ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HẢI HẬU
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
ng dâ
̃
n khoa ho
̣
c: PGS.TS. NGUYỄN ĐỨC BÁCH
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đức Bách. Các số liệu, kết quả trong luận
văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan khoa học, và các tài liệu có nguồn
gốc rõ ràng.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Học viên
Nguyễn Hải Hậu
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Tình hình nghiên cứu 5
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 8
Nguyên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa 49
2.1.2. Những vấn đề đặt ra trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ Thái
Nguyên đối với phát triển kinh tế 58
2.2. Những quan điểm cơ bản và nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai
trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa 62
2.2.1. Những quan điểm cơ bản 62
2.2.2. Những nhóm giải pháp chủ yếu 64
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đông đảo những người lao động của
xã hội. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực đời sống xã
hội, họ không chỉ sản xuất ra của cải vật chất mà còn là lực lượng xã hội sáng
tạo nhiều sản phẩm tinh thần và góp phần rất lớn tái sản xuất ra con người để
duy trì và phát triển xã hội. Đối với phụ nữ, dường như vai trò, chức phận của
họ xưa nay vẫn vậy. Trong gia đình, phụ nữ như là “nội tướng” - sinh con,
nuôi dạy con, tổ chức cuộc sống, “giữ lửa” gia đình… Đối với xã hội, khi đất
nước bị xâm lăng, người phụ nữ tiễn chồng con ra trận, ở lại hậu phương sản
xuất nuôi quân. Và đến lượt mình, cũng lại xông pha, cũng là đội quân tóc dài
- “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai
miền Nam, Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta.
Bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,
phụ nữ Việt Nam càng phải vượt qua biết bao thách thức to lớn để đáp ứng
yêu cầu của xã hội hiện đại. Phụ nữ tham gia hầu hết các lĩnh vực của đời
sống xã hội, nhiều người được giao đảm nhiệm các vị trí quan trọng của
Đảng, chính quyền, đoàn thể ở các cấp từ trung ương đến địa phương. Ngày
tới… như thế nào? Những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá
trình nâng cao vai trò, năng lực và hiệu quả hoạt động của phụ nữ Thái
Nguyên, đặc biệt là tạo những điều kiện để họ góp phần tốt hơn cho phát triển
kinh tế, gắn liền với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của
Tỉnh Thái Nguyên ra sao…?
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và từ mong muốn có đóng góp nhỏ
bé vào sự phát triển chung của Thái Nguyên, trong đó có phong trào phụ nữ
của tỉnh nhà, tôi xin lựa chọn đề tài: “Vai trò của phụ nữ đối với phát triển
kinh tế tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã
hội khoa học của mình.
5
2. Tình hình nghiên cứu
Địa vị của người phụ nữ trong các chế độ xã hội cũ, nhất là trong chủ
nghĩa tư bản và con đường giải phóng phụ nữ được các nhà kinh điển chủ
Mác – Lênin tập trung nghiên cứu trong các tác phẩm: “Nguồn gốc của gia
đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, “Gia đình thần thánh”v.v Tìm
hiểu về địa vị của người phụ nữ trong xã hội tư bản chủ nghĩa, C.Mác và
Ăngghen đã rất khách quan khi cho rằng: sự phát triển của công nghiệp tư bản
chủ nghĩa tạo ra những điều kiện cho phụ nữ có thể tham gia vào các công việc
sản xuất xã hội, song chỉ đối với phụ nữ vô sản mà thôi. Mặc dù vậy, đó cũng là
một xu hướng tiến bộ, bởi vì đó chính là tác nhân quan trọng góp phần từng
bước làm thay đổi nhận thức của xã hội về vị trí và vai trò của phụ nữ.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước ta ngay từ những
ngày đầu cách mạng đã quan tâm đến vấn đề này, coi việc nâng cao vị trí, vai
trò của phụ nữ trong gia đình và trong xã hội là nhiệm vụ của sự nghiệp giải
phóng phụ nữ. Điều đó được thể hiện trong bài viết: “Ba cuộc cách mạng với
vấn đề giải phóng phụ nữ” (1996), “Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ
nữ”. Người viết “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số dân, để xây dựng chủ nghĩa
Báo chí và Tuyên truyền, số 2 năm 2000, trang 34 – 36, của Nghiêm Sĩ Liêm;
“Gia đình và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước” (2002), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Đỗ Thị Bình
(Chủ biên).
Ở những góc độ khác nhau những công trình này đã đề cập đến đặc
điểm của gia đình Việt Nam, phân tích thực trạng vai trò của phụ nữ trong gia
đình và xã hội ở nước ta, đồng thời, cũng nêu ra những phương hướng và giải
pháp thiết thực góp phần xây dựng gia đình Việt Nam, phát huy vai trò to lớn
của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.
Ba là, các công trình nghiên cứu gia đình và vai trò của người phụ nữ
dưới góc độ giới, với các đề tài:
7
“Phụ nữ giới và phát triển” (1996), Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội của
Lê Ngọc Hùng và Trần Thị Vân Anh;
“Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam” (1998), Nhà
xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, của Lê Thi;
“Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình” (2003), Nhà xuất bản Khoa học
xã hội, của Nguyễn Linh Khiếu.
Những công trình trên bước đầu đặt cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
phụ nữ - gia đình theo phương pháp tiếp cận giới – một phương pháp nghiên
cứu mới nhưng rất hiệu quả bởi các công trình này nghiên cứu vai trò của phụ
nữ trong mối quan hệ với nam giới.
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về Thái Nguyên, về quá trình
phát triển kinh tế của tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước:
“Thái Nguyên - thế và lực mới trong thế kỷ XXI (2007), Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, của Chu Viết Luân (chủ biên);
“Phát huy vai trò của công nhân Thái Nguyên trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (2009) của Hoàng Thị Ngân;
4.1. Cơ sở lý luận của luận văn
Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phụ nữ và vai trò của phụ nữ.
4.2. Cơ sở thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu và khảo sát vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã
hội ở Thái Nguyên trong những năm gần đây. Những chính sách thể hiện sự
quan tâm đến phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Thái Nguyên.
4.3. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Sử dụng phối hợp các phương pháp như duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, phương pháp logic – lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp
thống kê, phương pháp diễn dịch và quy nạp… để phục vụ cho luận văn.
9
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về vai trò của phụ nữ đối với phát triển kinh tế
của tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
5.2. Phạm vi nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu là nguồn nhân lực phụ nữ Thái Nguyên trong
phát triển kinh tế của tỉnh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Pham vi và khoảng thời gian nghiên cứu: luận văn nghiên cứu nguồn
lực phụ nữ tỉnh Thái Nguyên trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm
2014.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn nữa một số nhận thức về phụ nữ
và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế đất nước, trong đo có phụ nữ
tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở
rộng hợp tác quốc tế.
số từ tiêu biểu hay gặp là đàn bà, phụ nữ, con gái Cách hiểu những từ này
còn rất khác nhau, do đó, cần phải chuẩn hóa chúng để tránh những thành
kiến, những hiểu lầm hay những sai sót trong việc sử dụng. Phụ nữ chỉ một,
một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là đã trưởng
thành về mặt xã hội. Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể
hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng. Nó đề cập đến,
hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất là không xấu, đến những
giá trị, những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này. (Có
những cái nhìn khắt khe đòi hỏi một phụ nữ phải trưởng thành trên nhiều
phương diện như tâm lý, sinh lý, vị trí trong gia đình, vị trí trong xã hội ).
Đàn bà có một định nghĩa tương tự, nhưng bản thân nó đã không thể
hiện sự trang trọng. Nó cho một cái nhìn bao hàm nhiều mặt, cả về khía cạnh
xã hội cũng như bản chất sinh học Thông thường, chỉ nên sử dụng từ "đàn
11
bà" khi cần một cái nhìn thật sự trung lập, hoặc muốn thể hiện một thái độ
thiếu thiện cảm, một chút kỳ thị đối với nữ giới đó, bởi nó khiến người ta liên
tưởng đến những mặt xấu, hoặc được cho là xấu, mang đặc trưng và thường
gặp ở nữ giới (ví dụ như lắm mồm, ích kỷ, nông cạn ). Nếu so sánh hai từ
"phụ nữ" và "đàn bà" thì "đàn bà" được cho là suồng sã hơn, thô thiển hơn,
tiêu cực hơn. Ví dụ, khi người Việt nói về một người đàn ông: Tay này "đàn
bà" lắm thì có nghĩa chê người đó tính khí “không đàn ông chút nào”, thậm
chí còn “quy” về sự yếu đuối, nhỏ nhen.
Con gái chỉ những nữ giới trẻ, thường ở độ tuổi vị thành niên và thanh
niên, những người đã có biểu hiện rõ ràng của giới tính nữ (nhỏ hơn nữa thì
được gọi là bé gái) nhưng chưa được cho là trưởng thành. Ngoài ra, còn một
số từ khác để chỉ đối tượng nữ giới, như "mụ", "thị" nhưng ít được sử dụng
hơn và thường là khi thể hiện thành kiến cá nhân, thậm chí kinh miệt đối với
một người phụ nữ nào đó
Thật khó để đưa ra những định nghĩa chính xác, và cũng không nên đưa
hội.Người phụ nữ là người thiết tha nhất với hạnh phúc gia đình, đóng vai trò
rất quan trọng giữa gia đình và xã hội trong mọi thời đại.
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 vai trò
của phụ nữ được các quan điểm của Đảng ta và Hiến pháp, pháp luật Nhà
nước ta chính thức xác nhận, thực thi và bảo vệ … đúng với chân giá trị con
người của nó. Bác Hồ đã từng nói: Non sông gấm vóc Việt Nam đều do phụ
nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm rực rỡ.
Nghị quyết số 04/NQ-TW của Bộ Chính trị ra ngày 27-7-1993 đã
khẳng định: “Phụ nữ vừa là người công dân, người lao động, vừa là người mẹ
và người thầy đầu tiên của con người”; “Phụ nữ có vai trò quan trọng trong
xây dựng gia đình cần tạo điều kiện để phụ nữ kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ
công dân và chức năng người mẹ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”.
13
Ở việc thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ, phụ nữ là người tạo dựng nên
nhân cách con người từ trong bụng mẹ, là “tay hòm chìa khoá", là trung tâm các
mối quan hệ tình cảm, là người tích cực nhất trong gia đình, giữ gìn, bảo vệ bản
sắc văn hoá dân tộc, phong tục tập quán tốt đẹp ở làng, thôn, khu phố.
Ngày nay, đất nước mở cửa hội nhập quốc tế, kinh tế phát triển, đặc
biệt kinh tế hộ gia đình càng có điều kiện phát triển, nhiều nữ doanh nhân làm
giàu chính đáng cho gia đình, cho đất nước. Phong trào làm từ thiện ngày
càng lan rộng ra nhiều tổ chức, cá nhân… Song ở nơi này, nơi khác còn phát
sinh ra những biểu hiện, những hành vi tiêu cực do ảnh hưởng của đồng tiền,
vàng, USD làm khuynh đảo mọi giá trị đạo đức như con bất hiếu với cha mẹ,
tình cảm vợ chồng anh em phai nhạt, tệ nạn cờ bạc, nghiện hút… Việc hạn
chế, đẩy lùi những tồn tại nêu trên càng đòi hỏi vai trò của người mẹ, người
vợ trong gia đình, nhà trường, xã hội rất lớn, đặc biệt người mẹ trực tiếp dẫn
con bước qua các cửa ải phi đạo đức và sự ngu dốt, tạo cho con có ý chí, nghị
lực vượt khó khăn trong cuộc đời.
chức năng nội trợ và sinh đẻ đơn thuần, mà còn có khả năng tham gia làm
kinh tế, tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình. Nhờ đó phụ nữ ngày càng trở nên
chủ động hơn về kinh tế và không còn lệ thuộc hoàn toàn vào người đàn ông.
Khẳng định điều này, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Chúng tôi coi khuynh
hướng của nền công nghiệp hiện đại thu hút trẻ em và thiếu niên nam nữ tham
gia vào công việc sản xuất xã hội lớn lao là một khuynh hướng tiến bộ, lành
mạnh và chính đáng, mặc dù, trong chế độ tư bản nó đã mang những hình
thức quái gở‟‟ [36, tr.216].
Theo C.Mác và Ph. Ăngghen, việc sử dụng lao động nữ trong nền sản
xuất công nghiệp tư bản chủ nghĩa còn tạo ra cơ sở kinh tế mới cho sự phát
triển của gia đình ở hình thức cao hơn, đồng thời là yếu tố dẫn đến những
thay đổi trong quan hệ giữa nam và nữ khẳng định điều này được, C.Mác viết:
“…Trong khi đem lại cho phụ nữ, thiếu niên và trẻ em trai gái một vai trò
15
quyết định trong quá trình sản xuất xã hội có tổ chức ngoài phạm vi gia đình,
đại công nghiệp cũng vẫn tạo ra một cơ sở kinh tế mới cho hình thức cao hơn
của gia đình.”
Tuy vậy, trong chủ nghĩa tư bản, việc sử dụng lao động nữ trong nền
sản xuất xã hội lại dẫn đến sự mâu thuẫn và xung đột giữa việc thực hiện chức
năng gia đình và chức năng xã hội của người phụ nữ. Sự xung đột này không
thể giải quyết triệt để trong chủ nghĩa tư bản, trái lại, nó càng làm trầm trọng
thêm tình trạng “một cổ hai tròng’’ của người phụ nữ, bởi lẽ họ vừa bị nô
dịch trong gia đình, vừa bị áp bức ngoài xã hội, khi giới chủ tư bản tìm mọi
thủ đoạn tinh vi để bóc lột lao động nữ và trẻ em - là loại lao động rẻ mạt và
dễ “sai khiến‟‟. Thực chất, giới chủ tư sản sử dụng lao động nữ trong các
công xưởng hoàn toàn không phải vì mục đích giải phóng họ khỏi những
công việc nặng nhọc trong gia đình, mà trước hết vì chính lợi ích của nhà tư
bản, đó là nhằm bóc lột lao động ngày càng nhiều hơn và tinh vi hơn, do vậy,
những xí nghiệp lớn thích mua lao động của đàn bà và trẻ em vì đây là loại
cuộc đấu tranh giải phóng các giai cấp bị áp bức bóc lột, giải phóng phụ nữ.
Nhưng bản thân chủ nghĩa tư bản khi xác lập vị trí của nó trên vũ đài lịch sử
lại không giải phóng được con người nói chung, phụ nữ nói riêng khỏi sự áp
bức trong gia đình và xã hội, thậm chí nó còn làm tăng cường sự áp bức bóc
lột và làm tha hóa phụ nữ. Thời gian làm việc quá nhiều, làm cho phụ nữ
không có điều kiện chăm sóc gia đình, chăm sóc con cái mà chủ yếu giao phó
cho người xa lạ trông nom, đứa trẻ vì thế, do mẹ chúng phải làm việc quần
quật 12 tiếng/ngày. Ăngghen mô tả: Những đứa trẻ lớn lên trong những điều
kiện như thế sau này đối với gia đình sẽ không có chút gì quyến luyến, đôi khi
ở trong gia đình mà chính bản thân họ xây dựng, chúng cũng không thấy
hương vị gia đình, vì chúng đã quá quen với cuộc sống lao động, điều đó tất
nhiên sẽ làm cho gia đình công nhân càng bị phá hoại nghiêm trọng [36,
tr.509].
17
Cho dù phải làm việc đầu tắt mặt tối cả ngày, song phụ nữ chỉ kiếm
được những đồng lương ít ỏi để có thể trang trải chút ít về điều kiện sống hiện
tại. C.Mác viết: “Tôi biết nhiều phụ nữ, là những người góa bụa có con nhỏ,
làm việc vất vả mà mỗi tuần cũng kiếm được 8-9 silinh, mà mỗi người khi đã
biết được giá cả những vật phẩm cần thiết nhất cho đời sống ở Anh th
́
ì phải
thừa nhận rằng, món tiền ít ỏi ấy không thể nào nuôi sống gia đình được‟‟ [38,
tr. 502]. Vì vậy, nhà ở của họ rất tồi tàn, không có dụng cụ nhà bếp, không có
đồ dùng để giặt giũ, may vá, thiếu mọi thứ có thể làm cho đời sống văn minh
vui thú, làm cho gia đình hấp dẫn. C.Mác cho rằng: chỉ có cái chế độ nhục
nhã này mới khuyến khích người ta làm như thế, trẻ con sống như cây cỏ
dại, phụ nữ lao động giống như một nô lệ và phải chịu bao thứ tai họa.
Như vậy, trong chủ nghĩa tư bản, người phụ nữ phải tham gia vào quá
trình lao động xã hội như nam giới, thậm chí họ rơi vào tình cảnh bị bóc lột
phụ nữ nói riêng không phải là sự hà hiếp vặt vãnh, không phải là những thủ
đoạn bóc lột và thủ đoạn làm tiền ti tiện nào đó, mà chính là do chế độ tư bản
chủ nghĩa. Chế độ này khi xác lập vị trí của nó trên vũ đài chính trị thì nó
không thể giải phóng con người nói chung, giải phóng người phụ nữ nói riêng
khỏi sự áp bức gia đình và xã hội mà thậm chí còn làm tha hóa người phụ nữ.
Sự cùng khổ của lao động nữ dưới chủ nghĩa tư bản và sự bất bình đẳng
về giới đối với phụ nữ là vô cùng khủng khiếp. Vì chủ nghĩa tư bảnvới nền
tảng của nó là chế độ tư hữu đã không thể nào giải phóng phụ nữ, không tạo
điều kiện để phụ nữ phát huy vai trò của mình trong gia đình và ngoài xã hội,
mà còn tăng thêm sự áp bức bóc lột và sự tha hóa đối với họ. Điều đó cho
thấy cần có một cuộc cách mạng xã hội nhằm giải phóng người lao động bị
bóc lột - giải phóng phụ nữ, đó chính là cuộc cách mạng chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, chủ nghĩa Mác- Lênin, một mặt đã đánh giá cao vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế, mặt khác cũng chỉ rõ trong chủ nghĩa tư bản,
do bị chế định bởi chế độ chiếm hữu tư nhân, tư bản chủ nghĩa, nên vai trò
19
của phụ nữ trong phát triển kinh tế chưa được phát huy và tạo điều kiện để
hướng tới phát triển kinh tế gia đình, phát triển kinh tế xã hội và giải phóng
chính bản thân phụ nữ.
Trong lịch sử xã hội Việt Nam cổ truyền, vị trí, vai trò của phụ nữ, xét
về mặt kinh tếgắn liền với quá trình sản xuất cũng cũng có những biểu hiện rõ
ràng, qua các thời đại khác nhau. Việt Nam bước vào thời kỳ nông nghiệp rất
sớm, cách đây hàng vạn năm, nghề trồng lúa - tiếp theo thời kỳ trồng bầu bí,
cây củ và cây ăn quả- cũng ra đời sớm, từ 5, 6 ngàn năm nay. Di tích các nữ
thần nông nghiệp “Bà Dâu‟‟, “Bà Đậu‟‟, nghi lễ cúng “Mẹ lúa‟‟. Điều này đã
phản ánh công lao phát minh và vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam trong
thời nông cổ. Đặc điểm của nghề trồng lúa nước đòi hỏi lao động cần cù, tỉ
mỉ, tinh tế “cày sâu cuốc bẫm nó đã qui định sự ra đời sớm của kinh tế tiểu
nông. Trong khuôn khổ của nền văn minh nông nghiệp cổ truyền - với nghề
nhuận trung bình từ 35% đến 50%; cùng thời gian đó có 5.548 tai nạn lao
động, trong đó 2.200 phụ nữ và thiếu nhi đã chết để làm giàu cho bọn thực
dân‟‟ [26, tr.12].
Trong khi đó chủ nghĩa tư bản rêu rao chiêu bài tự do, bình đẳng, bác
ái, đó chỉ là hình thức mị dân của chủ nghĩa tư bản để trang điểm cho cái huy
chương mục nát của nó chứ thực ra là dân một nước thuộc địa thì chẳng bao
giờ được hưởng điều đó cả. Vì vậy, khi đến thăm tượng nữ thần tự do ở Hoa
Kỳ, Hồ Chủ tịch đã nhận xét: Trong khi người ta tượng trưng cho tự do và
công lý bằng một người đàn bà bằng xương bằng thịt. Chủ nghĩa thực dân
không từ một hành động bạo ngược nào đối với phụ nữ. Những người phụ nữ
bản xứ bị coi như xúc vật, bị đánh đập, bị hành hạ bị bóc lột rất dã man.Mặc
dù công việc làm như nhau nhưng tiền lương của họ bao giờ cũng thấp hơn
nam giới. Sinh đẻ là chức năng vốn có của phụ nữ nhưng trong thời gian sinh
đẻ, họ lại không được nghỉ, thậm chí có nguy cơ mất việc làm. Phụ nữ còn
phải nộp sưu cao, thuế nặng, phải mua rượu và thuốc phiện, nếu không có tiền
21
mua thì phải đi tù. Biết bao hình ảnh như chị Dậu, anh Pha trong tác phẩm
“Tắt đèn‟‟ và “Bước đường cùng‟‟ khi nghe tiếng trống thúc thuế sợ hãi đến
kinh hoàng, phải chạy vạy đủ cách để khỏi bị khảo tra, bị gông cùm.
Tư tưởng "Trọng nam khinh nữ‟‟ được chủ nghĩa thực dân biện bạch là
hợp lý, là không thay đổi được. Những phong tục tập quán lạc hậu, cổ hủ, đạo
đức phong kiến “Tam tòng tứ đức‟‟ được khuyến khích duy trì để trói buộc
đày đọa, chà đạp lên tình cảm của phụ nữ. Vì vậy, người phụ nữ không những
bị hành hạ, thiếu thốn về vật chất mà còn cả tinh thần, tình duyên dang dở,
chịu cảnh lẻ mọn làm thiếp, bị gia đình chồng ngược đãi, đánh đập. Giai cấp
thống trị còn ra sức đặt thêm nhiều luật lệ duy trì những tập quán hủ bại để
ngăn cấm chị em tham gia hoạt động chính trị, xã hội. Chúng cấm chị em
không cho tham gia bộ máy chính quyền các cấp, hạn chế việc học tập, đào
tạo nghề cho phụ nữ, kìm hãm sự phát triển trí tuệ, tài năng của họ. Chúng
lao động cần cù [27, tr.7]. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp
và đế quốc Mỹ của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng do ý thức được trách
nhiệm và nghĩa vụ của mình, phụ nữ Việt Nam đã tích cực tham gia sản xuất
cũng như tham gia trên khắp các mặt trận ở tiền tuyến phục vụ chiến đấu và
trực tiếp chiến đấu giành độc lập cho dân tộc. Trong kháng chiến chống Mỹ,
phụ nữ Việt Nam đã hăng hái tham gia phong trào “ba đảm đang‟‟ vừa giết
giặc nơi tiền tuyến, vừa bảo vệ hậu phương, tích cực thi đua sản xuất bảo đảm
cho dân ta ăn no để đánh thắng quân xâm lược. Phong trào phụ nữ “Ba đảm
đang‟‟ ở miền Bắc được phát huy cao độ. Người phụ nữ vừa là cô du kích
đánh trả máy bay Mỹ, vừa là người lao động chính trên ruộng đồng, cũng lại
là người vợ, người mẹ đảm đang trong gia đình để chồng con ra chiến trường
chiến đấu. Bài hát nói lên điều đó: “Từ ngày anh đi việc đồng em giỏi dang,
ruộng cấy chang dây, cây lúa thẳng hàng, đào đắp nương nước dẫn quanh
làng, tiếng hát ba đảm đang‟‟. Nhiều bà mẹ với tinh thần yêu nước cao cả đã
động viên chồng con đi đánh giặc không sợ gian khổ, nguy hiểm. Nhiều phụ