Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển hộ ở xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÝ THỊ THƯỢNG
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khoá học : 2010 - 2014


Tên đề tài: T
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG SỰ
PHÁT TRIỂN HỘ Ở XÃ TUẤN MẬU
HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANGKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên, 2014 LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, thầy cô giáo khoa Kinh
tế và Phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi
đã hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tại xã Tuấn Mậu -
huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang với đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong sự
phát triển hộ ở xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”.
Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp Đại học em đã
nhận được sự quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong
và ngoài trường. Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ bảo của các thầy,
cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, xin chân thành cảm ơn Ủy
ban nhân dân xã Tuấn Mậu - huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ em
hoàn thành luận văn một cách tốt nhất.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới giảng viên PGS.TS. Dương Văn Sơn
đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình thực tập để em
hoàn thành tốt luận văn. Mặc dù đã rất cố gắng, song trong quá trình viết và
hoàn thiện chuyên đề không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong
các thầy giáo, cô giáo, chỉnh sửa bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các anh chị, bạn bè đã tạo điều
kiện và khích lệ em hoàn thành luận văn này.

Thái Nguyên, ngày 09 tháng 06 năm 2014
Sinh viên Lý Thị Thượng
Lý Thị Thượng DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động giai đoạn 2011 - 2013 32

Bảng 4.3: Lao động xã Tuấn Mậu chia theo giới tính giai đoạn 2011 – 2013 34

Bảng 4.4: Tình hình phát triển một số giống cây trồng trên địa bàn xã 35

Bảng 4.5: Trình độ của cán bộ hội đoàn thể nhiệm kỳ 2011 - 2016 41

Bảng 4.6: Tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp Ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể tại
xã nghiên cứu 42

Bảng 4.7: Tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động cộng đồng 43

Bảng 4.8: Sự phân công lao động của nông hộ trong khâu sản xuất nông
nghiệp 46

Bảng 4.9: Phân công lao động trong các hoạt động khác 49

Bảng 4.10: Tình hình tiếp cận thông tin của phụ nữ xã Tuấn Mậu 51


DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT

BCH : Ban chấp hành
ĐBQH : Đại biểu quốc hội
ĐVT : Đơn vị tính
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
KH - KT : Khoa học kỹ thuật
KT - XH : Kinh tế xã hội
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TC - CĐ - ĐH : Trung cấp - Cao đẳng - Đại học
TDTT : Thể dục thể thao
TH & THCS : Trung học và trung học cơ sở
TM - DV : Thương mại - dịch vụ
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
UBND : Uỷ ban nhân dân
2.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông
thôn 10

2.4. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 12

2.5. Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế nông thôn 13

2.6. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 17

2.6.1. Về vấn đề sức khoẻ 17

2.6.2. Về chuyên môn kỹ thuật 19

2.6.3. Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định 19

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 24

3.2. Nội dung nghiên cứu 24

3.3. Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 25


4.2.6. Vai trò trong việc giáo dục đào tạo và nâng cao trình độ 56

4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh
tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn 58

4.3.1. Yếu tố thuận lợi 58

4.3.2. Yếu tố cản trở 59

4.3.3. Nhận xét chung về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia
đình ở xã Tuấn Mậu - huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang 62

4.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vài trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn 63

4.4.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ 63

4.4.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao vài trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn 64

PHẦN 5
.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 67

5.1. Kết luận 67

5.2 Khuyến nghị 68

5.2.1. Đối với Nhà nước 68


trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh
vực. Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ,
người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình.
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ
trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng,… Ở khu vực nông thôn,
cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi
phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát
triển kinh tế xã hội, ổn định an ninh quốc phòng địa phương làm thay đổi diện
mạo khu vực nông thôn Việt Nam.

2
Tuấn Mậu là một xã miền núi của huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang
gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau cùng sinh sống, và có đến 50,5%
dân số là phụ nữ. Lực lượng này đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự
phát triển kinh tế - xã hội của toàn xã. Tuy nhiên, sự đóng góp của phụ nữ lại
chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí, vai trò
của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường người phụ nữ phải "nặng gánh hai vai",
vừa phải làm tốt công việc xã hội, vừa đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mặt
rong khi quỹ thời gian của họ cũng chỉ có như mọi người, sức khoẻ lại hạn
chế, Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh, nhưng quyền lợi về mọi
mặt của họ lại chưa được quan tâm đúng mức.
Qua quá trình công tác và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến phụ
nữ, nhiều câu hỏi được đặt ra cho bản thân, cho các cấp hội phụ nữ và chúng
ta: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay như thế
nào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện
nay ra sao? Giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao
năng lực cho phụ nữ? Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn
miền núi tại xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang trong việc phát

khoa học cho bản thân sinh viên.
+ Là tài liệu tham khảo cho nhà trường, cho khoa và các sinh viên khóa
tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
+ Những nghiên cứu và kết luận của đề tài là cơ sở khoa học cho các tổ
chức của nhà nước, các tổ chức xã hội và người dân tham khảo trong việc phát
triển kinh tế hộ gia đình nói riêng cũng như phát triển kinh tế xã hội nói chung.
+ Thấy được tầm quan trọng của phụ nữ và những mặt hạn chế của phụ
nữ khi tham gia vào xã hội để có giải pháp khắc phục. 4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Khái niệm và thuật ngữ liên quan
2.1.1. Khái niệm về giới và các thuật ngữ liên quan
Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Giới
tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể
thay đổi được [19].
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự
nhiên, di truyền.
Ví dụ: Người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ
giới, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới. Nữ

- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được đối xử tùy theo nó
là trai hay gái. Ðó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố
mẹ, anh chị dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình.
Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh.
Ví dụ: Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các
ngành cần có thể lực tốt.
Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các
ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ.
Sự khác biệt về giới:
Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là
thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ
nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và
cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới.
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn
về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng này cho
phép hộ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng
buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách
khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.

Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau
để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức để
khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc để nhận thức, nắm

6
bắt các thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình,
ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng,
phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau.
* Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới

7
trì nòi giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản
xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động
cho hiện tại và tương lai như: Nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên
trong gia đình, làm công việc nội trợ, vai trò này hầu như của người phụ nữ.

- Vai trò cộng đồng: Thể hiện những hoạt động tham gia thực hiện ở
mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng để thực
hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng.

2.1.2. Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế, nông thôn
*Phát triển: Là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự
tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống [10].
* Phát triển kinh tế: Có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền
kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về
quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội.
Khái niệm về nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ của một Nhà nước
hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên,
hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ
yếu làm nông nghiệp [23].
Theo khái niệm về xây dựng nông thôn mới, nông thôn được định nghĩa
thống nhất như sau: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội
thị của các thành phố, thị xã, thị trấn hay phường, được quản lý bởi cấp quản
lý cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”.
2.1.3. Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông thôn
* Hộ gia đình: Có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định
nghĩa khái niệm hộ gia đình:
- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân
- Cùng cư trú

giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2
trong tổng sản lượng nông nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc
khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công
nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao.
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ là
người tạo ra phần lớn thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đình trên thế
giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập
của lao động nữ [3]. Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều

9
nước trên thế giới. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế về
mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội thấp.
Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì đến
70% là nữ. Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các chứng về mang thai,
sinh đẻ,
Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực
lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các
lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy
Nhà nước. Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong Quốc hội (cao nhất ở Châu Á)
là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới); tỷ lệ
nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69%. Nghĩa vụ
công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một
trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài
của đất nước. Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế,
khoa học, chính trị và xã hội. Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò
quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội.
Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng
sản xuất và tái sản xuất. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội
nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển. Vai trò của phụ nữ

chính trị, xã hội. Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng
động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội.
Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào
quá trình phát triển kinh tế [7].
* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ
còn nhiều hạn chế: Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin
nghe nhìn và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc
lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt
còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ
dường như ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh
thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn
thời gian còn lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ
thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội. Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình
chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10%. Theo thông báo
của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu người bị mù
chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em không được đi

11
học thì có tới 70% là trẻ em gái. Còn ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ
lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm gần 90% tổng số lao động
không qua đào tạo trong cả nước; chỉ có 0,63% công nhân kỹ thuật có bằng là
nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46%. Tỷ lệ lao động nữ có trình
độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là 0,077% (gấp 5 lần
so với nữ giới) [12]. Điều đó cho thấy trình độ học vấn và chuyên môn nghề
nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới. Phụ nữ bị hạn chế
về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn trong việc
nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường khó khăn
trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời
sống. Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao động của họ thấp.
* Yếu tố về sức khoẻ: Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa

việc nhiều hơn nam giới 12 - 13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn. Hầu
hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùng
một loại công việc. Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50% - 90% thu nhập
của nam giới [5].
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ
tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số tài liệu thống
kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó:
Bangladesh: Có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động
so với 82,5% nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ
nữ thành thị (28,9%). Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
nhiều nhất ở độ tuổi 30 - 49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25 - 29, 50 - 54. Đáng
chú ý rằng, gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60 - 64 vẫn tham gia lực
lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc biệt
phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động [7].
Trung Quốc: Nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao
nhất từ 20 - 29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30 - 39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm tuổi
cao hơn. Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60 -
64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ
thành thị cùng nhóm tuổi [7].
Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp: Nhìn chung, trình độ chuyên môn
kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp. ở
các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được

13
học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai.
Ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp
cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi
theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do tự học
từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những người thân của mình. Một
hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt theo phương pháp này

Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những
năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau: Do sự gia tăng tự nhiên số
người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta có khoảng 80 - 90
vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó: Lao động nữ chiếm 55%.
Do quá trình chuyển đổi cớ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ
chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc.
Do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90, khiến
cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn tiêu thụ
hàng hoá, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp.
Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cảnh tranh yếu nên nhiều hợp
tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá
sản. Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ
công này phải trở về nghề nông.
*Vai trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh
tế - xã hội: Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóng
phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Quyền bình đẳng của phụ nữ đã được ghi trong Điều 36 Hiến pháp Việt Nam
năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi và bổ sung năm 2002) một
lần nữa khẳng định: "Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính
trị, kinh tế, xã hội và gia đình. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ
nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã
hội". Trên tinh thần đó, các tầng lớp phụ nữ đã tích cực học tập, lao động sáng
tạo, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực và giữ vị trí quan trọng.
Phụ nữ trong hệ thống dân cử:
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm của phụ nữ trong xã hội và trong
quản lý Nhà nước. Chỉ thị 37 - CT/TW ngày 16/5/1994 khẳng định "nâng cao
tỷ lệ nữ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế là một yêu cầu quan trọng

15

xứng lực lượng lao động và năng lực đóng góp của phụ nữ.

16
Trong các doanh nghiệp:
Trong hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp,
có 15% phụ nữ đứng đầu hoặc nắm cương vị chủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm quản
lý doanh nghiệp ở một sự ngành dệt, may mặc, giầy dép, thực phẩm,… chiếm
hơn 50%, ở các ngành giao thông, vận tải, xây dựng, khai khoáng,… chiếm
20%. Trong 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình có 27% phụ nữ điều hành [12].
Bên cạnh việc tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, phụ nữ
Việt Nam còn luôn cố gắng làm tròn nhiệm vụ người vợ, người mẹ gánh vác
công việc nội trợ. Trong hoàn cảnh còn thiếu thốn, phụ nữ nông thôn phải lo
cho gia đình đủ cơm ăn, con cái được học hành và khoẻ mạnh. Người phụ nữ
còn là người giữ gìn, truyền thụ những giá trị văn hoá nét đẹp của dân tộc ta
từ thế hệ này sang thế hệ khác, gia đình Việt Nam đến nay vẫn giữ được
truyền thống tốt đẹp là do công lao to lớn của người phụ nữ.
* Đường lối, chủ trương của Ðảng và Nhà nước Việt Nam đối với phụ nữ:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đến việc giải phóng phụ nữ.
Bác nhấn mạnh: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng được
một nửa loài người”. Người cho rằng, muốn giải phóng phụ nữ trước hết phải
giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tư tưởng trọng nam khinh nữ, ra khỏi
sự bất công trong gia đình mình cũng như xã hội, đồng thời nâng cao vị thế
của họ trong xã hội. Thế nên, Người đã yêu cầu các ngành, các địa phương
phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, để
phụ nữ phát huy quyền và khả năng công dân của mình
Tiếp tục kế thừa và phát huy tư tưởng của người, Đảng và Nhà nước ta
ban hành và thực hiện không ít những quyết sách mang tính chiến lược đối với
vấn đề phụ nữ như: Nghị quyết số 04 - NQ/TW, ngày 12/4/1993 của Bộ Chính
trị “Về đổi mới và tăng cường vận động phụ nữ trong tình hình mới ”; Chỉ thị
số 37 - CT/TW, ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status