LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU, HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP - Pdf 68

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU, HIỆU QUẢ KINH
DOANH NHẬP KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH
NGHIỆP
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHẬP KHẨU
1. Khái niệm nhập khẩu
Trong thời gian gần đây, khi vai trò của Việt Nam trong các tổ chức quốc
tế ngày càng được khẳng định thì cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của hoạt
động ngoại thương. Xuất nhập khẩu hàng hóa trở thành một mảng quan trọng
trong hoạt động nói chung của cả nền kinh tế. Hai hoạt động chủ yếu là xuất
khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài và nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài
về tiêu thụ tại thị trường trong nước trở thành các hoạt động khá phổ biến. Cùng
với xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu là các yếu tố cấu thành chính cho hoạt động
ngoại thương. Nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh quốc tế, vượt ra khỏi
phạm vi biên giới quốc gia. Có thể nói, nhập khẩu chính là việc các công ty
trong nước mua hàng hóa của các nhà sản xuất, phân phối nước ngoài về tiêu
thụ tại thị trường nội địa nước mình, nhằm phục vụ những nhu cầu về sản xuất,
tiêu dùng hoặc tái sản xuất mà nền sản xuất trong nước không đáp ứng được
hoặc đáp ứng chưa tốt nhu cầu đó. Trên cơ sở đó, tìm kiếm lợi nhuận cho mình.
Hoạt động nhập khẩu thể hiện mối liên hệ phụ thuộc, sự ràng buộc của nền kinh
tế một nước với nền kinh tế thế giới.
Như vậy, có thể nói rằng nhập khẩu là việc mua bán hàng hóa, dịch vụ từ
các nhà sản xuất, cung ứng nước ngoài về phục vụ các nhu cầu trong nước. Điều
này góp phần làm cho chủng loại hàng hóa trên thị trường nội địa trở nên phong
phú và đa dạng, người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn nhiều loại hàng hóa hơn cho
nhu cầu của mình.
2. Đặc điểm cơ bản và vai trò của hoạt động nhập khẩu
2.1 Đặc điểm cơ bản của hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh quốc tế, nó mang những đặc
trưng rất riêng so với kinh doanh nội địa. Những đặc điểm riêng này có tác động
và ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp.

gia khác nhau, nên hoạt động nhập khẩu chịu sự chi phối của luật nước người
mua, luật nước người bán, luật quốc tế, các tập quán thương mại… Các nguồn
luật này nhiều khi có sụ xung đột, mâu thuẫn nhau. Điều này thường mang lại
nhiều rủi ro cho các bên. Yêu cầu đặt ra là mỗi doanh nghiệp tham gia hoạt
động nhập khẩu phải lưu ý và nắm rõ điều này để lựa chọn được nguồn luật điều
chỉnh hợp đồng, tránh được các phát sinh không cần thiết.
Xuất phát từ đặc điểm hoạt động vượt ra khỏi biên giới quốc gia mà hoạt
động nhập khẩu mang những đặc điểm riêng nêu trên. Những đặc điểm này một
mặt mang lại cho các bên tham gia hoạt động nhập khẩu cả những cơ hội lớn
cũng như các rủi ro đáng kể.
2.2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu
Trước hết, nhập khẩu giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chính phủ các
quốc gia có thể kiểm soát, điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các chính sách
nhập khẩu. Đối với các nghành cần khuyến khích phát triển, chính phủ có thể áp
dụng các biện pháp, chính sách nhập khẩu nhiều ưu đãi với những mặt hàng
phục vụ nghành đó. Đồng thời với những sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với sản
phẩm nghành đó sản xuất ra, chính phủ có thể áp dụng biện pháp hạn chế nhập
khẩu, các biện pháp bảo hộ. Mặt khác, với những quốc gia đang hoặc kém phát
triển, họ ít có điều kiện nghiên cứu phát triển và triển khai công nghệ mới, hiện
đại. Thông qua hoạt động nhập khẩu, họ có thể có được những công nghệ mới,
hiện đại, phục vụ nền sản xuất trong nước, làm gia tăng năng suất cũng như khả
năng cạnh tranh cho nền kinh tế quốc gia đó. Đồng thời cũng có thể đáp ứng
được nhu cầu cho thị trường trong nước, qua đó làm giảm sự lệ thuộc vào các
nước khác.
Thứ hai, nhập khẩu góp phần làm nền kinh tế quốc gia phát triển ổn định,
cân đối. Mỗi quốc gia, dù giàu có và phát triển đến đâu cũng không thể tự sản
xuất và đáp ứng tất cả các nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và phong phú
của mình. Như đã nói, mỗi đất nước có một lợi thế so sánh riêng. Để đạt hiệu
quả cao nhất, họ chỉ tập trung vào sản xuất những mặt hàng họ có lợi thế đó,
mang những sản phẩm đó đi trao đổi để đáp ứng các nhu cầu khác nữa. Hoạt

nghành, một mặt làm thay đổi công nghệ, quy trình sản xuất. Điều đó cho phép
chúng ta sản xuất ra được những sản phẩm đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn kỹ
thuật của họ, là bước khởi đầu cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa ra thị trường
nước ngoài. Ngoài ra, trong nhiều chương trình hợp tác giữa các chính phủ, các
tổ chức nhà nước, khi chúng ta chấp nhận nhập khẩu hàng hóa của họ, họ cũng
sẽ chấp nhận nhập khẩu hàng hóa khác của ta. Khi đó, hoạt động nhập khẩu
cũng đã góp phần thúc đẩy và tác động tích cực tới hoạt động xuất khẩu.
3. Các hình thức nhập khẩu
Trong ngoại thương, các phương thức giao dịch mua bán hàng hóa khá
phong phú và đa dạng. Cùng với đó, hoạt động nhập khẩu cũng có khá nhiều
hình thức. Khi tham gia kinh doanh nhập khẩu, tùy thuộc vào năng lực tài chính
của doanh nghiệp, vào chủng loại và đặc tính hàng hóa, vào quan hệ giữa các
bên mà nhà nhập khẩu có thể lựa chọn cho mình các hình thức nhập khẩu phù
hợp và đạt hiệu quả. Hiện nay, các hình thức nhập khẩu có thể kể đến bao gồm:
nhập khẩu trực tiếp, nhập khẩu ủy thác,nhập khẩu hàng đổi hàng, nhập khẩu gia
công, nhập khẩu liên doanh.
Nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu mà hai bên mua và bán trực
tiếp giao dịch với nhau, hàng hóa được nhà nhập khẩu mua trực tiếp từ nhà sản
xuất, cung ứng nước ngoài mà không qua trung gian. Theo đó, bên xuất khẩu
trực tiếp giao hàng cho bên nhập khẩu. Nhà nhập khẩu sẽ tự bỏ vốn để kinh
doanh nhập khẩu, tự thực hiện các công việc như tìm đối tác, đàm phán, ký kết
hợp đồng, tự tổ chức kinh doanh hàng nhập khẩu, tự chịu chi phí cho giao dịch,
nghiên cứu thị trường, giao nhận, lưu kho… Theo hình thức này, các doanh
nghiệp nhập khẩu phải chịu trách nhiệm với các hoạt động của mình. Nhập khẩu
trực tiếp chứa đựng độ rủi ro cao hơn các hình thức nhập khẩu khác nhưng
mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho các nhà nhập khẩu.
Nhập khẩu ủy thác hay còn gọi là nhập khẩu qua trung gian, là hình thức
nhập khẩu qua trung gian thương mại. Theo hình thức này, bên nhập khẩu sẽ ủy
thác cho một trung gian thương mại, trung gian này sẽ liên hệ với nhà xuất
khẩu, thực hiện các nghiệp vụ nhập khẩu hàng hóa thông thường để nhập hàng

II. HQKD NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm HQKD, HQKD nhập khẩu của doanh nghiệp
1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Tham gia vào hoạt động kinh tế, nói chung bất cứ đơn vị nào cũng hướng
tới mục tiêu lợi nhuận. Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng các doanh
nghiệp theo đuổi. Với một đồng vốn bỏ vào kinh doanh, ai cũng muốn nó mang
lại nhiều đồng lợi nhuận nhất. Muốn đạt được điều đó, các doanh nghiệp không
ngừng đầu tư cho nghiên cứu thị trường, thay đổi quy trình, công nghệ, cải tiến
sản phẩm, cắt giảm chi phí sản xuất, cũng như các chi phí liên quan… Tất cả
những điều đó, nói một cách khác là sự sắp xếp, hợp lý hóa quá trình sản xuất
kinh doanh. “Hiệu quả kinh doanh” là một thuật ngữ để đánh giá, xem xét mứ
độ hợp lý hóa quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Dưới nhiều góc độ khác nhau, có rất nhiều quan điểm, ý kiến về thuật
ngữ “hiệu quả kinh doanh” này. Có thể kể đến một số quan điểm sau đây:
Quan điểm thứ nhất cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được
trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”
1
. Quan điểm đã thể
hiện được mối liên hệ giữa doanh thu và hiệu quả kinh doanh. Theo quan điểm
này, hiệu quả kinh doanh là như nhau nếu các hoạt động kinh doanh cùng mang
lại một mức doanh thu. Có thể thấy, trên thực tế để mang lại cùng một mức
doanh thu nhưng doanh nghiệp phải có sự đầu tư khác nhau cho các hoạt động
khác nhau. Mức đầu tư đó chính là chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được
doanh thu. Chưa phản ánh được điều này chính là hạn chế của quan điểm trên
về hiệu quả kinh doanh.
Quan điểm thứ hai cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa
phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”
2
. So với quan điểm
thứ nhất, quan điểm này đã thể hiện được mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí.

xuất”
4
. Về cơ bản, quan điểm này đã phản ánh được mối liên hệ bản chất về
hiệu quả kinh doanh giữa doanh thu và chi phí cũng như sự vận động của hai
yếu tố này, đồng thời còn phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực của
doanh nghiệp. Tuy vậy, hạn chế của nó là chưa thể hiện được mối quan hệ chặt
chẽ giữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả kinh tế xã hội.
Với bốn quan điểm trên về hiệu quả kinh doanh, chúng ta vẫn chưa tìm
được đáp án chung và chính xác nhất để nói về hiệu quả kinh doanh. Một cách
tổng quát, có thể nói rằng: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của
doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí
thấp nhất”
5
. Nó là thước đo phản ánh trình độ tổ chức, quản lý sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Quan điểm này đã phản ánh được mối liên hệ bản chất
giữa việc sử dụng các nguồn lực và kết quả do nó mang lại, đồng thời cũng thể
hiện được trình độ sử dụng các nguồn lực cũng như phản ánh được mối liên hệ
giữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả kinh tế xã hội. Trên
góc độ nền kinh tế quốc gia, hiệu quả kinh doanh phải phản ánh mức độ thỏa
4 Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, PGS.TS Nguyễn Thị Hường tập
2, trang 319
5 Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, PGS.TS Nguyễn Thị Hường tập
2, trang 319
mãn nhu cầu ngày càng cao của người dân và toàn xã hội về cả chất lượng lẫn
số lượng. Hiệu quả được xem xét trên cơ sở lợi ích toàn xã hội, làm sao để đạt
được mức phát triển lớn nhất với nguồn lực xã hội thấp nhất.
1.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
Về cơ bản, dưới góc độ kinh tế đơn thuần hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
cũng như hiệu quả kinh doanh nói chung. Có thể nói rằng hiệu quả kinh doanh

thể hiện qua tương quan chênh lệch của kết quả và chi phí, nói cách khác đó là
sự chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Có thể hiểu hiệu quả tuyệt
đối qua công thức tính sau:
E = KQ – CF (*)
Trong đó:
- E: hiệu quả tuyệt đối, là chỉ tiêu trực tiếp đo lượng lợi nhuận doanh
nghiệp thu được sau mỗi kỳ kinh doanh. Hiệu quả tuyệt đối thường được đo
bằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng, tỷ đồng, triệu USD…
- KQ: Tổng các kết quả thu được bao gồm: doanh thu từ hoạt động bán
hàng, doanh thu từ hoạt động tài chính, các khoản thu khác… Kết quả thường
được đo bằng các đơn vị tiền tệ như: triệu đồng, tỷ đồng, triệu USD…
- CF: Tổng các chi phí bỏ ra để thu được kết quả trên bao gồm: tiền nhập
hàng từ nước ngoài về, chi phí vận chuyển, chi phí mua bảo hiểm hàng hóa, chi
phí lưu kho, bảo quản hàng, chi phí lãi vay ngân hàng, chi phí mua ngoài, tiền
lương công nhân viên… Chi phí thường được đo bằng các đơn vị tiền tệ như:
triệu đồng, tỷ đồng, triệu USD…
Cần lưu ý rằng, trong kinh doanh, doanh thu và chi phí có thể được đo
lường bằng các đơn vị tiền tệ khác nhau, nhưng khi tính hiệu quả tuyệt đối cần
đưa về cùng một đơn vị tiền để tính. Khi kết quả và chi phí được đo bằng đồng
tiền nào để tính thì hiệu quả cũng được tính bằng được tính bằng đồng tiền đó.
2.1.2 Hiệu quả tương đối
Hiệu quả tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản
xuất của doanh nghiệp. Với CF và KQ như trong công thức (*) ở trên, ta có 2
cách tính hiệu quả tương đối với các ý ngĩa khác nhau:
Chỉ tiêu 1:
H
1
=
Về mặt ý nghĩa chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng chi phí bỏ ra sẽ mang lại
bao nhiêu đồng kết quả. Điều này cũng có nghĩa rằng chỉ tiêu này phản ánh hiệu

2.2.1 Hiệu quả kinh doanh tổng hợp
Là hiệu quả kinh doanh tính chung cho toàn doanh nghiệp , cho tất cả các
bộ phận trong doanh nghiệp. Nó cho biết kết quả thực hiện các mục tiêu doanh
nghiệp đề ra trong một giai đoạn nhất định.
2.2.2 Hiệu quả kinh doanh bộ phận
Là hiệu quả kinh doanh được tính cho từng bộ phận, từng hoạt động kinh
doanh trong doanh nghiệp, hoặc với từng yếu tố sản xuất của doanh nghiệp như
vốn, lao động… Hiệu quả kinh doanh bộ phận chỉ phản ánh hiệu quả từng hoạt
động, từng yếu tố riêng lẻ chứ không phản ánh được hết hiệu quả của toàn
doanh nghiệp.
Giữa hiệu quả kinh doanh bộ phận và hiệu quả kinh doanh tổng hợp có
mối liên hệ mật thiết. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp tăng có thể phản ánh sự
tăng lên tương ứng của hiệu quả kinh doanh bộ phận, cũng có thể hiệu quả kinh
doanh bộ phận không đổi hoặc đang giảm sút. Mặc dù phản ánh chi tiết và
chính xác hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất riêng biệt cũng như sự đóng góp
của chúng, nhưng chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận không phản ánh được
một cách tổng quát khả năng, trình độ sử dụng nguồn lực vào sản xuất kinh
doanh cũng như hiệu quả kinh doanh toàn doanh nghiệp.
2.3 Căn cứ theo thời gian mang lại hiệu quả
Khi tính toán hiệu quả, ngoài phạm vi tính toán thì giới hạn thời gian là
một yếu tố quan trọng phản ánh chính xác hiệu quả doanh nghiệp đạt được.

Trích đoạn SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HQKD NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status