đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành
sản phẩm sữa việt nam
i/điều kiện về cầu thị trờng trong nớc:
Cùng với sự chuyển biến chung của nền kinh tế cả nớc, năm 1986, từ khi đất
nớc thực hiện công cuộc đổi mới thị trờng sữa mới thực sự phát triển. Ngời mua
không chỉ dùng nhiều sữa hơn, mà cơ cấu, chủng loại sản phẩm sữa cũng đa dạng
phong phú hơn. Trớc đây sản phẩm sữa tiêu thụ phổ biến là sữa đặc có đờng và
sữâ bột cho đến nay cơ cấu sản phẩm đã tăng lên nhanh chóng thành nhiều nhóm
sản phẩm phong phú. Lợng sữa tiêu thụ tăng hàng năm:150 triệu lít năm 1991
(quy ra sữa tơi), 200 triệu lít năm 1993, năm 1997 tăng lên 275 triệu lít và năm
2000 khoảng 460 triệu lít. Trong đó, thị phần nội địa của sữa sản xuất trong nớc
tăng từ 57% trong năm 1991 lên 92% trong năm 1995. Còn cơ cấu sản phẩm hiện
nay có thể chia thành 8 nhóm sản phẩm cơ bản:
1.Nhóm sản phẩm sữa tơi thanh trùng.
2. Nhóm sản phẩm sữa tơi tiệt trùng.
3. Nhóm sản phẩm sữa đặc có đờng.
4. Nhóm sản phẩm sữa bột.
5. Nhóm sản phẩm bột dinh dỡng.
6. Nhóm sản phẩm sữa chua.
7. Nhóm sản phẩm các loại kem cao cấp.
8. Nhóm các sản phẩm khác từ sữa (nh bơ, phomát).
Hiện tại các sản phẩm sữa tiêu thụ trên thị trờng nội địa có thể phân biệt t-
ơng đối rõ nh sau:
*Sữa đặc chiếm lĩnh thị trờng nông thôn và miền núi, những đối tợng sử dụng
chủ yếu là chẻ nhỏ, ngời ốm, ngời già yếu; một phần dùng làm nguyên liệu trong
các nhà máy bánh kẹo.
*Sữa bột tiêu thụ chính tại khu vực thành thị, đối tợng chính là trẻ thơ, ngời
ốm và già yếu tại khu vực dân c này.
*Sữa tơi và sữa chua cho mọi lứa tuổi trong khu vực thành thị vầ công
nghiệp.
Nh phân tích ở chơng I, sữa nói chung là sản phẩm tiêu dùng thông thờng khi
Khoảng cách thu nhập đa tạo ra sự phong phú cho các chủng loại của sản
phẩm sữa để đáp ứng những mảng thị trờng khác nhau.
Thứ hai là tại sao phần lớn những sản phẩm có chất lợng tốt hơn hay sự đòi
hỏi cao từ phía ngời tiêu dùng chủ yếu tập trung ở các khu vực thành thị phát
triển. Phải nói rằng, một trong những lý do tác động đến sự phân chia chủng loại
sản phẩm đó là kiến thức ngời tiêu dùng, sự tiếp cận của các khách hàng này tới
sản phẩm này là thờng xuyên. Mức sống cao họ đò hỏi chất lợng nhiều hơn số l-
ợng, thông tin đại chúng đợc thờng xuyên cập nhập, thông thờng trong một ngày
đêm có ít nhất là 10 lần có mặt sản phẩm sữa đợc quảng cáo trên truyền hình, các
dịch vụ khách hàng giới thiệu sản phẩm của công ty đợc phát triển rộng rãi.
Đồng thời dân trí cao khiến những ngời tiêu dùng này chở nên khó tính hơn,
hiểu biết hơn trong việc lựa chọn sản phẩm cho bản thân. Nhất là đối với một số
loại sản phẩm đặc biệt đặc biệt từ sữa nh: sữa cho trẻ em, cho phụ nữ mang thai,
cho ngời ốm, ngời bị bệnh tiểu đờngSản phẩm không chỉ đến tay ngời tiêu dùng
thông qua các đại lý phân phối hay cơ sở bán lẻ mà nó còn xuất hiện rất nhiều
hình thức nh thông qua chuyên gia t vấn dinh dỡng, qua sự hớng dẫn của bác sĩ,
qua các hớng dẫn của giáo viên trong các nhà trẻ. Các sản phẩm loại này hiện nay
tăng rất mạnh về nhu cầu, không những thế giá của nó thuộc vào loại cao nhất
trong những sản phẩm chế biến từ sữa. Nó có khả năng đem lại lợi nhuận cao cho
các doanh nghiệp có thế mạnh trong hoạt động Marketing chăm sóc khách hàng
tốt. Điều này cũng phản ánh sự không thuận lợi cho các sản phẩm nội địa hiện
nay còn kém xa về các hoạt động này so với sản phẩm nhập khẩu của các nớc có
thơng hiệu nổi tiếng trên thế giới.
Tóm lại, thị trờng tiêu thụ sữa Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, nhu
cầu đang ban đầu đợc mở rộng nhanh chóng do có nhiều khách hàng mới tham
gia vào thị trờng. Điều này có tác động đến mức độ cạnh tranh giữa các đối thủ
cạnh tranh trong ngành (ở đây là với sản phẩm nhập khẩu), nó đa đến nhiều cơ hội
cho phát triển ngành, giảm sứa ép cạnh tranh giữa các đối thủ. Do sự cạnh tranh
còn yếu, nên sự tăng mạnh về cầu cho phép các công ty nội địa tăng doanh số và
lợi nhuận mà không cần phải thôn tính thị trờng của đối thủ cạnh tranh ngay trong
nghiệp)
Đồng thời, dựa vào bảng 3, cho thấy sản phẩm của Công ty Vinamilk là có
sức cạnh tranh cao nhất, thị phần của công ty này luôn chiếm đến 70 - 75% thị tr-
ờng tiêu thụ cả nớc. Tức là, nếu quan sát qua thị phần nh vậy ta có thể cho rằng
khả năng cạnh tranh cao nhất là thuộc về sản phẩm sữa của các công ty nội địa,
trong đó mạnh nhất là Vinamilk, còn sản phẩm nhập khẩu chỉ chiếm một số phân
đoạn thị trờng nhỏ hẹp, hay nói cách khác sức cạnh tranh của sản phẩm nhập
ngoại là rất thấp.
Bây giờ chúng ta xét đến thị phần theo nhóm sản phẩm để thấy đợc sản phẩm
nào chúng ta có thế mạnh nhất và sản phẩm nào chúng ta còn bị hạn chế trong
cạnh tranh trên thị trờng nội địa.
Bảng 4: Thị phần theo sản phẩm
Đơn vị:%
Thị phần
Sữa đặc có đờng Sữa bột Sữa tơi
Tổng 100% 100% 100%
Vinamilk 66-70% 40% 90 - 98%
Dutch Lady, Nestle và các
doanh nghiệp trong nớc khác
30 - 35% 35-40% 2 - 6%
Sản phẩm nhập khẩu <1% 20% 2 - 3%
(Nguồn: Tính toán dựa theo số liệu của Viện Quy hoạch và thiết kế nông
nghiệp)
Theo số liệu trên thì Vinamilk gần nh độc quyền đối với sản phẩm sữa tơi,
chiếm phầm lớn thị phần của sản phẩm sữa đặc và sản phẩm sữa bột cũng chiếm
đến một nửa thị trờng. Tức là trong cơ cấu sản phẩm, sản phẩm nội địa cũng
chiếm thế áp đảo đối với mọi nhóm sản phẩm ngành sữa, trong đó có mạnh nhất
có lẽ là sản phẩm sữa tơi.
Nh vậy, nếu chỉ quan sát qua thị trờng tiêu thụ sữa mà đánh giá khả năng
cạnh tranh của sản phẩm sữa thì rõ ràng sản phẩm sữa nội địa hiện nay của Việt
khi bỏ qua việc bảo hộ của Chính phủ, nhng sức cạnh tranh về giá là rất thấp, bấp
bênh và không ổn định nhất là khi giá nguyên liệu đầu vào nhập khẩu đang có xu
hớng tăng nh hiện nay. Liệu trong mối tơng quan với chất lợng chúng ta có thể
cạnh tranh đợc hay không.
2.Khả năng cạnh tranh về chất lợng của sản phẩm sữaViệt Nam:
Mặc dù với công nghệ sản xuất tơng đối hiện đại đủ khả năng để chế biến
các sản phẩm sữa đảm bảo chất lợng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Sản phẩm của Công
ty Sữa Việt Nam đợc các cơ qua chuyên trách về chuyên trách trong và ngoài nớc
xác nhận về chất lợng (Vinacontrol, Viện Kiểm tra Đo lờng chất lợng của áo ).
Tuy nhiên xét về tổng thể, Việt Nam vẫn cha xây dựng đợc bộ tiêu chuẩn hoàn
chỉnh cho các sản phẩm sữa từ sữa nguyên liệu nhập khẩu đến sữa thành phẩm.
Tức là, chất lợng sản phẩm nội địa đợc thả nổi, không đợc đảm bảo bởi bất kỳ một
tổ chức có uy tín nào, mà phụ thuộc vào cách làm của từng công ty. Hơn nữa sản
phẩm sữa trong nớc chủ yếu đơc sản xuất từ sữa bột nhập khẩu, mà để sản phẩm
chế biến từ nguồn sữa bột nhập đạt đợc chất lợng nh sản phẩm tạo ra từ nguồn sữa
tơi tại chỗ thì trong quá trình chế biến phải bổ xung thêm vi lợng vi lợng các
khoáng chất, vitamin, béo
Trong khi chúng ta so sánh với các đại gia sản xuất sữa trên thế giới, chất l-
ợng sản phẩm luôn đợc đảm bảo bởi các hiệp hội có uy tín trên thế giới. Từ trớc
đến nay đã luôn đợc ngời tiêu dùng tin cậy, ngay cả ngời tiêu dùng trong nớc, đối
với các sản phẩm nhập ngoại này giá rất cao ngay cả khi bị chịu thuế vẫn có ngời
tiêu dùng, nếu không bị hạn chế bởi thuế và hạn ngạch của Chính phủ thì sản
phẩm sữa trong nớc có khả năng sẽ bị đè bẹp ngay trên thị trờng nội địa.
Kết luận nhỏ: Từ phân tích trên ta đánh giá tổng quát về sức cạnh tranh
chung của toàn ngành nh sau: chúng ta có khả năng cạnh tranh về giá nhng là rất
thấp và không ổn định do không chủ động đợc nguồn nguyên liệu đầu vào, còn
khả năng cạnh tranh về chất lợng thì chúng ta không có. Tức là nhìn chung khả
năng cạnh tranh của sản phẩm sữa Việt Nam so với hàng nhập khẩu là rất thấp.
Do vậy chúng đi sâu vào phân tích khả năng cạnh tranh của từng nhóm ngành nhỏ
để có những nhận định chi tiết và chính xác hơn. Nếu không có khả năng cạnh
Kho chứa
Lên men sữa chua
Giá sản phẩm này trên thị trờng đợc bán với giá khoảng 9.500 đồng/lít (gồm
cả chi phí bán hàng ) và cha kể thuế giá trị giá tăng. Nếu lấy giá nguyên liệu sữa
hiện nay trong nớc là 3.550 đồng/lít thì giá thành 1 lít sữa tơi đã qua chế biến là
8.176 đồng/lít. Tức là so với giá bán ở trên thì các cơ sở chế biến gần nh cha có lãi
ở loại sản phẩm này.
2.Sữa tơi tiệt trùng (UHT) và Sữa chua:
Hai loại sản phẩm này về cơ bản có thể biểu diễn lu trình công nghệ sản xuất
nh sau:
Hình 1: Lu trình công nghệ sản xuất sữa tơi tiệt trùng và sữa chua
dạng uống.
(Nguồn: Theo quy hoạch phát triểnngành công nghiệp sữa Việt Nam).
Nớc Bột sữa
Sữa tiệt trùng
Sữa chua dạng uống
Sữa tơi tiệt trùng (UHT) Sản phẩm đợc chế biến từ sữa bò tơi, gia nhiệt tiệt
trùng ở nhiệt độ cao 150
0
C trong thời gian từ 1-2 giây sau đó đóng bằng bao
BBIST. Đặc điểm của sản phẩm có thời hạn sử dụng lâu (có thể đợc 12 tháng)
trong điều kiện nhiệt độ bình thờng, thuận tiện khi vận chuyển phân phối và sử
dụng nên các nớc Châu á trong đó có Việt Nam rất a chuộng loại sản phẩm này.
Sản phẩm sữa tơi tiệt trùng nếu đợc sản xuất từ nguồn nguyên liệu sữa tơi tại chỗ
thì bỏ qua công đoạn hoà trộn
Sữa chua: sản phẩm đợc chế biến sữa bò (sữa bột hoặc sữa tơi) + dầu bơ + đ-
ờng đợc đồng hoá - thanh trùng - làm nguội - cấy men- ủ - làm lạnh - đóng hộp
PE. Sản phẩm đợc bảo quản ở nhiệt độ 5
24%, trong khi đó chi phí ngoại tệ chiếm đến 76%, thế nhng một điều thật ngạc
nhiên là không phải phần lớn chi phí ngoại tệ dùng để nhập khẩu nguyên liệu sữa
bột gầy mà là chi phí bao bì, chi phí này chiếm 62,5% trên tổng chi phí, tức là
nguyên liệu sữa nhập khẩu chỉ chiếm 13,5%. Vậy chúng ta phân tích xem nhóm
sản phẩm này của chúng ta có khả năng giảm giá hay tăng chất lợng hay không.
Nếu muốn giảm giá, thì giải pháp tốt nhất là phải có hớng giảm chi phí bao
bì xuống, tức là chuyển hớng tìm nhà cung cấp bao bì trong nớc. Đây là phơng h-
ớng khả quan, hiện đã có nhiều công ty tham gia vào lĩnh vực sản xuất này.
Nếu muốn nâng cao chất lợng, chúng ta có hai cách: sử dụng nguyên liệu sữa
tơi trong nớc hoặc sử dụng nguyên liệu sữa bột ngoại nhập. Sữa nhập khẩu chúng
ta sử dụng giao động trong khoảng 0,15-0,21 USD/kg, trong khi giá thu mua của
nông dân về đến nhà máy 1kg sữa với giá 3.550 đồng tơng đơng 0,23 USD. Nếu
sử dụng nguyên liệu sữa tơi tại chỗ trong nớc, sản phẩm sẽ có chất lợng cao nhng
sẽ làm tăng chi phí sản phẩm lên khoảng 0,02-0,08 USD, tức là giá mỗi lít sữa nội
địa tăng thêm khoảng 400-1.200 đồng/lít sữa trên thị trờng. Tơng đối bằng giá sản
phẩm nhập ngoại khi không có tác động của thuế.Còn nếu sử dụng nguyên liệu
nhập khẩu thì phải bổ xung thêm một số chất dinh dỡng, điều này làm giá thành
sản phẩm cao hơn cả việc sử dụng nguyên liệu trong nớc nhng lại chiếm phần lớn
vì hiện nay nguyên liệu trong nớc mới chỉ đáp ứng đợc 13% tổng nhu cầu nguyên
liệu sử dụng trong ngành.
Giải pháp trên là cần thiết trong điều kiện sắp tới khi Nhà nớc đã có các Tiêu
chuẩn kiểm định chất lợng không buông lỏng nh hiện nay.
Nh vậỵ, nếu kết hợp cả hai phơng pháp trên hoặc sản phẩm sản xuất bằng
nguồn nguyên liệu trong nớc đợc giảm bớt thuế và thì có thể cạnh tranh đợc về
giá so với sản phẩm nớc ngoài mà chất lợng vẫn đảm bảo. Vậy chúng ta có khả
năng phát triển nguồn nguyên liệu hay tự túc đợc về bao bì sản phẩm hay không,
nếu có thì mới có thể tiếp tục phát triển nhóm sản phẩm này.
3.Sữa đặc có đờng: Sản phẩm chế biến từ sữa bột (hoặc sữa bò tơi), trộn với
bơ (hoặc dầu thực vật) cùng với đờng kính và nớc đợc đồng hoá-thanh trùng-cô
đặc làm nguội-đóng trong hộp thiếc. Sản phẩm sữa đặc có đờng thuận tiện cho ng-
liền, tiện lợi cho việc nuôi dỡng trẻ em.
Sản phẩm bộ ngũ cốc dinh dỡng này mặc dù mới đợc sản xuất nhng lại tỏ ra
có hiệu quả cao, đặc biệt là sản phẩm của Nestle, Vinamilk, giá cả hợp lý một
phần là do bao bì sản phẩm đã đợc nội địa hoá (vì dễ sản xuất hơn các loại bao bì
cho sản phẩm sữa nớc, hơn nữa bao bì cho sản phẩm xuất khẩu thờng phải dùng
hộp thiếc, bảo quản qua nhiều lớp bao gói, trong khi sản phẩm này trong nớc đang
đợc tiến hành sử dụng hộp bìa sản xuất trong nớc kết hợp với lớp bao gói bằng
giấy thiếc kinh tế hơn nhiều ). Về chất lợng, do thành phần dinh dỡng trong loại
sản phẩm này tơng đối thuận lợi vì có khả năng nội địa hoá cao nên thành phần
dinh dỡng của sản phẩm nhập khẩu cũng chỉ tơng tự nh sản phẩm trong nớc, lại
thêm các loại chi phí bảo quản, vận chuyển, bao gói làm giá sản phẩm nhập khẩu
càng tăng cao. Tức là, đối với loại sản phẩm này sản phẩm nội địa có khả năng
cạnh tranh cao về giá.
iii/Các nhân tố chủ yếu tác động tới khả năng cạnh
tranh của sản phẩm sữa Việt Nam:
1.Nguồn nguyên liệu:
Nguyên liệu chính dùng cho công nghiệp chế biến sữa và các sản phẩm từ
sữa là sữa bò, ngoài ra còn cần các phụ liệu khác nh bao gói sản phẩm, đờng RE,
mứt quả
Trong đó sữa bò là loại nguyên liệu chủ yếu nhất của ngành sữa Việt Nam.
Nguồn nguyên liệu sữa hiện nay của ngành gồm nguồn nguyên liệu nhập khẩu và
nguồn nguyên liệu có đợc từ đàn bò sữa chăn nuôi trong nớc.
1.1.Nguồn nguyên liệu nhập khẩu:
Hiện nay nguồn nguyên liệu sản xuất trong nớc chỉ đạt khoảng 13% trong
tổng nhu cầu về nguyên liệu của ngành. Nhu cầu nguyên liệu nhập khẩu sử dụng
dới dạng chính là bột sữa gầy. Nếu tính cả nhu cầu về các dạng sữa khác nh sữa
bột các loại, sữa đặc có đờng, sữa tơi tiệt trùng, pho mát, bơ, kem,thì nhu cầu
trong nớc đợc đáp ứng bởi 90% là sản phẩm nhập khẩu. Do vậy mà hàng năm,
chúng ta phải mất một nguồn ngoại tệ lớn để nhập khẩu sữa.
Bảng 5:Tổng giá trị nhập khẩu các loại sữa qua cảng TP. Hồ Chí Minh