Mot so cach giai quyet cac van de kho TV 1-2-3 - Pdf 68


Báo cáo
Trao đổi một số vấn đề khó và hướng gii quyết
trong việc dạy học môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học
Phần I:
Tỡnh hỡnh thực hiện việc dạy và học môn Tiếng Việt trong nhà
trường Tiểu học.
Việc thực hiện dạy và học theo chương trỡnh giáo khoa phổ thông
mới (chương trỡnh TH 2000) đã qua hơn một chu kỳ thực hiện. Nm
học 2008 2009 là nm học thứ hai thực hiện chu kỳ 2. Trong quá
trỡnh dạy học nói chung, dạy học môn Tiếng Việt nói riêng tại các nhà
trường Tiểu học trên địa bàn huyện đô Lương chúng tôi thấy có
nhng thuận lợi và khó khn cơ bn sau đây:1.Thuận lợi:
a. Học sinh:
- Học sinh là dân tộc Kinh, tiếng mẹ đẻ là Tiếng Việt cho nên
khả năng giao tiếp, tiếp cận chương trình dễ dàng thuận lợi.
- Phần lớn học sinh đều được học 2 buổi/ngày;
- Sách giáo khoa, đồ dùng học tập của các em đầy đủ.
b. Giáo viên:
- 100% giáo viên đều được tham gia các lớp tập huấn
chuyên đề dạy học các môn học nói chung, môn Tiếng Việt
nói riêng, được tham gia các cuộc hội thảo chuyên đề,

- Thiết bị dạy học chưa đủ theo yêu cầu của việc dạy học.
Từ những thực tế trên đây, dưới sự chỉ đạo của phòng Giáo
dục và Đào tạo Đô Lương, các cụm chuyên môn đã tổ chức trao
đổi thảo luận để tháo gỡ những vướng mắc trong cụm mình và
đạt được những kết quả nhất định. Cũng qua các đợt sinh hoạt
chuyên môn ở cụm, tổ cốt cán chuyên môn môn Tiếng Việt
chúng tôi đã thu thập và tập hợp đưược những vấn đề mà trong
quá trình dạy học môn Tiếng Việt nhiều giáo viên còn băn khoăn
vướng mắc, chúng tôi đề xuất một số hướng giải quyết sau đây:
Phần II:
Mục tiêu, giải pháp giải quyết vấn đề khó
trong việc dạy học môn Tiếng Việt Tiểu học.
I, Mục tiêu:
- Giúp giáo viên hướng giải quyết một số vấn đề cụ thể trong chư
ơng trình Tiếng Việt Tiểu học để áp dụng vào thực tiễn dạy học.
- Cùng nhau trao đổi, thảo luận và tiếp tục tập hợp những vấn đề
chưa được trình bày trong báo cáo để tìm hưướng giải quyết
nhằm đạt được mục tiêu của môn Tiếng Việt.II, Những vấn đề khó cụ thể và các giải pháp giải quyết cơ bản:
Khối Lớp 1

Học vần
1. Khi dạy phần vần, một số HS thường khó đọc và hay đọc sai dẫn tới
viết sai.
VD: Bài 34: Vần ưi

2. ở học kì 1, tập viết học 2 tiết một lúc là hơi nặng đối với HS lớp 1. Một
số vần yêu cầu tập viết nhưng phần vần lạị chưa học.
VD: Tuần 15 : Từ mũm mĩm
Tuần 17 : Từ con vịt, thời tiết
Tuần 19: Kênh rạch, vui thích, xe đạp
Tuần 21: Khoẻ khoắn, áo choàng
* Hướng giải quyết:
-Theo công văn số 1737 của Sở GD & ĐT về việc hướng dẫn chỉ đạo một số
vấn đề về chuyên môn cấp Tiêủ học năm học 2008-2009: Giao quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về sự linh hoạt chủ động về nội dung chương trình, phương
pháp dạy học và cụ thể hoá phân phối chương trình thành kế hoạch dạy học cho
từng lớp học. Theo đó GV có quyền được thay đổi nội dung phương pháp, chư
ơng trình tiết học miễn là vẫn đảm bảo mục tiêu, nội dung bài học.
Vì vậy, Tùy thuộc vào trình độ, đối tượng học sinh chuyên môn nhà trường
có thể tự điều chỉnh phân phối chương trình phân môn Tập viết trong ngày
cho phù hợp.
- Những tiếng, từ có vần chưa học GV cho HS trừ lại, sau khi học xong vần
đó cho HS viết bổ sung vào thời gian học buổi thứ 2/ ngày.
3. Phần luyện nói một số tranh chủ đề chưa phù hợp với HS.

* Hướng giải quyết:
-Trước hết GV cần nắm chắc mục tiêu, yêu cầu của phần luyện nói đối với
HS lớp 1. Mà mục tiêu yêu cầu của phần luyện nói đối với HS lớp Một là:
+ Đọc đúng chủ đề luyện nói trong SGK.
+ Nói về những nội dung gần gũi với cuộc sống thực tế của các em đúng với
chủ đề.
+ Không yêu cầu HS nói những câu chứa âm, vần mới học để đảm bảo phát
Lớp 2
Luyện từ và câu
1. Khi đặt câu và xác định mẫu câu, học sinh hay nhầm lẫn
giữa mẫu câu Ai là gì ? và Ai làm gì?
* Hướng Giải quyết:
- Trước hết giáo viên cần nắm chắc đặc điểm của hai loại câu này.
a. Kiểu câu: Ai là gì?
+ Là một trong những kiểu câu đơn trần thuật cơ bản của tiếng Việt.
Đây là kiểu câu có vị ngữ do từ là kết hợp với một từ hoặc cụm từ
(danh từ, cụm danh từ, động từ cụm động từ; tính từ, cụm tính từ) tạo
thành.
VD: VN là danh từ hoặc cụm danh từ: Em là học sinh
Em là học sinh lớp 2
VN là động từ hoặc cụm động từ: Nhiệm vụ của các em là học tập
Nhiệm vụ của các em là học tập thật giỏi
VN là tính từ hoặc cụm tính từ: Lao động là vinh quang
Lao động là vô cùng vinh quang
VN là cụm chủ vị: Dế Mèn trêu chị Cốc là nó dại + Khi vị ngữ biểu thị ý phủ định, nó kết hợp với các cụm từ:
không phải, chưa phải. Đây là một đặc điểm hình thức có thể được sử
dụng để phân biệt kiểu câu Ai là gì với những kiểu câu khác.
VD: Em không phải là học sinh
Em chưa phải là học sinh giỏi
+ Giống như VN, CN trong câu Ai là gì? cũng có thể là một từ
hoặc một cụm từ
+ Kiểu câu Ai là gì? thường được dùng để trình bày định nghĩa,

hành. GV không cần và không nên nói lại với học sinh vì học sinh lớp 2
chỉ học thực hành.
- Sau khi nắm vững đặc điểm của 2 kiểu câu trên, GV dựa vào yêu
cầu các bài tập thực hành trong sác giáo khoa để hướng dẫn HS giải
quyết .
- Để giúp học sinh lớp 2 phân biệt tốt hơn 2 kiểu câu này, GV phải
thường xuyên lưu ý các em: Trong kiểu câu Ai làm gì? và Ai là gì? thì
Ai là từ chỉ sự vật.
ở kiểu câu Ai là gì? thì sau từ là phải là từ chỉ sự vật.
ở kiểu câu Ai làm gì? thì trả lời cho bộ phận làm gì phải là từ chỉ
hoạt động.
- Cần nhắc nhở HS không nên đặt nhưng câu thiếu chính xác về
nghĩa như:
Mẹ em làm giáo viên.
Bố em làm nông dân. Chính tả
1. HS khó phân biệt d/gi
*Hướng giải quyết:
- Việc lựa chọn quy tắc viết chính tả là một vấn đề khó khăn. Vì thế GV
hướng dẫn HS làm bài qua các bài tập cụ thể. Ngoài ra cần ra thêm những bài
tập có những tiếng, từ HS dễ viết sai để các em quen dần cách viết đúng.
- GV cũng cần biết thêm một số thuật nhớ và mẹo chính tả để giúp HS
phân biệt tốt hơn giữa d/ gi.
+ Thuật nhớ lấy âm đệm làm mốc:
Về kết hợp âm, gi không đứng trước âm đệm, tức không đứng trước các
vần bắt đầu bằng oa, oă, uâ, uy, uyê
d có thể đứng trước những âm đệm.
VD: Doạ dẫm, doạng chân, doanh nghiệp, duy trì, duyên nợ, duyệt binh

giỏi kể làm mẫu để cả lớp hiểu rằng kể bằng lời của mình là kể một cách thoải mái, tự
nhiên, không cố nhớ từng câu chữ nội dung truyện đã được học trong tiết tập đọc.
- GV phải có biện pháp tạo bầu không khí thân mật, tin cậy, khéo động viên khuyến
khích để HS kể chuyện tự nhiên, thoải mái. Kết hợp lời kể với nét mặt,cử chỉ, giọng điệu.
Để làm được điều này GV phải tế nhị khi hướng dẫn HS kể chuyện, tạo sự tin tưởng
cho các em
Cụ thể:
+ Nếu có một HS đang kể bỗng lúng túng vì quên chuyện, GV có thể nhắc nhẹ
nhàng.
+ Nếu có em kể thiếu chính xác không nên ngắt lời mà nhận xét sau khi các em đã
kể xong.
+ Hướng dẫn HS khi nhận xét lời kể của bạn nên tìm cái đáng học, đáng khen chứ
không nên chỉ chăm chăm chê bạn.
+ Khen ngợi đúng và kịp thời, khẳng định thành công và tiến bộ của từng HS Khối 3
Tập làm văn
1. Tổ chức cuộc họp khó thành công vì giao tiếp của các em còn kém.
* Hướng giải quyết.:
Kiểu bài tổ chức cuộc họp là kiểu bài mới . Nó nhằm tăng tính thực hành của tập làm
văn, gắn việc học với hoạt động thực tiễn.
Kiểu bài này được học ở tuần 5, tuần 7, tuần 31.
- Để học sinh hiểu rõ trình tự các việc diễn ra trong một cuộc họp, khi dạy tiết tập tổ chức
cuộc họp đầu tiên, giáo viên cần liên hệ với bài tập đọc: Cuộc họp của chữ viết( Tiếng Việt 3/
tập 1- Tuần 5- Trang 44) để học sinh có ý niệm về một cuộc họp.
Mỗi cuộc họp bao giờ cũng có:
+ Phần mở đầu( nêu mục đích hoặc lý do họp).
+ Phần chính( nghe báo cáo và thảo luận về tình hình, nguyên nhân, cách giải
quyết)

Lễ hội: Là hoạt động tập thể có cả phần lễ và phần hội.
Qua bài tập 2 học sinh được cung cấp thêm tên một số lễ hội: Lễ hội Đền Hùng, Đền Gióng, Chùa Hư
ơng, Tháp Bà, núi Bà, chùa Keo, Phủ Giấy, Kiếp Bạc, Cổ Loa, đền Quả Sơn....
Tên một số hội: Hội vật, bơi trải, đua thuyền, chọi trâu, đua voi, đua ngựa, chọi gà, thả diều, hội Lim...
Tên một số hoạt động trong lễ hội và hội: Cúng Phật, lễ Phật, thắp hương, tưởng niệm, đua thuyền, đua
ngựa, đua mô tô, đua xe đạp, kéo co, ném còn, cướp cờ, đánh đu, thả diều, chơi cờ tướng...
( Lưu ý: Một số lễ hội nhiều khi cũng được gọi tắt là hội).Mét sè h×nh ¶nh vÒ lÔ héi ®Òn HïngHéi Chïa H­¬ngMét sè lÔ héi kh¸c
Mét sè lÔ héi kh¸c Tập đọc
1. Bài Tập đọc- kể chuyện khá dài, thời gian kể chuyện quá ít, kỹ năng kể của học sinh còn
hạn chế chủ yếu là đọc thuộc.
* Hướng giải quyết.
- Trước hết giáo viên phải hiểu rằng: Học sinh lớp 3 cũng rèn kỹ năng kể chuyện bằng cách kể
lại câu chuyện vừa học trong bài tập đọc đầu tuần như lớp 2. Có điều thời gian dành cho học sinh
thực hành kể chuyện chỉ khoảng 20 phút. Lý do giảm thời gian kể chuyện là do môn Tiếng Việt
lớp 3 chỉ còn 9 tiết/ tuần ( giảm 1 tiết so với lớp 2) và do học sinh lớp 3 tốc độ đọc nhanh hơn,
nhận thức tốt hơn học sinh lớp 2.
Vì vậy với thời gian 0,5 tiết giáo viên chỉ tập trung rèn kỹ năng kể chuyện mà không mất thời
gian vào các việc như: Kiểm tra bài cũ, giáo viên kể cho học sinh nghe, tìm hiểu nội dung ý nghĩa

c. Câu Xuống đi nào, mưa ơi Tác giả nói với mưa thân mật như với một người bạn.
- Học sinh trả lời được 3 gợi ý đó tức là đã chỉ ra 3 cách nhân hoá:
+ Cách 1: Gọi sự vật bằng từ dùng để gọi người.
+ Cách 2: Tả sự vật bằng những từ dùng để tả người.
+ Cách 3: Nói với sự vật thân mật như nói với người.
- Khi gặp những bài tập đọc, nếu có hình ảnh nhân hoá thì giáo viên cần gợi ý để học sinh chỉ ra
được bài thơ, bài văn đó có sử dụng nghệ thuật nhân hoá. Các em sẽ sử dụng vào việc đặt câu, viết
đoạn văn có biện pháp nghệ thuật nhân hoá chứ không nên yêu cầu học sinh tìm các cách nhân
hoá có trong bài văn, bài thơ đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status