Thực trạng công tác tổ chức và sử dụng vồn lưu động ở công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và kĩ thuật ô tô HC - Pdf 68

Thực trạng công tác tổ chức và sử dụng vồn lưu động ở công ty trách
nhiệm hữu hạn dịch vụ và kĩ thuật ô tô HC
2.1. Khái quát chung về công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và kĩ thuật ô tô HC.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Tên công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và kĩ thuật ô tô HC.
Tên giao dịch trên thị trường: HC auto.
Trụ sở chính: 143 TRẦN KHÁT CHÂN- HAI BÀ TRƯNG -HÀ NỘI
Điện thoại: 043.562.5031 Fax: 043.562.5031
Là công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn điều lệ là: 106.400.000.000 đồng
Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ và kĩ thuật ô tô HC hay là HC auto
được thành lập vào năm 1997 là công ty chuyên về lĩnh vực ô tô. Trong những
năm qua HC Autotech đã từng bước khẳng định năng lực của mình trên thị
trường trong nước. Để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt phục vụ
cho nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực tiềm năng cho xưởng sửa chữa ô tô tại
206 Phạm Văn Đồng và một số xưởng sửa chữa ô tô trong nội thành Hà Nội và
ở các tỉnh khác.
Hiện nay, công ty TNHH dịch vụ và kĩ thuật ô tô HC có trụ sở chính tại
143 Trần Khát Chân – Hai Bà Trưng- Hà Nội
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ kinh doanh của công ty.
Công ty TNHH dịch vụ và kĩ thuật ô tô HC có nhiệm vụ kinh doanh chính
là :
Kinh doanh buôn bán ô tô nội và ngoại nhập, sản xuất phụ tùng ô tô,lắp
ráp, và sửa chữa bào dưỡng ô tô, các showroom của công ty trưng bày giới thiệu
các loại ô tô mới của công ty. Công ty còn liên kết với trường cao đẳng công
nghiệp hà nội nay là đại học công nghiệp hà nội thành lập trung tâm đào tạo
công nghệ cao HC autotech với mục đích là đào tạo ra nhân công phục vụ cho
sửa chữa và sản xuất phụ tùng cũng như lắp ráp ô tô tại các showroom lớn của
công ty như showroom tại đường Phạm Văn Đồng.
2.1.3. Đặc điểm tổ chức quản lý và bộ máy nhân sự của công ty.
Công ty TNHH dịch vụ kĩ thuật ô tô HCauto hoạt động trên địa bàn đông
dân cư, có nhiều doanh nghiệp lớn. Lại được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo

phẩm của công ty, đưa ra các thông số hợp lí gửi xuống các showroom tư
vấn về kĩ thuật sửa chữa và kĩ thuật sản xuất sản phẩm phụ tùng ô tô
• Phòng Công nghệ Thông tin : nhiệm vụ chính của phòng ban này là
quảng bá thương hiệu của công ty trên các phương tiện thông tin đặc biệt
là trên mạng internet đẻ khách hàng biết và tìm hiểu trước khi quyết định
đến công ty mua hoặc sửa chữa tại showroom chính của công ty.
• Phòng đảm bảo chất lượng : có trách nhiệm là giải quyết trách nhiệm của
công ty sau bán hàng,phụ trách nhận và trao trả phương tiện cũng như
phụ tùng không phù hợp nếu có sự cố xảy ra.
Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Công ty đã có những cố gắng để cái tiến về chất lượng dịch vụ và sản
xuất phụ tùng ô tô, công ty đã có những bước dần dần cải tiến về quy trình công
nghệ dựa vào việc liên kết với một công ty sản xuất ô tô khá nổi tiếng của Hàn
Quốc vì thế công ty có quy trình sản xuất khá hiện đại và phương pháp quản lí
khoa học dựa vào những kinh nghiệm sau nhiều năm hoạt động về lĩnh vực kinh
doanh ô tô trên thị trường nước ta. Tuy nhiên trong năm qua do nền kinh tế thế
giới có nhiều biến động nên công ty không tránh khỏi những ảnh hưởng nhất là
yếu tố đầu vào phục vụ cho việc sản xuất và lắp ráp ô tô.
+ Kinh doanh buôn bán ô tô và lắp ráp ô tô phục vụ cho việc bán ô tô.
Công ty ngoài việc tự lắp ráp phụ tùng ô tô thành ô tô hoàn chỉnh còn
nhập khẩu ô tô để trưng bày trong các showroom để bán vì thế ngành nghề kinh
doanh chủ yếu của công ty được xác định là buôn bán ô tô. Ngoài ra công ty còn
có các trung tâm sửa chữa ô tô phục vụ cho mục đích của công ty là bảo dưỡng
và sản xuất phụ tùng ô tô.
Chính vì thế mà sản phẩm chủ yếu của công ty là ô tô nguyên chiếc nội hoặc
ngoại nhập và còn có những phụ tùng ô tô do công ty nhập về hoặc tự sản xuất ra…
Đây là nghề mang lại lợi nhuận chủ yếu của công ty. Nó mang lại khoảng
60% lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên công ty cũng không thể chỉ tập trung vào
kinh doanh một loại hình dịch vụ được chính vì thế công ty đã tham gia vào
kinh doanh các loại hình dịch vụ khác như:

3 DTT về BH & cung cấp DV 130.387 86.130 42,257 51,38
4 Giá vốn hàng bán 105.779 70.074 45,705 76,08
5 LN gộp về BH & CC DV 24.608 16.055 8,553 53,2
6 Doanh thu hoạt động TC 6.525 2.142 4.383 204, 62
7 Chi phí hoạt động tài chính 5.138 3.698 1.440 38,94
8 Chi phí bán hàng 3.850 1.309 2.541 194,12
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 8.801 5.160 3.641 70,56
10 Lợi nhuận thuần từ HĐKD 3.344 1.031 2.313 224,35
11 Thu nhập khác 4.055 346 3.709 1072
12 Chi phí khác 1.170 1.008 162 16,07
13 Lợi nhuận khác 2.884 (662) - -
14 Tổng lợi nhuận trước thuế 6.227 369 5.858 1587,5
15 Chi phí thuế TNDN hiện hành 858
16 Tổng lợi nhuận sau thuế 5.368 341 5.027 1474,2
Nhìn vào bảng kết quả kinh doanh của công ty ta thấy các chỉ tiêu về kinh
doanh của công ty trong năm 2008 đều tăng rõ rệt so với năm 2007, cụ thể như
sau:
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của năm 2008 so với năm 2007
tăng xấp xỉ 44,279 tỉ đồng, tương đương với khoảng 51,41% so với năm 2007.
trong năm 2008 các khoản giảm trừ có tăng nhưng không đáng kể so với năm
2007. Do đó doanh thu thuần của công ty tăng đáng kể, tăng xấp xỉ 42,257 tỷ
đồng. Như thế trong năm 2008 công ty đã hoàn thành chỉ tiêu đặt ra.
Tốc độ tăng của giá vốn hàng bán là 76,08%, tương ứng với 45,705 tỷ đồng
lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần năm 2008 so với năm 2007. Điều đó ảnh
hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty,
năm 2008 tăng xấp xỉ 8,5 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 53,27% so với năm 2007.
Trong năm 2008 lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng 2.313 triệu
đồng, tương ứng tỷ lệ 224,35% so với năm 2007. Tăng chủ yếu do các yếu tố sau:
+ Lợi nhuận từ hoạt động tài chính năm 2007 bị lỗ - 662 triệu đồng,
nhưng năm 2008 Công ty đã lãi 1.387 đồng. Đây là dấu hiệu khả quan, cho thấy

doanh về ô tô, và phụ tùng ô tô thì kết cấu VLĐ chiếm tỷ trọng khá lớn trong
vốn kinh doanh.
Với đặc thù là Công ty kinh doanh ô tô vì thế điều kiện tự nhiên không
ảnh hưởng nhiều đến công việc kinh doanh của Công ty tuy nhiên phần lớn ô tô
của Công ty là do nhập ngoại về để bán thế nên những yếu tố bên ngoài tác
động rất lớn đến việc kinh doanh của Công ty. đặc biệt trong năm vừa qua với
việc nền kinh tế thế giới bị khủng hoảng thì công việc kinh doanh của Công ty
cũng gặp khá nhiều khó khăn vì yếu tố đầu vào của Công ty bị ảnh hưởng rất
lớn do đó nó làm giảm đi phần nào lợi nhuận của Công ty. Công ty đã phải huy
động vốn cao hơn bình thường để có đủ lượng vốn cần thiết có thể để duy trì
được hoạt động kinh doanh mà vẫn đảm bảo chất lượng của sản phẩm bán ra thị
trường và cũng đảm bảo cho việc hoạt động của các cơ sở sửa chữa của công ty,
nhất là trong hoàn cảnh Công ty có rất nhiều sức ép về việc cạnh tranh của các
Công ty khác cùng kinh doanh trong lĩnh vực ô tô. Vì thế mà Công ty phải xác
định một cách hợp ló nhu cầu VLĐ cũng như phương thức tổ chức và sử dụng
vốn để đảm bảo có thể thu hồi vốn đúng kế hoạch, tránh tình trạng thừa vốn gây
lãng phí hay thiếu vốn gây gián đoạn việc kinh doanh của Công ty.
Môi trường kinh doanh của công ty chịu rất nhiều tác động bởi các yếu tố
bên ngoài như giá cả những chiếc ô tô nhập ngoại, tỷ giá hối đoái, chính sách
kinh tế vĩ mô của Nhà nước…gây ảnh hưởng đến nhu cầu VLĐ của Công ty.
Do vậy trong công tác tổ chức VLĐ Công ty cần phải có sự dự đoán về sự thay
đổi của giá cả và xu hướng của thị trường trong tương lai để có thể đảm bảo
không gây ra sự xáo trộn lớn trong công tác tổ chức và sử dụng VLĐ.
Ngoài ra, tổ chức sử dụng VLĐ của Công ty còn chiu tác động bởi một số
đặc điểm kinh tế khác nữa. Với sự nỗ lực toàn Công ty sẽ biết tận dụng những
tác động tích cực và hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực nhằm nâng cao
hiệu quả kinh doanh nói chung và VLĐ nói riêng.
2.2.2. Những thuận lợi, khó khăn của công ty.
Là Công ty mới thành lập với quy mô không phải là lớn, hoạt động trong
cơ chế thị trường có nhiều thuận lợi nhưng cũng phải đối mặt với những khó

2.2.3.1. VKD và nguồn hình thành VKD của Công ty.
Mục tiêu chủ yếu của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường là tối đa hóa lợi nhuận. Vì vậy, sử dụng vốn một cách có
hiệu quả có nghĩa là kinh doanh có hiệu quả, đạt lợi nhuận cao.
Bảng2: Cơ cấu tài sản của công ty trong năm 2008
Đv: triệu đồng
Chỉ tiêu
Số cuối năm Số đầu năm Chênh lệch
Số tiền
TT
(%)
Số tiền
TT
(%)
Số tiền
TL
(%)
A. Tài sản ngắn hạn 142,723 57.845 50,193 68.012 92,530 184.348
B. Tài sản dài hạn 104.008 42.155 23,607 31.988 80.401 340.581
Tổng tài sản 246,731 100 73,800 100 172,931 234,323
Nhìn vào số liệu tính toán trên ta thấy:
+ Tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng VKD của Công ty. Kết
cấu này phù hợp với ngành dịch vụ kinh doanh buôn bán ô tô: sản phẩm ô tô có
giá trị lớn, thời gian có thể bán được một chiếc ô tô là khá dài do đó vốn kinh
doanh bị ứ đọng lâu dài tại các điểm trưng bày bán ô tô hoặc các khoản phải thu
do Công ty sử dụng phương thức bán xe trả góp.
+ Tổng tài sản của Công ty vào thời điểm cuối năm tăng 172,931 triệu đồng so
với đầu năm, tương ứng với tỷ lệ 234,323 %. Điều này chứng tỏ tình hình sản
xuất kinh doanh của Công ty không ngừng tăng lên và cho thấy khả năng huy
động vốn của công ty trong việc tăng qui mô vốn của mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status