I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V VN HUN
ĐặC ĐIểM CủA PHáP LUậT
TRONG NHà NƯớC PHáP QUYềN Và định HƯớNG
PHáT TRIểN Hệ THốNG PHáP LUậT VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
H NI 2014
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V VN HUN
ĐặC ĐIểM CủA PHáP LUậT
TRONG NHà NƯớC PHáP QUYềN Và định HƯớNG
PHáT TRIểN Hệ THốNG PHáP LUậT VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS. TSKH. O TR C
H NI 2014
1.1.2. Học thuyết tư sản về nhà nước pháp quyền .......................................... 8
1.1.3. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong học thuyết MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.......................................................... 10
1.2.
Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền........ 12
1.2.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền ........................................................ 12
1.2.2. Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền ............................ 12
1.3.
Những quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam XHCN .................................................................... 13
1.4.
Đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền ................... 18
1.4.1. Các chuẩn mực quốc tế về đặc điểm của pháp luật trong nhà
nước pháp quyền ................................................................................. 18
1.4.2. Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực pháp luật ........ 18
1.4.3. Đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền .......................... 20
Chương 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN NAY.......................................................................................... 32
2.1.
Quan niệm về hệ thống pháp luật .................................................... 32
2.2.
Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam ........................................ 32
Đổi mới việc lập và thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh ....... 77
Hoàn thiện pháp luật về đổi mới quy trình, nâng cao chất lượng
công tác xây dựng pháp luật ................................................................. 79
Tăng cường các điều kiện bảo đảm xây dựng pháp luật ..................... 80
Nâng cao chất lượng công tác tổ chức thi hành pháp luật ............ 81
Tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật ............................... 81
Phát triển hệ thống thông tin và phổ biến, giáo dục pháp luật,
tăng cường năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống
pháp luật .............................................................................................. 82
Phát triển hệ thống đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm
công tác pháp luật................................................................................ 83
Thiết lập cơ chế và thiết chế tài phán đối với các vi phạm
Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp ...... 84
Hoàn thiện quy định và thực hiện pháp luật về dân chủ .............. 85
Hoàn thiện quy định và bảo đảm thực thi pháp luật về
quyền con người, nhân đạo hóa vì con người ................................. 86
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 90
3.7.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHYT:
Bảo hiểm y tế
HĐND:
tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ năm 1994, và từ đó đến nay
Đảng ta luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện và cụ thể hóa trong các văn kiện của
Đảng. Hai mươi năm đã trôi qua nhưng đến nay hệ thống lý luận nghiên cứu
về nhà nước pháp quyền XHCN còn chưa được xây dựng một cách đầy đủ,
toàn diện và khoa học. Nhiều nội dung đặc trưng của Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện.
Việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là
nhiệm vụ có tính tất yếu trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về phương pháp và
tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng
Nhà nước pháp XHCN Việt Nam là xây dựng phương thức tổ chức nền chính
trị nhằm duy trì và phát huy dân chủ XHCN, làm cho nhà nước thật sự trong
sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và quản lý xã hội.
Cùng với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, hệ thống pháp luật
Việt Nam trong gần ba thập kỷ qua kể từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi
mới đã có sự phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Quy
1
trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới. Nhiều bộ luật,
luật, pháp lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn
chỉnh hơn để nhà nước quản lý bằng pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Nguyên tắc pháp quyền từng bước được đề cao và phát huy trên thực
tế. Công tác phổ biến và giáo dục pháp luật được tăng cường đáng kể. Những
tiến bộ đó đã góp phần thể chế hoá đường lối của Đảng, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý điều hành của nhà nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ
vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, do được xây dựng
trên nền tảng của một hệ thống chính trị - pháp lý đặc thù của thời kỳ chuyển
đổi từ nền kinh tế XHCN sang kinh tế thị trường nên nhiều khía cạnh pháp
pháp thực hiện; Các giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của các trường
đại học chuyên luật (ĐH Luật Hà Nội, ĐH Luật TP.HCM, Khoa luật ĐHQG,
Khoa luật ĐH Vinh, Khoa luật ĐH Huế, Cần Thơ…) cũng đề cập nhiều vấn
đề lý luận về nhà nước pháp quyền, khái niệm pháp luật, đặc điểm của pháp
luật…; Luận án Tiến sĩ luật học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam” của NCS. Lê Minh Tâm (năm
1992) đã giải quyết khá cơ bản các vấn đề lý luận về hệ thống pháp luật, xây
dựng các khái niệm khoa học và những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá mức độ
hoàn thiện của một hệ thống pháp luật, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề
xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn đầu
của thập kỷ 90 thế kỷ trước; Các công trình nghiên cứu, bài viết khác bàn về hệ
thống pháp luật như: “Các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt
Nam” của tác giả Trần Ngọc Đường; “Những vấn đề cơ bản về nhà nước và
pháp luật” của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; “Về khái niệm hiệu
quả pháp luật và những tiêu chí xác định hiệu quả pháp luật” của tác giả Lê
Minh Tâm (đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật tháng 11/2000); Bài viết
“Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp
3
quyền XHCN” của PGS.TS. Hà Hùng Cường (đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp năm 2009); Bài viết “Một số đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết
số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam” của TS. Dương Thị Thanh Mai và ThS. Nguyễn Văn Hiển (đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp năm 2009)…
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận về
pháp luật và nêu những bất cập của hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời
đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng pháp luật và tổ chức
thi hành pháp luật. Tuy nhiên các công trình này đều có điểm chung là nghiên
Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là tư tưởng về nhà nước
pháp quyền và pháp luật trong nhà nước pháp quyền. Đồng thời dựa trên quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng ta về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Cơ sở thực tiễn của đề tài là các báo cáo tổng kết, đánh giá về chất
lượng, hiệu quả của hệ thống pháp luật, thực tiễn công tác xây dựng và thi
hành pháp luật ở nước ta trong những năm qua.
Phương pháp nghiên cứu: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ sử dụng các
phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp
logic, phương pháp hệ thống, thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp;
phương pháp so sánh và điều tra xã hội.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, làm sâu sắc thêm
về đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền. Từ đó góp phần xây
dựng và phát triển hệ thống pháp luật phù hợp với tiến trình xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
5
Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công
tác nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật, cán bộ công tác tại các cơ quan xây
dựng, bảo vệ pháp luật và học viên, sinh viên ngành luật. v.v…
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn bao gồm: phần mở đầu và 3 chương, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo.
7
với cá nhân mà cả nhà nước; pháp luật của nhà nước phải phù hợp với pháp
luật tự nhiên. Tư tưởng chính trị pháp lý ở phương Tây cổ đại còn đề cập đến
việc tổ chức bộ máy nhà nước sao cho hợp lý để tránh sự lạm quyền.
Solon, nhà tư tưởng Hy Lạp (638-559 Tr.CN) đã nêu ý tưởng về nhà
nước pháp quyền khi ông chủ trương cải cách nhà nước bằng việc đề cao vai
trò của pháp luật. Ông đưa ra tuyên bố: “Ta giải phóng tất cả mọi người bằng
quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp giữa sức mạnh với pháp luật”[10].
Heraclit (520-460 Tr. CN) kêu gọi nhân dân “phải đấu tranh bảo vệ pháp luật
như bảo vệ chốn nương thân của mình”[10]. Xocrat (469-399 Tr.CN) đã nêu
quan điểm phục tùng và tôn trọng pháp luật là tôn trọng lý trí, công bằng và
giá trị phổ biến, nếu không quyền lực sẽ lạc lối. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại
Platon (427-374 Tr. CN) lại nhấn mạnh đến nguy cơ của sự chà đạp, bất chấp
pháp luật: “Tôi nhìn thấy sự diệt vong của cái nhà nước ở nơi nào mà pháp luật
không có sức mạnh và dưới quyền lực của ai đó. Còn nơi nào mà pháp luật đứng
trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì ở đó
tôi thấy có sự cứu thoát của nhà nước” [8]. Aristote (384-322 Tr. CN) nhấn
mạnh đến tính tối cao của pháp luật trong một nhà nước được tổ chức theo
đúng nghĩa của nó. Ông cho rằng nhà nước có công bằng hay không đều phải
gắn với pháp luật, chỉ có pháp luật mới là tiêu chuẩn để điều chỉnh mọi giao
tiếp trong xã hội nên “ở nơi nào không có pháp luật thì không có hình thức
chế độ nhà nước”[8]...
1.1.2. Học thuyết tư sản về nhà nước pháp quyền
Các nhà tư tưởng tư sản đã tiếp thu và phát triển tư tưởng về nhà nước
pháp quyền từ thời cổ đại, thể hiện thế giới quan pháp lý mới, thể hiện thái độ
chống chế độ chuyên quyền phong kiến, tình trạng vô pháp luật, pháp luật tàn
bạo, đấu tranh vì một chế độ nhà nước hoạt động trên cơ sở pháp luật và phục
tùng pháp luật. Đồng thời nó khẳng định mạnh mẽ tính nhân đạo, nguyên tắc
bảo vệ quyền tự do vốn có của mình. Để tạo ra sức mạnh chung nhằm bảo vệ
9
mọi thành viên trong xã hội cần phải có một hình thức liên kết giữa con người
với con người, cần có sự thoả thuận giữa nhân dân và nhà nước bằng khế ước
xã hội. Thông qua đó nhân dân thực hiện quyền của mình bằng cách uỷ quyền
cho các đại biểu trong bộ máy nhà nước. Với sự thoả thuận ấy, con người mất
đi cái tự do tự nhiên, bị hạn chế những điều muốn làm, bù lại họ có quyền tự
do dân sự và quyền sở hữu những cái mà con người có. Nếu nhà nước không
đảm bảo được tự do cá nhân, không đem lại lợi ích cho xã hội thì người ta có
quyền thoả thuận lại để giành tự do cho mình. Vì vậy, nếu quyền lực nhà
nước được tách ra thành các bộ phận thì chúng vẫn phải phụ thuộc lẫn nhau
mới thực hiện được ý chí chung.
Nhà triết học người Đức, Kant (1724-1804) đã đưa ra lập luận triết học
về nhà nước pháp quyền. Theo ông, nhà nước là tập hợp của nhiều người
cùng phục tùng pháp luật và các đạo luật pháp quyền, bản thân nhà nước cũng
phải phục tùng; nhà nước pháp quyền không phải là hiện thực kinh nghiệm
mà là mô hình lý tưởng cần phải tuân thủ. Heghen (1770-1831) đã đưa ra lập
luận: Cấu trúc của nhà nước pháp quyền với các yếu tố xã hội công dân, trật
tự pháp luật mang tính chất pháp quyền tạo thành.
Cùng với các nhà lý luận nổi tiếng nói trên, nhiều nhà luật học, nhà tư
tưởng vĩ đại khác cũng đã góp phần phát triển các tư tưởng về Nhà nước pháp
quyền như Thomas Jefferson (1743 – 1826, tác giả của Tuyên ngôn độc lập
Mỹ năm 1776), Thomas Paine (1737 - 1809), John Adams (1735 - 1826)…
1.1.3. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong học thuyết Mác- Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh
Khi xây dựng Học thuyết chuyên chính vô sản - học thuyết về nhà
nước kiểu mới, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin chưa đề cập
giới, Người đã lựa chọn một mô hình nhà nước phù hợp với thực tế của Việt
Nam. Ngoài ra, trong tư tưởng về xây dựng nhà nước kiểu mới, Hồ Chí Minh
còn chỉ rõ: Bản chất dân chủ triệt để của nhà nước, sự thống nhất giữa bản
chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước, kết
hợp cả đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội.
11
1.2. Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
1.2.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền
Hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác và thống nhất về nhà nước
pháp quyền. Trong lý luận có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về
nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền luôn được xem là một khái
niệm mới. Tuy nhiên nhìn chung các quan điểm thường nhấn mạnh đến một
trong những yếu tố cơ bản sau đây về nhà nước pháp quyền: Tính tối cao của
luật, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của nhà nước; cơ chế phân chia quyền lực,
kìm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp;
dân chủ, xã hội công dân; quyền con người…
Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà đó là những
giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ, một cách thức
tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Trong đó nhà nước là một tổ
chức công quyền được thành lập và hoạt động trên cơ sở pháp luật với mục đích
mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
xã hội công dân, thông qua hệ thống các thể chế và yêu cầu dân chủ như đề cao
quyền làm chủ của nhân dân. Nhà nước đó có cơ chế tổ chức và thực hiện quyền
lực khoa học và hiệu quả, dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội. Hay nói
cách khác: Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước.
1.2.2. Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, có thể nêu những đặc điểm cơ bản về
khác của nhà nước pháp quyền như tính minh bạch, công bằng và nhân đạo...
Tựu trung lại, nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước ở trình độ
cao và tính pháp quyền được biểu hiện ở mọi lĩnh vực quan hệ xã hội. Nhà
nước đó có mục đích và nhiệm vụ là vì con người.
1.3. Những quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền
Việt Nam XHCN
Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước năm 1986,
trong nhận thức, Đảng ta đã thấy rõ sự cần thiết phải xây dựng và thực hiện quản
13
lý nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền. Trên cơ sở nhận thức của Đảng,
chúng ta đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1980 và ban hành Hiến pháp 1992. Sau
các lần sửa đổi, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 tiếp tục khẳng định:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm
chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức [17].
Ở nước ta, xây dựng nhà nước pháp quyền tức là xây dựng một phương
thức tổ chức nền chính trị với mục đích là không ngừng duy trì bản chất giai
cấp công nhân và tính nhân dân của nhà nước, phát huy cao độ tính dân chủ,
làm cho bộ máy nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực
và hiệu quả quản lý và điều hành của nhà nước.
Những quan điểm cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam bao gồm:
- Nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nghị quyết đại hội XI và Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
đều có bổ sung quan tâm vấn đề kiểm soát quyền lực trong cơ chế tổ chức
quyền lực nhà nước ở nước ta. Theo đó nguyên tắc quyền lực nhà nước là
thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã được hoàn thiện một bước quan
trọng. Quan điểm về sự thống nhất quyền lực nhà nước, có sự phân công, phối
hợp, kiểm soát chặt chẽ giữa ba quyền và quyền lực nhà nước là một quan điểm
có tính nguyên tắc chỉ đạo trong thiết kế mô hình tổ chức Nhà nước pháp
quyền Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
15
- Nhà nước pháp quyền Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến
pháp và pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của Hiến pháp, pháp luật trong
đời sống xã hội đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức
Trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam, ý chí của nhân dân và sự lựa
chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất
bằng Hiến pháp. Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý
cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an
ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Pháp luật là kết quả của sự thể chế hoá đường lối, chính sách của
Đảng trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, xã hội. Pháp luật thể hiện ý
chí và nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc
đẩy tiến bộ xã hội nên pháp luật phải là phương thức quan trọng đối với tính
chất và hoạt động của nhà nước và là thước đo giá trị phổ biến của xã hội:
công bằng, dân chủ, bình đẳng và vì con người. Nhà nước pháp quyền phải
có một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm
- Về mặt hình thức pháp lý, sự ngự trị pháp luật phải đảm bảo sự ràng
buộc bởi pháp luật đối với nhà nước (là công cụ để giới hạn, kiểm soát chính
quyền bằng pháp luật), xã hội và mọi công dân. Nói cách khác, đó là một nhà
nước gắn chặt với pháp luật và được hợp pháp hóa bởi pháp luật.
- Về nội dung pháp lý, pháp luật phải mang tính pháp quyền, đảm bảo
yêu cầu khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội.
- Pháp luật mang tính công bằng, trở thành đại biểu của công lý, là sự
tồn tại hiện hữu của ý chí tự do; được thực hiện nghiêm minh, được bắt nguồn
từ bản chất lý trí của con người; pháp luật được sử dụng vì con người.
1.4.2. Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực pháp luật
Xu hướng thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Đặc
18
biệt cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế năm 2008-2009 đã làm bộc lộ những
vấn đề toàn cầu mới, buộc các quốc gia và các cộng đồng quốc tế phải có
những hợp tác mới để đối phó giải quyết. Nền kinh tế và chính trị thế giới
đứng trước thay đổi mới kế cả trong tư duy chiến lược và trong các hành động
thực tiễn của các quốc gia. Thay đổi đang là một xu thế tất yếu và là phương
châm hành động của nhiều quốc gia phát triển. Chính những thay đổi đã và
đang diễn ra tại các nước phát triển và trong các cộng đồng chính trị, kinh tế,
quốc tế đang tác động mạnh mẽ đến các quốc gia đang phát triển trong đó có
Việt Nam. Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu vào đời sống quốc tế
và có vai trò ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Do vậy,
Việt Nam phải chủ động để thích ứng với những thay đổi đang diễn ra mạnh
mẽ trên thế giới và đối phó thành công với những thách thức nảy sinh từ
những thay đổi này đối với con đường phát triển của đất nước. Hội nhập quốc
tế và khu vực là một trong những điều kiện quan trọng để Việt Nam phát triển
và nâng cao vị thế quốc tế của mình. Sự hội nhập phụ thuộc vào nhiều yếu tố,