luận án tiến sĩ đảng bộ tỉnh hải dương lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015 - Pdf 68

2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu
độc lập của nghiên cứu sinh và không trùng lặp với
các công trình khoa học đã công bố. Các tài liệu, số
liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn
gốc xuất xứ rõ ràng và được ghi đầy đủ trong danh
mục tài liệu tham khảo.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NGUYỄN ĐỨC HÙNG


3

MỤC LỤC

Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.2.
Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã
công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

5
11
11
24
31
31
51
62
81
81
91
101
121
121
141
165
168
169
189


4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
1

chứng tỏ vai trò là động lực quan trọng đối với sự phát triển của ngành công
nghiệp và nền kinh tế Việt Nam trên con đường phát triển, hội nhập. Thực hiện
chủ trương của Đảng, đảng bộ và nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước
đã phát huy tối đa tiềm năng của mình, chủ động phát triển KCN, góp phần
thúc đẩy kinh tế cả nước nói chung và các địa phương nói riêng phát triển, hội
nhập nhanh, hiệu quả và bền vững.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng Bắc Bộ, thuộc địa
bàn vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Trong những năm đổi mới, dưới sự lãnh
đạo của Đảng bộ Tỉnh, KCN của Hải Dương phát triển nhanh cả về số lượng,
quy mô và hiệu quả KT - XH. Sau gần 20 năm triển khai, từ 01 KCN xây dựng
vào năm 2001, đến năm 2018, Hải Dương đã xây dựng được 18 KCN, với diện
tích quy hoạch là 4.748,67ha. Sự phát triển KCN của tỉnh Hải Dương đã thúc
đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, góp phần
giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, thu hút vốn, công nghệ
và kinh nghiệm quản lý hiện đại của nhiều nước trên thế giới. Đồng thời, sự
phát triển của các KCN đã tạo điều kiện cho sự ra đời các khu đô thị, nâng cao
chất lượng đời sống dân cư. Tuy nhiên, quá trình phát triển KCN ở Hải Dương
vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là về tính hiệu quả và sự bền vững. Công


6

tác quy hoạch, thu hút đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ
tầng còn nhiều bất cập. Công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền
vững ở một số KCN chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến tình trạng ô
nhiễm môi trường, gây bức xúc trong nhân dân. Hiệu quả sản xuất, kinh doanh
của một số dự án trong các KCN thấp, phải chuyển đổi chủ đầu tư, hoặc thay
đổi mục đích sử dụng đất. Vấn đề xã hội và trật tự, an ninh tại các KCN còn
những biểu hiện phức tạp. Những hạn chế, bất cập đó đã gây ra những tác động
tiêu cực, là trở ngại không nhỏ cho sự phát triển bền vững của tỉnh Hải Dương.

Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải
Dương phát triển KCN trong những năm 2005 - 2015.
Phân tích, luận giải có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ
tỉnh Hải Dương phát triển KCN từ năm 2005 đến năm 2015, qua hai giai đoạn
2005 - 2010 và 2010 - 2015.
Nhận xét ưu điểm, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân và đúc kết kinh nghiệm
từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển KCN (2005 - 2015).
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là hoạt động lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh Hải Dương phát triển KCN.
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án nghiên cứu chủ trương phát triển KCN của Đảng
bộ tỉnh Hải Dương từ năm 2005 đến năm 2015 và sự chỉ đạo của Đảng bộ
tỉnh Hải Dương phát triển KCN, tập trung vào năm vấn đề cơ bản: (1) Quy
hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng KCN; (2) Phát triển nguồn nhân lực phục vụ
các KCN; (3) Cải cách thủ tục hành chính, thu hút đầu tư vào KCN; (4) Công
tác quản lý nhà nước đối với KCN; (5) Kết hợp phát triển KCN với bảo vệ
môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh.
Về thời gian: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải
Dương phát triển KCN từ năm 2005 đến năm 2015. Mốc thời gian từ năm


8

2005 là kết thúc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải
Dương lần thứ XIII, với chủ trương từng bước phát triển KCN và bắt đầu chủ
trương khuyến khích phát triển KCN, được Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải


Phương pháp lịch sử được sử dụng: (1) Phân kỳ thời gian nghiên cứu;
(2) Làm rõ bối cảnh lịch sử tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải
Dương phát triển KCN; (3) Phục dựng tiến trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương
hoạch định chủ trương và chỉ đạo phát triển KCN theo thời gian.
Phương pháp logic được sử dụng: (1) Khái quát, làm rõ nội dung
trong chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển KCN bao gồm
quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp; (2) Làm rõ bước phát triển trong
nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ tỉnh Hải Dương phát triển KCN
trên cơ sở xâu chuỗi các sự kiện lịch sử, quá trình lịch sử; (3) Khái quát các
luận điểm trên cơ sở liên kết các tư liệu lịch sử là các văn bản thể hiện sự lãnh
đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương phát triển KCN; (4) Đánh giá ưu
điểm, hạn chế và đúc kết những kinh nghiệm từ thực tiễn Đảng bộ tỉnh Hải
Dương lãnh đạo phát triển KCN từ năm 2005 đến năm 2015.
Phương pháp so sánh được sử dụng trong luận án nhằm so sánh sự lãnh
đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương phát triển KCN giữa hai giai đoạn 2005 2010 và 2010 - 2015; so sánh kết quả phát triển KCN tỉnh Hải Dương so với
một số tỉnh có nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, KT - XH.
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được sử dụng nhằm khảo
cứu, tổng hợp kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có
liên quan đến đề tài luận án; phân tích, tổng hợp các nội dung chủ yếu trong
các tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo
phát triển KCN (2005 - 2015). Đồng thời, thống kê, phân tích, tổng hợp các
số liệu liên quan đến KCN tỉnh Hải Dương (2005 - 2015).
5. Những đóng góp mới của luận án
Hệ thống hóa nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu về KCN ở Việt Nam
nói chung, tỉnh Hải Dương nói riêng.
Phục dựng có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải
Dương về phát triển KCN từ năm 2005 đến năm 2015.



trung về địa lý của các doanh nghiệp, của các nhà cung cấp dịch vụ, của những
người được hưởng dịch vụ, của các ngành công nghiệp và các tổ chức có liên quan
trong lĩnh vực cụ thể có cạnh tranh nhưng cũng có hợp tác” [181, tr.15]. Michael
Porter, đã khẳng định các KCN có nhiều lợi thế để tăng năng suất, khả năng
đổi mới và tính cạnh tranh; đồng thời trong KCN có các mối liên kết quan
trọng, có sự bảo trợ và lan toả về công nghệ, kỹ năng, thông tin marketing và
nhu cầu của khách hàng đối với sản xuất công nghiệp.
Susan M. Walcott (2003), Chinese Science and Technology Industrial
Parks, (Khu công nghiệp khoa học và công nghệ ở Trung Quốc) [187], đã hệ
thống hóa lý thuyết về KCN khoa học và công nghệ của Trung Quốc, nhấn mạnh
sự cần thiết của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của các KCN ở Trung
Quốc. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của các KCN Trung Quốc trong
việc thu hút công nghệ hiện đại để sản xuất ra hàng hóa chất lượng cao phục vụ thị
trường trong và ngoài nước. Dựa trên lý thuyết về sự liên kết và thực tiễn phát
triển của KCN Tây An, KCN Tô Châu - Thượng Hải nghiên cứu chứng minh khả
năng lan tỏa, thúc đẩy phát triển vùng lân cận của các KCN Trung Quốc.
Park, Jonh and Ahn, Kun-hyuck (2003), “How did immigrant workers
change residential area near industrial estate in Korea” (Công nhân nhập cư
và sự thay đổi về dân cư gần khu công nghiệp ở Hàn Quốc) [179], đã nghiên
cứu KCN ở Ansan - thành phố công nghiệp điển hình ở Hàn Quốc. Tác giả


12

chứng minh sự thay đổi nhanh về xây dựng, dân cư, văn hóa và dịch vụ khu
vực xung quanh KCN ở Hàn Quốc. Nghiên cứu khẳng định sự gia tăng nhanh
chóng về dân cư kéo theo sự bùng nổ về nhà ở và các dịch vụ mới làm cho
khu vực xung quanh KCN phát triển năng động hơn. Đồng thời, nghiên cứu
đề xuất giải pháp xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường tại Ansan thông qua
thực hiện chương trình chuyển đổi các KCN thành các KCN sinh thái.

phát triển KCN sinh thái đối với phát triển bền vững ở Trung Quốc. Với những
phân tích cụ thể ở KCN Thiên Tân, nghiên cứu giới thiệu cách thức cho các doanh
nghiệp sử dụng hiệu quả tài nguyên, ứng dụng công nghệ hiện đại, thân thiện môi
trường nhằm đạt được sự phát triển trên cả 3 mặt: kinh tế, xã hội, môi trường hướng
tới xây dựng KCN sinh thái theo quan điểm phát triển bền vững.
UNIDO Country Office in Viet Nam (2015), Economic zones in the Asean
(Khu kinh tế ở Asean) [186], đã đưa ra cái nhìn tổng quan về KCN từ định nghĩa, mục
tiêu, lợi ích, lịch sử thành và phát triển. Đồng thời nghiên cứu khẳng định khả năng
cạnh tranh và tính bền vững của KCN trong nền kinh tế của các nước Asean. Từ việc
phân tích, tổng kết hoạt động của các KCN trên thế giới, nghiên cứu đưa ra 6 yếu tố
chính quyết định thành công của một KCN là: “The six key factors that determine the
success of an industrial park are: (1) Its location; (2) The presence of lead companies;
(3) A stable and advantageous fiscalsystem; (4) A large labor forces; (5) The physical
and institutional infrastructures; (6) A good management board” [186, tr.23]. ((1) Vị trí;
(2) Sự có mặt của các công ty lớn, hàng đầu; (3) Hệ thống hỗ trợ tài chính ổn định và
thuận lợi; (4) Nguồn nhân lực lớn; (5) Cơ sở hạ tầng và thể chế; (6) Ban quản lý tốt).
Trần Duy Đông (2019), “Kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp sinh
thái tại Hàn Quốc và bài học đối với Việt Nam” [58], đã khái quát khá toàn diện
về sự hình thành và 3 giai đoạn thực hiện “Chương trình Quốc gia về KCN sinh
thái của Hàn Quốc”. Nghiên cứu chỉ rõ xây dựng, phát triển KCN sinh thái là
“một chiến lược của Hàn Quốc nhằm làm giảm tiêu thụ năng lượng, giảm khí
thải nhà kính và đối phó với biến đổi khí hậu [57, tr.39]. Đồng thời, trên cơ sở
phân tích thực trạng phát triển KCN của Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm của
Hàn Quốc trong xây dựng 51 KCN sinh thái, từ đó xác định điều kiện, đề xuất
nội dung phương thức, xây dựng KCN sinh thái ở Việt Nam.


14

1.1.2. Các nghiên cứu về khu công nghiệp ở trong nước

15

đã chỉ ra những hạn chế trong quy hoạch nhất là tình trạng chưa kết hợp chặt chẽ
trong quy hoạch phát triển KCN với bảo vệ môi trường. Nghiên cứu khẳng định
bảo vệ môi trường tại các KCN đã và đang là vấn đề nóng, được sự quan tâm
của toàn xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất nội dung, biện pháp kết hợp quy
hoạch, phát triển KCN với bảo vệ môi trường; khuyến khích các dự án sử
dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường; xây dựng chế tài, giám
sát thực hiện xử lý chất thải tập trung trong KCN.
Võ Thanh Thu (2010), “Những giải pháp cho sự phát triển bền vững các
khu công nghiệp ở Việt Nam” [101], tác giả khẳng định: Phát triển bền vững là
yêu cầu cơ bản đối với sự tồn tại và phát triển của các KCN. Trên cơ sở khảo sát
thực tiễn, nghiên cứu chỉ rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự bền vững trong phát triển
của các KCN. Từ đó, xác định nội dung, giải pháp cho sự phát triển bền vững các
KCN ở Việt Nam. Cụ thể là: Rà soát, điều chỉnh, nâng cao chất lượng công tác
quy hoạch; nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thu hút đầu tư; nâng cao giá trị
sản xuất, kinh doanh; đổi mới, ứng dụng công nghệ hiện đại; kết hợp phát
triển KCN với công tác bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội.
Nguyễn Văn Nhật (2010), Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa
của giai cấp công nhân Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [77], là
kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Nhà nước, nghiên cứu, làm rõ
những đề cơ bản về đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam thời
kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Đề tài chỉ rõ những tác động của quá trình đổi
mới KT-XH, hội nhập quốc tế tới đời sống văn hóa của giai cấp công nhân
Việt Nam nói chung, trong các KCN nói riêng. Đặc biệt, trên cơ sở khảo sát,
đánh giá, phân tích thực trạng, đề tài chỉ ra những yêu cầu và giải pháp phát
triển đời sống văn hóa giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay.
Hoàng Sỹ Động (2011), “Một số vấn đề đặt ra trong công tác quy hoạch
khu công nghiệp ở Việt Nam” [59], tác giả đã phân tích thực trạng công tác quy
hoạch các KCN Việt Nam, chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong công tác quy

về trật tự, an toàn xã hội; về môi trường và sức khỏe; về văn hóa và giá trị
truyền thống. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất những khuyến nghị nhằm phát huy
những tác động tích cực về mặt xã hội trong phát triển KCN. Nghiên cứu
nhấn mạnh giải pháp phát triển KCN với “đường lối tăng trưởng xanh” trong
đó bảo vệ môi trường là nội dung cốt lõi [60, tr.198].


17

Nguyễn Ngọc Sơn (2012), “Phát triển bền vững khu công nghiệp ở Việt
Nam sau 20 năm đổi mới” [97], đã góp phần tổng kết 20 năm xây dựng, phát triển
các KCN ở Việt Nam, chỉ rõ những tác động tích cực, nhất là hiệu quả KT - XH
do các KCN mang lại. Đồng thời, tác giả phân tích những hạn chế, khuyết điểm,
thiếu tính bền vững trong hoạt động của các KCN nhất là tình trạng “quy hoạch
treo”, sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Từ đó, đề xuất nội
dung, yêu cầu phát triển bền vững các KCN ở Việt Nam những năm tiếp theo.
Phạm Thị Thúy (2013), “Nâng cao hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) tại các khu công nghiệp, khu kinh tế” [108]. Tác giả khẳng định
vai trò quan trọng, tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các KCN, khu
kinh tế. Đề xuất hệ thống nội dung, biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại các KCN, nghiên cứu nhấn mạnh công tác lựa chọn, thẩm
định dự án đồng thời cải thiện môi trường đầu tư, đi đôi với đổi mới, nâng cao
hiệu quả công tác xúc tiến, thu hút đầu tư thông qua xây dựng cơ chế chính
sách ưu đãi đặc thù cho các dự án nước ngoài đầu tư tại các KCN.
Vũ Thị Kim Oanh (2014), “Phát triển các khu công nghiệp Việt Nam:
Thực trạng và giải pháp” [78], công trình nghiên cứu khá toàn diện về KCN.
Trên cơ sở tổng kết 20 năm phát triển KCN, tác giả chỉ rõ đến hết năm 2013, trên
cả nước có 289 KCN với tổng diện tích 81.000ha, trong đó có 191 KCN chiếm
66,08% đi vào hoạt động. Các KCN đang hoạt động đã thu hút 472 dự án, tạo
việc làm trực tiếp cho trên 2 triệu lao động, đóng góp 35% tổng kim ngạch xuất

trong đó bao trùm là kinh nghiệm xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi, thực
hiện chính sách “trải thảm đỏ” để thu hút, lấp đầy các KCN.
Nguyễn Khắc Thanh (2007), Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây
dựng khu công nghiệp trong những năm đổi mới từ 1986 đến 2005 [98]. Luận
án phản ánh quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo phát triển KCN trong
công cuộc đổi mới, khẳng định vai trò chủ chốt của các KCN đối với sự phát
triển công nghiệp cũng như KT - XH tỉnh Đồng Nai. Trên cơ sở đó, tác giả đã
làm rõ một số kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng KCN ở Đồng Nai. Đây là
công trình nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ của khoa học Lịch sử Đảng;
nghiên cứu ở một địa bàn khác nhưng nội dung, phương pháp nghiên cứu của
công trình rất hữu ích cho nghiên cứu sinh trong tham khảo, vận dụng.


19

Trần Ngọc Điệp (2009), “Một số giải pháp phát triển các KCN ở tỉnh Thái
Bình trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” [56]. Tác giả đã đi sâu phân tích
đánh giá những thành tựu, kết quả đã đạt được trong quá trình phát triển các
KCN của tỉnh Thái Bình (2002 - 2007). Nghiên cứu khẳng định bên cạnh những
thành tựu là cơ bản, phát triển KCN ở Thái Bình đã và đang đứng trước nhiều
khó khăn, thách thức. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để phát
triển các KCN ở Thái Bình trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Vũ Thành Hưởng (2009), “Phát triển bền vững về kinh tế các khu công
nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Thực trạng và các khuyến nghị chính
sách” [69]. Nghiên cứu xác lập tiêu chí, nội dung phát triển KCN bền vững.
Qua khảo sát các KCN vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tác giả chỉ rõ những
tố thiếu bền vững về kinh tế trong phát triển các KCN như: Vị trí các KCN, tỷ
lệ lấp đầy các KCN, quy mô diện tích các KCN, liên kết phát triển trong nội
bộ và liên kết bên ngoài KCN, trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất kinh
doanh trong KCN. Trên cơ sở đó, tác giả khuyến nghị chính sách phát triển

đích, yêu cầu đối với việc phát triển các KCN, xác định các nhân tố tác động
đến quá trình hình thành KCN và hiệu quả của nó đối với phát triển KT - XH.
Tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học, trên cơ sở đánh giá thực trạng
phát triển KCN tác giả nêu lên những phương hướng, giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả KT - XH của các KCN, khu kinh tế ở thành phố Hải Phòng.
Bùi Thế Cử (2011), “Thực trạng phát triển khu công nghiệp ở tỉnh
Hưng Yên” [43], đã khái quát thực trạng phát triển KCN ở Hưng Yên sau khi
tái lập. Đây là công trình phản ánh thực trạng hoạt động các KCN của tỉnh
Hưng Yên - một địa phương có nhiều điểm tương đồng với Hải Dương về
điều kiện tự nhiên, KT - XH. Các số liệu về thực trạng phát triển KCN ở
Hưng Yên được trình bày trong nghiên cứu có giá trị quan trọng để nghiên
cứu sinh so sánh đối chiếu với kết quả phát triển KCN của tỉnh Hải Dương.
Bùi Văn Trịnh, Nguyễn Thị Ninh Thuận (2012), “Phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến thu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào các khu công nghiệp
tại thành phố Cần Thơ” [111], đã phân tích các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới
quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào KCN. Để nâng cao hiệu quả thu hút
đầu tư vào KCN, nghiên cứu đề xuất các biện pháp về xây dựng hạ tầng KCN


21

đồng bộ, hiện đại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải cách thủ tục hành
chính, ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi...
Hoàng Thị Thu Hải (2013), “Giải pháp hỗ trợ nâng cao chất lượng nhân
lực trong các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh” [61], đã khẳng định vai trò
quan trọng của nguồn nhân lực trong phát triển KCN tỉnh Bắc Ninh. Đồng
thời, nêu lên thực trạng nguồn nhân lực trong các KCN ở tỉnh Bắc Ninh, trong
đó nhấn mạnh những hạn chế cần khắc phục là: Trình độ tay nghề, khả năng
nắm bắt, ứng dụng khoa học công nghệ và kỷ luật, tác phong của người lao
động chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Từ

từng bước nâng cao về chất lượng [110, tr.40]”. Trên cơ sở khảo sát 15.635 nữ
công nhân KCN Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long, nghiên cứu khẳng định: “đời sống văn
hóa tinh thần của nữ công nhân lao động trong khu công nghiệp hiện nay vẫn còn
nhiều bất cập và bộc lộ nhiều vấn đề đáng quan tâm” [119, tr.38]. Từ đó, tác giả đề
xuất 7 khuyến nghị góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nữ công
nhân lao động trong KCN Hòa Phú, Vĩnh Long.
Bùi Thế Cử (2016), Tác động của khu công nghiệp đến nông thôn qua
nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Hưng Yên [44], đã phân tích tác động qua lại giữa
phát triển KCN với phát triển nông thôn trên các mặt kinh tế, xã hội, môi
trường, giữa phát triển KCN với chính sách phát triển nông thôn. Trong đó,
luận án nhấn mạnh sự gắn kết giữa phát triển KCN với phát triển hạ tầng, giữa
phát triển KCN với phát triển công nghiệp mũi nhọn và công nghiệp phụ trợ.
Đặc biệt, nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển KCN gắn với bổ sung, hoàn
thiện các cơ chế, chính sách liên quan đến bồi thường, hỗ trợ nhất là đào tạo,
giải quyết việc làm cho nông dân có đất bị thu hồi phục vụ phát triển KCN.
1.1.2.3. Nhóm nghiên cứu liên quan đến phát triển công nghiệp và khu
công nghiệp ở tỉnh Hải Dương
Nguyễn Văn Phú (2008), Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong quá
trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá địa bàn tỉnh Hải Dương [80],
đã nghiên cứu khá toàn diện và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kết cấu
hạ tầng trong quá trình thực hiện CNH, HĐH: Khái niệm, những đặc trưng cơ
bản, các yếu tố ảnh hưởng và những nguyên tắc phát triển. Trên cơ sở tập
trung phân tích quá trình xây dựng hạ tầng giao thông; hạ tầng điện lực; hạ


23

tầng bưu chính, viễn thông; hạ tầng cung cấp nước sạch; hạ tầng thuỷ lợi tác
giả đã đánh giá thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong quá trình
CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Luận án đã đề xuất một số quan

soát, điều chỉnh quy hoạch; đẩy mạnh xúc tiến đầu tư; phát triển cơ sở hạ tầng
đồng bộ gắn với bảo vệ môi trường; phát triển, đào tạo nguồn nhân lực; hoàn
thiện mô hình tổ chức, quản lý và nhóm giải pháp cải cách thủ tục hành chính,
hoàn thiện khung pháp lý [83, tr.68 - 89].
Nguyễn Xuân Đoan (2015), Phát triển công nghiệp công nghệ cao trên
địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay [57], đã chỉ rõ tính tất yếu của xu thế phát
triển công nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Hải Dương, trên cơ sở đánh
giá thực trạng các tác giả đề xuất các giải pháp phát triển công nghiệp công
nghệ cao trên địa bàn Hải Dương trong thời gian tới. Đặc biệt, nghiên cứu chỉ
rõ phát triển công nghiệp công nghệ cao là đòi hỏi tất yếu, là hướng đi chiến
lược bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững. Phát triển công nghiệp
công nghệ cao gắn liền với việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ
tiên tiến, hiện đại. Xây dựng KCN công nghệ cao, thu hút những dự án công
nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại là một giải pháp quan trọng để
phát triển công nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay.
Ban Quản lý các KCN tỉnh Hải Dương (2017), Thực trạng và giải pháp
nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại các khu công nghiệp trên địa bàn
tỉnh Hải Dương [25]. Đề tài đã đánh giá khá toàn diện về thực trạng công tác
quản lý chất thải rắn tại các KCN trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Nghiên cứu
khẳng định những kết quả đạt được, chỉ rõ những khó khăn, hạn chế trong
quản lý chất thải rắn tại các KCN. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xác định hệ
thống biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại các KCN
trên địa bàn tỉnh Hải Dương: Tăng cường công tác tuyên truyền, công tác xử
lý, vấn đề tái sử dụng, công tác quản lý về mặt nhà nước.
1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và
những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.2.1. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố
có liên quan đến đề tài luận án



KCN. Kết quả nghiên cứu của các công trình cho thấy KCN là yếu tố quan


26

trọng thúc đẩy sự phát triển công nghiệp của tất cả các nước, trong đó có Việt
Nam. Những công trình nghiên cứu về KCN ở nước ngoài đã luận giải khá toàn
diện về quá trình phát triển KCN ở các nước trên thế giới. Tập trung làm rõ lịch
sử hình thành, đặc trưng, vai trò của KCN, khẳng định: nhờ xây dựng, phát triển
KCN mà một số nước đã trở thành những cường quốc công nghiệp hàng đầu của
thế giới, tiêu biểu như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản. Đồng thời, một số nghiên cứu
đã đề cập đến khả năng, mô hình, giải pháp phát triển KCN ở các nước đang phát
triển như Thái Lan, Hàn Quốc... Nhiều công trình luận giải cơ sở lý luận thực
tiễn, yêu cầu khách quan xây dựng, phát triển KCN ở Việt Nam nhất là thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế. Đồng thời, các nghiên cứu đã phân tích làm rõ mối quan hệ, tác động
của quá trình phát triển KCN với phát triển công nghiệp và các ngành, các
lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa,
thực hiện an sinh xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh.
Thứ hai, có một số công trình nghiên cứu mang tính tổng kết quá trình
xây dựng phát triển KCN ở Việt Nam. Tiếp cận nghiên cứu ở nhiều chuyên
ngành, các công trình đã đánh giá ưu điểm và hạn chế trong quá trình phát
triển KCN ở Việt Nam từ năm 1991 - năm đầu tiên thành lập thí điểm KCN
đến nay. Các công trình khẳng định những kết quả về công tác quy hoạch, xây
dựng cơ sở hạ tầng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, sự chuyển biến về khoa
học, công nghệ và những tác động tích cực về KT - XH từ sự phát triển của
KCN với hệ thống số liệu đa dạng, tin cậy và có tính thuyết phục cao. Đồng
thời, hầu hết các công trình đều có điểm tương đồng trong đánh giá hạn chế
trong xây dựng, phát triển KCN là: Chất lượng công tác quy hoạch chưa cao;
cơ sở hạ tầng KCN xây dựng chưa đồng bộ; tỷ lệ lấp đầy KCN thấp và một số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status