử dụng trong thời
gian 2 năm. Nếu người phụ nữ không đi làm và không được hưởng chế độ
nghỉ đẻ thì được hưởng 32.138 NOK khi sinh con (tương đương 80.500.000
đồng Việt Nam). Từ năm 1992, bố mẹ không đi làm mà phải nuôi con dưới 7
tuổi đều được hưởng ba khoản trợ cấp một năm của Chính phủ.
Tuy nhiên, Luật bình đẳng giới tiến bộ nhưng chỉ nhằm tăng cường
quyền lực của phụ nữ ngoài xã hội chứ không bênh vực họ trong gia đình vì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status