SƠ THẢO TÍNH DANH HỌC VIỆT NAM
DẪN NHẬP
Theo định nghĩa của bách khoa từ điển Britannica, tập 24, ấn bản lần thứ 15, danh xưng học, Anh ngữ gọi là
onomastics hay onomatology, là một khoa học nhân văn, nghiên cứu tên nơi chốn, tên con người[1]. Theo Đại
Từ Điển Tiếng Việt[2], danh xưng học là ngành ngôn ngữ học nghiên cứu tên riêng của người, động vật, sự
vật.
Phạm vi nghiên cứu khoa học này rất rộng lớn, bao gồm mọi khu vực địa lý, văn hóa, ngôn ngữ, và mọi thời
đại lịch sử. Danh học được chia làm hai ngành: địa danh học (toponymy) và tính danh học (anthroponymy hay
anthroponomastics). Địa danh học nghiên cứu về tên nơi chốn, trực thuộc môn địa lý học. Tính danh học
nghiên cứu về tên con người, trực thuộc khoa nhân chủng học. Mỗi ngành trên lại chia làm nhiều ngành phụ
như địa danh học Trung Quốc, địa danh học Việt Nam, tính danh học Hoa Kỳ, tính danh học Pháp, tính danh
học Việt Nam.
Tại Hoa Kỳ, tính danh học được giảng dậy tại phân khoa nhân chủng học, địa danh học được giảng dậy tại
phân khoa địa lý học. Danh học nói chung được dậy tại phân khoa ngôn ngữ học. Cũng tại Hoa Kỳ, tính danh
học được dậy cho các học sinh trung học trong môn khoa học xã hội[3]. Đại học Leipzig ở Đức cấp bằng Cao
Học cho ngành danh xưng học và nội dung giảng khóa gồm 4 lãnh vực chính: (a) lý thuyết danh xưng học, (b)
danh xưng học áp dụng, (c) sự phát triển ngành danh xưng học, (d) xã hội danh xưng học. Tại đại học
Louvain ở Bỉ, môn danh học cũng được giảng dậy và tại đây có trụ sở của Ủy Ban Quốc Tế Về Khoa Danh
Xưng Học (International Committee of Onomastic Science). Tại Đài Loan, danh xưng học được nghiên cứu
trong hai phân khoa xã hội học và luật học của Viện Ðại Học Quốc Gia Đài Loan.
Về các tài liệu tính danh học, Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới có những tác phẩm nói về tên họ. Ðời
Tấn (265-420), Giang Vi viết Trần Lưu Phong Tục Truyện. Ðời Đường (618-907), tác giả Lâm Bảo viết Nguyên
Hà Tính Toản, ghi lại nguồn gốc các tên họ trong triều đại này. Đến đời Tống (960-1279), Trương Định viết
Danh Hiền Thị Tộc Ngôn Hành Loại Cảo. Hiện nay, Trung Quốc là một trong những nước có thư mục phong
phú nhất về tính danh học. Tác giả Sheau Yueh J. Chao, trong tác phẩm In Search of Your Asian Roots, đã
liệt kê thư mục với 210 tác phẩm nói về tên họ tại Trung Quốc. Có những tác phẩm rất chuyên biệt như hai
ông Trần Minh Nguyên và Vương Tống Hổ viết Trung Quốc Tính Thị Đại Toàn, xuất bản tại Bắc Kinh năm
1987, liệt kê và trình bày nguồn gốc 5600 tên họ của Trung Quốc. Tác giả Trần Nãi Hất viết sách nói về bút
hiệu, biệt hiệu của các học giả, chính trị gia Trung Quốc.
Tại Âu Châu, các sách về môn tính danh học được xuất bản khá sớm. Tác phẩm đầu tiên về vấn đề này là
The Calendar of Scripture của William Patton, xuất bản năm 1575. Công trình này là tổng hợp hai tác phẩm
Tên Gọi Người Việt. Năm 1992, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội in tác phẩm Họ Và Tên Người Việt Nam của
Tiến sĩ Lê Trung Hoa. Năm 1996, Giáo sư Hà Mai Phương và Bảng Phong viết bài Tên, Họ Người Việt Nam
được in trong phụ lục Di Cảo 7 của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Năm 1998, cơ sở MêKông Tỵ Nạn xuất bản di
cảo 7 của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy với tựa đề: Tên Người Việt Nam. Năm 2000, trong bản tin Hiệp Thông,
số 9, xuất bản tại Việt Nam, linh mục Nguyễn Ngọc Sơn viết bài: Vấn Ðề Cách Viết Tên Riêng Tiếng Nước
Ngoài Trong Sách Báo Công Giáo. Tại hải ngoại, tập san Thế Kỷ 21 đăng ba bài. Số 111, tháng 7 năm 1998
đăng bài: Những Cuộc Đổi Họ Lớn Trong Lịch Sử của Trần Gia Phụng. Số 122, tháng 6 năm 1999 đăng bài:
Người Việt Tên Mỹ-Vấn Đề Cần Suy Nghĩ của ông Nguyễn Đức Mai. Đến số 148, phát hành tháng Tám năm
2001, Giáo sư Vũ Hiệp viết bài: Tìm Hiểu Nguồn Gốc và Sự Phát Triển Của Một Số Dòng Họ Tiêu Biểu Của
Người Việt Nam. Năm 2002, Trung tâm văn hóa Nguyễn Trường Tộ tại Pháp cho in hai bài thuyết trình. Bài
thứ nhất của tác giả Nguyễn Ðăng Trúc có tựa đề Xưng Hô Trong Gia Ðình Việt Nam. Bài thứ hai của tác giả
Hoàng Ðức Phương có tựa đề Cách Xưng Hô Trong Xã Hội Việt. Cả hai bài được in chung trong tác phẩm
Tình Yêu, Gia Ðình và Hội Nhập. Ngoài các tài liệu quan trọng trên đây, tạp chí Phổ Thông xuất bản tại Sàigòn
trước năm 1975 có in nhiều bài nói về tên người Việt Nam.
Về Pháp ngữ, năm 1932, Giáo sư Pierre Gourou viết bài Les Noms De Famille Ou Họ Chez Les Annamites Du
Delta Tonkinois đăng trong tập san Bulletin de L’École Francaise D’Extrême Orient. Tome XXXII, xuất bản tại
Hà Nội. Năm 1938, học giả Nguyễn Văn Tố viết bài: La Pratique Du Changement De Nom Chez Les
Annamites đăng trong tập san B.I.I.E.H.
Về Anh ngữ, năm 1960, Giáo sư Nguyễn Đình Hòa viết bài Vietnamese Names and Titles đăng trong Asian
Culture, Vol. II, số 2. Tài liệu này, năm 1990, hội sinh viên Việt Nam tại đại học San Jose City College cho in
lại trong A Selection of Readings on Socio-Cultural Values and Problems of The Vietnamese in The United
Sates. Năm 1961, cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ, gọi tắt là C.I.A. viết tài liệu Vietnamese Personal
Names, dài 36 trang, hiện đang lưu trữ tại thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ tại Washington. Năm 1973, Giáo sư
Nguyễn Khắc Kham viết bài Vietnamese Names And Their Peculiarities, đăng trong tập san Area and Culture
Studies, số 23 của trường đại học Tokyo, Nhật Bản.
Tiếp nối những công trình chuyên biệt trên, chúng tôi góp phần vào việc tìm hiểu danh xưng học Việt Nam
qua tác phẩm: Sơ Thảo Tính Danh Học Việt Nam. Tác phẩm này có ba mục đích. Một là tìm hiểu ý nghĩa và
nguyên tắc đặt các loại tên như đế hiệu, niên hiệu, tôn hiệu, thụy hiệu, tên tự, bút hiệu, thương hiệu, nghệ
danh tên họ, tên đệm, tên chính, tên húy v.v…Hai là tìm hiểu tiến trình hình thành và phạm vi áp dụng của các
loại tên nói trên. Ba là tìm hiểu sự dị biệt và tương đồng giữa hai hệ thống tên, hệ thống đông phương mà tiêu
Việt Nam để khảo sát tại chỗ. Do vậy, tác phẩm còn thiếu sót, chúng tôi thành khẩn kính mong quý thức giả
bổ túc .
Hoàn tất được tác phẩm này, chúng tôi được sự hỗ trợ tinh thần đặc biệt của vợ tôi: bà Phạm Thị Kim Liên,
của các con và các anh chị em trong gia đình. Chúng tôi cũng xin cám ơn sự chỉ giáo của nhiều bậc thức giả
trưởng thượng. Ðặc biệt, xin cám ơn nhà nghiên cứu Trần Vinh, Linh Mục Trần Cao Tường người bạn đồng
môn năm xưa, đã đọc bản thảo và góp nhiều ý kiến quý giá cho công trình nghiên cứu này. Tuy nhiên, phần
trách nhiệm nội dung vẫn thuộc cá nhân chúng tôi.
San Jose, California mùa Xuân năm 2003.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] The New Encyclopaedia Britannica. Vol. 24, Britannica Inc. 1991. Tr. 728.
[2] Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo - Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa Việt Nam.( Nguyễn Như Ý chủ biên). Ðại Từ
Ðiển Tiếng Việt. Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội 1998, tr. 511.
[3] Xem giáo trình bài học này www. teachercreated.com/lessons.
CHƯƠNG 1
DANH XƯNG ĐẶC BIỆT
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
MỤC I : DANH XƯNG ÐẶC BIỆT CỦA VUA CHÚA VIỆT NAM
A. Ðế hiệu
B. Niên hiệu
C. Tôn hiệu
D. Thụy hiệu
E. Miếu hiệu
MỤC II : DANH XƯNG ÐẶC BIỆT CỦA THƯỜNG DÂN VIỆT NAM
A. Tên tục
B. Tên tước
C. Tên tự
Đế hiệu là tên triều đại của một vị vua được công bố trong ngày lễ đăng quang để minh chứng với thần
dân trong nước vua là chủ tể, có mọi quyền hành trên thần dân và đất nước. Trong suốt thời gian trị vị, vua
Trung Quốc cũng như vua Việt Nam chỉ có một đế hiệu, nhưng có thể có nhiều niên hiệu hay tôn hiệu. Đế
hiệu của các vua Việt có những điểm khác nhau ở mỗi giai đoạn lịch sử.
1. Đế Hiệu Các Vua Việt Thời Sơ Sử: Theo cổ sử, các vua đầu tiên của nước ta có các đế hiệu là Hùng
Vương Thứ Nhất đến Hùng Vương Thứ Mười Tám. Với cách thức lựa chọn này, liệu các vua Việt trong giai
đoạn sơ sử, đã biết chọn cho mình một đế hiệu chưa? Phải chăng người đời sau, khi viết về các vị lãnh đạo
ban đầu, đã đặt cho các ngài đế hiệu giống kiểu cách Trung Quốc? Theo kết luận tạm thời của chúng tôi, các
đế hiệu trên đây là do người sau đặt, dựa trên ba lý do:
a. Xét về mặt ngôn ngữ: Các đế hiệu trên đều là danh từ Hán Việt, có nghĩa là tiếng Hán được phát âm
theo giọng Việt. Mà muốn được như thế, người Việt đã phải biết dùng chữ Hán một cách nhuần nhuyễn, đã
thấm nhuần sâu sắc văn hóa Trung Quốc. Cả hai điều kiện đó không có trong xã hội Việt Nam thời sơ sử, vì
mãi đến năm 207 trước Công Nguyên, nghĩa là sau gần 2500 năm tính từ Kinh Dương Vương, Việt Nam mới
thực sự biết đến chữ Hán, và bắt đầu chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Từ đó, người Việt mới bắt đầu du
nhập các thể chế chính trị của triều đình Trung Quốc.
b. Xét về mặt dân tộc học: Xưa nay, dân Việt không có tục lệ dùng một tên duy nhất, rồi phối hợp các con
số để đặt tên cho các người khác nhau như kiểu Hùng Vương Thứ Nhất đến Hùng Vương Thứ Mười Tám.
c. Lịch sử chức vương: Chức vương phát sinh từ triều đình Trung Quốc và bắt đầu có vào đời nhà Chu,
tức khoảng 1122-249 TCN. Trong khi đó, Hùng Vương Thứ Nhất của Việt Nam đã sống trước đó cả hơn
nghìn năm.
Theo thiển ý, thời sơ sử Việt Nam kéo dài gần 3000 năm, ngoài 18 vị được gọi là các vua Hùng, chúng ta
còn nhiều vị lãnh đạo nữa, nhưng ký ức dân gian đã quên mất, và người đời sau đã tự đặt hai từ Hùng
Vương làm đế hiệu cho các nhà lãnh đạo ban đầu.
Một vấn đề khác nữa là các nhà lãnh đạo nước Văn Lang có đế hiệu Hùng Vương hay Lạc Vương? Theo
truyền thuyết và sử cũ thì cho là Hùng Vương, còn theo một số nhà sử học hiện nay thì cho là Lạc Vương.
Tuy nhiên, vấn đề không thuộc phạm vi tính danh học, nên không được đào sâu ở đây. Nhưng, nếu là Lạc
Vương thì có bao nhiêu đế hiệu Lạc Vương? Và thực sự có danh hiệu Lạc Vương hay không? Lạc Vương
cũng như Hùng Vương đều là danh từ Hán Việt. Tính danh học Việt Nam chờ câu trả lời của các nhà sử học
và khảo cổ học. Tuy nhiên, chúng ta phải khâm phục tiền nhân đã khéo chọn hai chữ Hùng Vương để xây
xuống là An Nam Đô Hộ, sau được Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ, cuối cùng được Giao Chỉ Quận Vương, rồi
Nam Bình Vương. Sách Đại Việt Sử Ký Tiền Biên ghi lại chuyện vua Tàu trách vua Lê Đại Hành về chuyện
xưng đế như sau:
Vua Tống sai Trương Tông Quyền đưa thư trách Lê Đại Hành xưng đế và bắt đổi niên hiệu
[3]
. Qua các tài
liệu lịch sử trên, một câu hỏi được đặt ra là tại sao vua Tàu phải khó chịu khi vua Việt xưng đế? Để trả lời câu
hỏi này, chúng ta cần tìm hiểu nguồn gốc phát sinh từ đế hay hoàng đế.
Đế hiệu là một pháp chế chính trị phát xuất từ triều đình Trung Quốc. Vào đời nhà Chu (1122-249 TCN),
vị đứng đầu nước lớn xưng là vương, như Chu Văn Vương. Các chư hầu, dù mạnh, dù làm minh chủ cũng
chỉ được phong cho một trong năm chức là: công, hầu, bá, tử, nam. Ví dụ Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, Sở
Trang Công. Sang thời Chiến Quốc, thủ lãnh các chư hầu không thần phục nhà Chu nữa, họ cũng xưng
vương như Tần Huệ Vương, Tề Tuyên Vương. Vậy, dưới thời nhà Chu, vua cai trị nước lớn hay nước nhỏ
đều gọi là vương, và vương là chức cao nhất
[4]
. Đến thời nhà Tần, khi Tần Doanh Chính thống nhất Trung
Quốc, thì tân vương này đưa ra sáng kiến gộp hai chữ hoàng và đế lại để làm đế hiệu. Ngoài ra, để hậu thế
biết ai là người đầu tiên dùng đế hiệu này, ông đặt thêm chữ Thủy thành Tần Thủy Hoàng Đế, nghĩa là vị
hoàng đế đầu tiên của nhà Tần. Tư Mã Thiên đã chép về việc này:
Trẫm là Thủy Hoàng Ðế, các đời sau cứ theo số mà tính: Nhị Thế, Tam Thế đến Vạn Thế truyền mãi mãi
[5]
.
Như vậy, dưới đời nhà Tần, hoàng đế là chức cao nhất, được hiểu là vua nước lớn, và vương là vua
nước nhỏ. Ðến khi Triệu Cao diệt nhà Tần, ông bỏ cách xưng đế, trở về định chế vương. Sử gia Tư Mã Thiên
ghi lại sự kiện này:
Thủy Hoàng làm vua cả thiên hạ nên xưng đế. Nay sáu nước lại tự lập, đất đai của Tần càng nhỏ đi, làm
đế chỉ có cái tên hão mà thôi, như thế không nên, nên làm vương như trước
[6]
.
Tuy nhiên, từ đời nhà Hán về sau, vua Tàu nào cũng mặc nhiên dùng hai chữ hoàng đế cho đế hiệu của
tước hiệu tôn quý, tặng cho những người trong hoàng tộc, hoặc những người có công với triều đình. Có
người được tôn phong là đại vương như Hưng Đạo Đại Vương. Nhưng vương ở đây chỉ là thứ tên tước,
đứng đầu trong các tước hiệu công, hầu, bá, tử, nam. Và theo pháp chế thời xưa, người mang tên tước
không có quyền hạn, chỉ hưởng bổng lộc của triều đình. Vì vậy, dân gian thường nói tước lộc. Ngược lại,
vương của các chúa Trịnh là một chức vụ, không phải tước hiệu, nghĩa là vừa có trách nhiệm, vừa có quyền
lực, vừa có bổng lộc như ông vua của một nước.
Đồng thời với 11 chúa Trịnh ở miền Bắc, miền Nam có 9 chúa Nguyễn. Các chúa Nguyễn chỉ xưng tước
Công như Đoan Quận Công, Thụy Quận Công, Nhân Quận Công. Công là một trong 6 tước được xếp theo
thứ tự cao thấp là: vương, công, hầu, bá, tử, nam. Lý do các chúa Nguyễn xưng công, dưới vương một bậc,
vì ban đầu so về quyền lực và sức mạnh, thì các chúa Nguyễn yếu thế hơn chúa Trịnh. Nhưng về sau, khi
chúa Trịnh yếu thế, chúa Nguyễn trở nên mạnh thì 2 chúa cuối cùng là Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng
là Minh Đô Vương và Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) xưng là Định Vương.
Tước công của các chúa Nguyễn thực ra cũng không phải là tên tước, mà là tên chức vụ, vì cũng như
chúa Trịnh, chúa Nguyễn vừa có quyền, vừa có lộc. Sở dĩ như vậy vì thời hậu Lê, nước Việt ở trong tình trạng
đặc biệt, vua Lê có chính danh nhưng không có thực quyền. Quyền hành nằm cả trong tay chúa Trịnh phía
Bắc và chúa Nguyễn phía Nam.
c. Đế hiệu do vua Trung Quốc phong cho: Từ khi thoát khỏi ách đô hộ Trung Quốc, các vua Việt luôn đề
cao tinh thần tự chủ độc lập, thể hiện qua việc các ngài xưng vương, xưng đế, đặt quốc hiệu, và niên hiệu cho
triều đại của mình
[10]
. Tuy quyết tâm bảo vệ độc lập, nhưng các vua Việt cũng ý thức rằng, chiến tranh hay áp
dụng chính sách ngoại giao cứng rắn với Trung Quốc là điều bất lợi cho dân tộc. Vì vậy, các nhà lãnh đạo lúc
bấy giờ đã có một đường lối ngoại giao hòa hoãn. Dù có chiến thắng vẻ vang như trường hợp Quang Trung
Nguyễn Huệ (1788-1792) đại phá quân Thanh, thì ngay sau đó, vua ra lệnh cho Ngô Thời Nhiệm phải gửi phái
đoàn đi sứ, xin nộp cống để tỏ thái độ thần phục hoàng đế Trung Quốc.
Về phía triều đình Trung Quốc, họ cũng biết là nếu không xâm chiếm được đất Việt, thì phong cho các
vua Việt đế hiệu có chữ vương như một ấn chứng vua Việt lệ thuộc vào nước Tàu. Chức vụ này qua các triều
đại đã được dần dần nâng cao:
Nhà Ngô: Năm 954, vua Nam Hán phong cho Hậu Ngô Vương (950-965) chức Tĩnh Hải Quân Tiết Ðộ Sứ.
Nhà Đinh: Năm 976, vua Tống phong Đinh Tiên Hoàng (968-979) làm Giao Chỉ Quận Vương.
nhiều niên hiệu.
Tại Việt Nam, Lý Bôn (544-549) là vua đầu tiên đặt niên hiệu là Thiên Đức. Từ Triệu Quang Phục (549-
571) đến Ngô Xương Ngập (950-965), chúng tôi chưa biết được niên hiệu của những vị vua trong thời gian
này. Nhưng từ Đinh Tiên Hoàng (968-979) đến vua Bảo Đại (1926-1945), vị nào cũng có niên hiệu. Ngoài ra,
dưới thời vua Lê, chúa Trịnh, chỉ vua Lê được đặt niên hiệu, còn chúa Trịnh hay chúa Nguyễn, dù có thực
quyền, vẫn bị coi là thần dân, nên không có niên hiệu.
3. Nguyên Tắc Chọn Niên Hiệu: Niên hiệu là danh hiệu của vị lãnh đạo tối thượng quốc gia nên nguyên
tắc chọn niên hiệu rất cẩn trọng. Về mặt phát âm, phải chọn chữ nào đọc lên nghe âm vang và trong sáng. Về
mặt ý nghĩa, phải chọn chữ nói lên được sự tốt lành, thái bình, và đội ơn thần linh
[13]
. Vì hai nguyên tắc trên
mà 730 niên hiệu của các vua Trung Quốc và 126 niên hiệu của các vua Việt, có nhiều điểm tương tự. Ví dụ
để biểu lộ ý nghĩa theo mệnh trời, 65 niên hiệu cuả vua Tàu và 17 niên hiệu của vua Việt đều có chữ Thiên
như: Thiên Thuận, Thiên Phúc, Thiên Thánh, Thiên Phù, Thiên Thụ.
4. Hình Thức Niên Hiệu: Không có nguyên tắc nào ấn định niên hiệu phải là bao nhiêu chữ. Với các vua
Trung Quốc, hầu hết niên hiệu có 2 chữ, cũng có 3, 4, và nhiều nhất là 6 chữ. Niên hiệu của Huệ Tông Lý
Bỉnh Thường có 6 chữ: Thiên Tứ Lễ Thịnh Quốc Khánh. Đối với vua Việt, người ta thấy 89 niên hiệu có 2 chữ,
và 17 niên hiệu có 4 chữ. Chỉ các vua triều Lý dùng 4 chữ, và một vua nhà Trần là Trần Thái Tông (1225-
1258) có niên hiệu 4 chữ: Thiên Ứng Chính Bình.
5. Mục Đích Của Niên Hiệu: Niên hiệu là tên để dân chúng gọi một ông vua nên khi xưa dân gian chỉ biết
niên hiệu chứ không biết tên thật của vua. Trong các thư tịch do các sử gia bản triều viết, người ta còn dùng
lối gọi toàn xưng như: Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế, tức vua Gia Long, hoặc Đức Hiến tổ Chương Hoàng Đế,
tức vua Thiệu Trị. Sở dĩ có tình trạng trên vì hai nguyên nhân.
a. Để tránh phạm húy: Trong xã hội ta cũng như Tàu có phép kỵ húy, nghĩa là phải tránh đọc hay viết tên
những bậc trưởng thượng.
b. Ðể thần thánh hóa: Ðể thần thánh hóa uy quyền tối thượng của nhà vua, cổ luật Việt Nam đã không
những cấm viết, mà còn cấm cả việc đọc tên thật của vua. Luật Gia Long điều 62 đã quy định như sau:
.
Niên Hiệu Năm
Thái Ninh 1072-1075
Anh Võ Chiêu Thắng 1076-1084
Quang Hữu 1085-1091
Hội Phong 1092-1100
Long Phù 1101-1109
Hội Tường Ðại Khánh 1110-1119
Thiên Phù Duệ Võ 1120-1126
Thiên Phù Khánh Thọ 1127
Vua Lý Anh Tôn đổi niên hiệu 4 lần:
Niên Hiệu Năm
Thiệu Minh 1138-1139
Đại Định 1140-1162
Bảo Ứng 1163-1173
Thiện Cẩm 1174-1175
Việc thay đổi niên hiệu không dựa trên nguyên tắc nào. Ở Trung Quốc, có thuyết nói từ triều Nguyên về
trước, khi có sự kiện đặc biệt xảy ra, vua có thể thay đổi niên hiệu để ghi nhớ sự kiện đó. Ví dụ Hán Vũ Đế
đổi niên hiệu ra Nguyên Quang vì năm đó có sao chổi xuất hiện, niên hiệu Nguyên Thú vì vua đi tuần thú bắt
được con thú lạ bạch lân, Nguyên Đỉnh vì đào được chiếc đỉnh (vạc) quý, Thiên Hán vì năm đó có nhiều thiên
tai, hạn hán nên đổi niên hiệu để cầu mưa
[16]
.
Tại Việt Nam, mỗi khi trong nước có loạn lạc, dịch tễ, mất mùa, đói kém, nhà vua tin rằng mình là con trời,
đã không làm tròn nhiệm vụ, đã vi phạm lỗi lầm nên cần phải sửa đổi ăn năn. Thiện chí này được biểu lộ bằng
cách thay đổi niên hiệu. Khi thay đổi niên hiệu, các vua tin rằng sẽ đem lại sự bình an và may mắn cho dân
chúng. Bằng chứng là năm 1628, đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Vĩnh Tộ, có nạn đói kém nên năm 1629
phục tùng.
Khi Lý Thái Tông diệt Sạ Đẩu, các quan xin dâng tôn hiệu: Thánh Đức Thiên Cảm, Tuyên Uy Thánh Võ.
Khi Lý Chiêu Hoàng (1224-1225) nhường ngôi cho Trần Cảnh, quần thần dâng tôn hiệu: Khải Thiên Lập Cực,
Chí Nhân Chương Hiếu Hoàng Đế. Và khi Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông (1225-1258) nhường ngôi để lên
làm thái thượng hoàng thì triều đình dâng tôn hiệu: Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế
[21]
. Khi
Trần Thái Tông (1225-1258) thượng thọ thất tuần, đình thần dâng tôn hiệu: Uyên Ý Khâm Cung Nhân Từ Đức
Thọ Hoàng Đế. Khi Trần Thánh Tông (1258-1278) lên ngôi, đình thần dâng tôn hiệu là Hiến Thiên Thể Đạo
Đại Minh Quang Hiếu Hoàng Đế.
Đọc lịch sử không thấy trường hợp nào các quan xin dâng tôn hiệu mà vua từ chối. Duy nhất một trường
hợp vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đã khiêm tốn từ chối lời xin dâng tôn hiệu, và khuyên các quan như sau:
Trẫm chưa dám nói đến danh hiệu Hoàng Đế. Đối với các khanh, Trẫm xưng là Hoàng Thượng. Đối với
Thái Miếu, Trẫm xưng là Tự Hoàng, như thế cũng đủ khác với danh hiệu của các thân vương rồi. Những lời ấy
các khanh nên nghĩ lại. Sau này, vài năm nữa, nếu thấy trên thì trời thuận, dưới thì dân yên, mưa gió điều
hòa, nước lớn thân thiện, nước nhỏ sợ uy, mới có thể bàn đến tôn hiệu.Các khanh nghĩ lại xem
[22]
.
3. Mục Đích Của Tôn Hiệu: Như đã nói, tôn hiệu có mục đích ca ngợi vua nên triều đình đã không tiếc
lời đặt tôn hiệu rất dài, đi đến chỗ nịnh bợ. Vua Lý Thái Tổ (1010-1028) có tôn hiệu dài nhất Việt Nam, tới 52
chữ:
Phụng Thiên Chí Lý Ứng Vận Tự Tại Thánh Minh Long Hiện Duệ Văn Anh Vũ Sùng Nhân Quảng Hiếu
Thiên Hạ Thái Bình Khâm Minh Quảng Trạch Chương Minh Vạn Bang Hiển Ứn Phù Cảm Uy Chấn Phiên Man
Duệ Mưu Thần Trợ Thánh Trị Tắc Thiên Đạo Chính Hoàng Đế
[23]
.
Việc dâng tôn hiệu quá dài, đi đến chỗ nịnh hót, đã bị các sử gia thời quân chủ lên án. Sử gia Ngô Sĩ Liên
viết:
Kinh thư tôn xưng vua Nghiêu là Phóng Huân, vua Thuấn là Trùng Hoa. Những bề tôi đời sau theo đức
a. Thụy hiệu xấu: Triều đình Trung Quốc chọn các chữ: Lệ, U, Hôn, Dạng để đặt thụy hiệu xấu. Theo Từ
Ðiển Hán Việt của Ðào Duy Anh thì Lệ có nghĩa là tàn bạo, U: tối tăm; Hôn: tối tăm, mê loạn; Dạng: ốm đau,
bệnh hoạn. Chu Vương Cơ Hồ vì thống trị tàn bạo, sau khi chết có tên thụy là Lệ Vương. Sách Thụy Pháp
Giải cho rằng tàn sát kẻ vô tội gọi là Lệ. Cơ Vung Niết cũng tàn bạo nên có thụy hiệu là U Vương. Theo Thụy
Pháp Giải, U có nghĩa là làm
đảo lộn lễ nghi, loạn luân. Tiên Bảo Quyền, sau khi lên ngôi, sống đời hoang dâm phóng túng, nên có thụy
hiệu là Đông Hôn Hầu. Chữ Hôn nói lên bản tính tăm tối, tàn bạo, dâm dật. Trần Thúc Bảo và Dương Quảng
đời Tùy đều hung tàn bạo ngược, là hôn quân nên được đặt thụy hiệu là Dạng Đế. Sách Tự Trị Thông Giám
của Hồ Tam Tỉnh giải thích ham gái, xa lễ, bạo ngược với dân gọi là Dạng
[28]
.
b. Thụy hiệu trung bình: Các triều đại Trung Quốc dùng chữ Bình để đặt thụy hiệu trung bình. Cơ Nghi
Cữu, vua thứ nhất của Đông Chu, tuy không có công gì nhiều, nhưng được dân thương xót nên có thụy hiệu
là Bình Vương. Sách Thụy Pháp Giải nói trị nước mà không có lầm lỗi lớn thì được gọi là Bình
[29]
.
c. Thụy hiệu tốt: Tuyệt đại đa số các vua Trung Quốc đều có thụy hiệu tốt. Trước thời nhà Tần, thụy hiệu
có một chữ: hoặc là Văn, hoặc là Vũ. Chữ Văn dùng để biểu lộ khả năng về mặt văn hóa, chính trị lương hảo.
Chữ Vũ để biểu lộ khả năng quân sự. Sang triều Hán, người ta dùng 2 chữ mà chữ đầu bao giờ cũng là chữ
Hiếu nên thụy hiệu của Lưu Triệt là Hiếu Vũ Đế. Sang đời Tấn, Đường, không dùng thụy hiệu 2 chữ nữa mà
dùng nhiều chữ để ca ngợi công đức của vua. Ví dụ hoàng đế Thuận Trị đời Thanh có thụy hiệu 25 chữ là:
Thế Thiên Long Vận, Định Thống Kiến Cực, Anh Duệ Khâm Văn, Hiển Võ, Đại Đức Hoằng Công, Thánh Nhân
Thuần Tôn Chương Hoàng Đế
[30]
.
3. Thụy Hiệu Của Các Vua Chúa Việt Nam: Các vua chúa Việt cũng áp dụng chế độ đặt thụy hiệu. Theo
sử gia Lê Văn Hưu, vua và hoàng hậu khi mới băng, chưa chôn vào lăng tẩm, thì triều đình vẫn dùng đế hiệu
để gọi vị vua ấy. Khi chôn rồi, triều đình họp lại, xem đức hạnh của vua tốt hay xấu mà đặt thụy hiệu. Trước
thời Lê Đại Hành (980-1005), không thấy sử cũ ghi thụy hiệu của vua nào. Đại Việt Sử Lược ghi thụy hiệu của
Lưu Triệt được đặt là Thế Tông. Lý Uyên khai sáng nhà Đường được đặt là Cao Tổ, Lý Thế Dân là Thái
Tông. Tuyệt đại đa số vua Tàu, từ Hán Vũ Đế đến vua Quang Tự nhà Thanh, ông nào cũng có miếu hiệu
[33]
.
3. Nguyên Tắc Đặt Miếu Hiệu: Khi đặt miếu hiệu, vua hay triều đình phải căn cứ vào thế hệ thứ cấp
trong hoàng tộc để xác định vị trí cao thấp trong thái miếu. Các từ để chỉ thứ cấp là: tổ, tông, hay tôn. Tổ có
nghĩa là người khai sáng triều đại. Tông nghĩa là dòng họ. Tại Việt Nam, nhiều sách sử ghi miếu hiệu với chữ
Tôn. Tôn là tiếng đọc trại để tránh tên vua Minh Mạng là Nguyễn Phúc Miên Tông. Nguyên tắc định miếu hiệu
là vua có công khai sáng triều đại được gọi là tổ. Những vua kế vị được gọi là tông.
4. Miếu Hiệu Của Các Vua Chúa Việt Nam: Trong số các vị vua Việt, sử sách ghi 49 vị có miếu hiệu với
chữ tổ, tôn, hay tông. Vị vua đầu tiên được sử ghi miếu hiệu là Lê Trung Tông (tr.v.1005). Từ năm 1005 đến
1884, vị vua nào cũng có miếu hiệu. Sau đây là một số ví dụ :
Nhà Tiền Lê Lê Trung Tông.
Nhà Lý Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông.
Nhà Trần Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông.
Nhà Hậu Lê Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông.
Nhà Mạc Mạc Thái Tổ, Mạc Thái Tông.
Nhà Nguyễn Nguyễn Thế Tổ.
Trường hợp nhà tiền Lê, sử sách không ghi miếu hiệu của vua Lê Ðại Hành nên không biết ngài có miếu
hiệu ra sao. Riêng trường hợp nhà Trần, chúng tôi chưa tìm được sử liệu nào giải thích tại sao vị vua sáng lập
triều đại không được đặt miếu hiệu là Trần Thái Tổ, mà lại đặt là Trần Thái Tông. Với nhà Nguyễn, chúng tôi
cũng chưa giải thích được tại sao cả vua Gia Long, Minh Mạng, và Thiệu Trị đều có miếu hiệu với chữ Tổ:
Nguyễn Thế Tổ, Nguyễn Thánh Tổ, Nguyễn Hiến Tổ. Bốn trường hợp trên là các ngoại lệ trong lịch sử miếu
hiệu của vua chúa Việt Nam. Đọc sách sử được viết dưới thời quân chủ, người ta còn gặp loại danh xưng mà
các nhà sử học gọi là toàn xưng, tức là lối phối hợp miếu hiệu, tên thụy và đế hiệu: Sau đây là các ví dụ:
táng, phải nằm khi yết triều, nên vua Lý Thái Tổ, sau khi lật đổ Lê Long Đĩnh, đã đặt cho ông vua này miếu
hiệu: Lê Ngọa Triều
[36]
.
Theo định nghĩa của sử gia Ngô Thời Sĩ, Phế Đế hay Mạt Đế là miếu hiệu dân gian đặt cho các vua
không đáng là vua hay bị truất phế
[37]
. Đinh Tuệ (979-980) bị Lê Đại Hành lật đổ nên sử gọi là Phế Đế. Trần
Nghiễn (1377-1388), con Trần Duệ Tông (1372-1377), bị truất phế nên gọi là Trần Phế Đế. Năm 1954, miền
Nam Việt Nam có cuộc trưng cầu dân ý để chọn lựa vua Bảo Đại (1926-1945) hay Thủ Tướng Ngô Đình Diệm
(1954-1963). Dân chúng chọn ông Ngô Đình Diệm và lúc đó báo chí gọi vua cuối cùng nhà Nguyễn là Phế Đế
Bảo Đại.MỤC II: DANH XƯNG ÐẶC BIỆT CỦA THƯỜNG DÂN VIỆT NAM
Muốn chỉ một cá nhân nào đó, tùy theo giai cấp, tín ngưỡng, tùy theo lúc sống hay chết, tùy theo già hay
trẻ, người Việt Nam có rất nhiều tên để gọi. Ngôn ngữ Việt có những từ sau đây chỉ các loại tên: bí danh, bút
hiệu, nhũ danh, nghệ danh, pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, tên, tên cái, tên đệm, tên họ, tên gọi, tên chữ, tên
cúng cơm, tên hèm, tên hiệu, tên húy, tên riêng, tên thánh, tên thụy, tên tục, tên tự, thương hiệu.
Không kể tên họ, tên riêng, người Việt có thể có một trong những tên dưới đây mà chúng tôi gọi là danh
xưng đặc biệt. Sở dĩ gọi là đặc biệt vì không phải ai cũng có. Trong mục này, các danh xưng đặc biệt sẽ được
lần lượt nghiên cứu qua các tiết: (a)) tên tục, (b) tên tước, (c) tên tự, (d) tên hiệu, (e) bút hiệu, (f) nghệ danh,
(g) thương hiệu, (h) bí danh, (i) tên thụy, (k) tên tôn giáo. Trong phần tên tôn giáo sẽ nói đến pháp danh, pháp
hiệu của người Phật Giáo Tiểu Thừa và Phật Giáo Ðại Thừa, tên các vị chức sắc Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, và
tên thánh của người Công Giáo.
TIẾT A: TÊN TỤC
1. Định Nghĩa Tên Tục: Theo định nghĩa của Đại Từ Điển Tiếng Việt, tên tục là tên do cha mẹ đặt lúc
Lệ đặt tên tục rất phổ biến trong xã hội cổ truyền Việt Nam. Tuy nhiên, lệ này dần dần biến mất khi trình
độ tri thức khoa học của dân Việt được nâng cao.Lý do khác nữa làm loại tên này biến mất là dưới thời Pháp
thuộc, chính quyền buộc cha mẹ làm ngay giấy khai sinh cho trẻ sơ sinh. Trong thực tế, tên tục vẫn tồn tại và
chỉ biến mất ở nông thôn Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ 20.
Tục lệ đặt tên xấu không chỉ có trong các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc như Nhật Bản, Đại
Hàn, Việt Nam mà thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Các sắc dân thiểu số ở Indonesia, Lào, Thái Lan, Miến Điện,
và các dân tộc vùng Đông Nam Á đều có tục lệ này
[40]
. Theo bách khoa từ điển Britannica, thì tục lệ này thấy
có ở Hy Lạp, các nước Phi Châu chung quanh sa mạc Sahara
[41]
.
TIẾT B: TÊN TƯỚC
1. Định Nghĩa Tên Tước: Tên tước là tên của vua ban cho các người trong hoàng tộc hay những người
có công với tổ quốc. Quyền phong tước là đặc quyền của vua và những người được phong tước coi đó là một
ân điển. Để hiểu tên tước, ta cần phân biệt hai định chế chức và tước.
Theo định nghĩa của những nhà khảo cứu pháp chế sử, chức là một trách vụ trong bộ máy chính quyền,
tước là tôn hiệu danh dự, không hàm ý trách nhiệm và quyền hành
[42]
.
2. Nguồn Gốc Tên Tước: Trước triều đại nhà Đinh, sử cũ không cho biết gì về tên tước. Đến đời nhà
Đinh, tài liệu cổ về đời này thấy ghi tước Vương và Quốc Công. Quốc Công là một tước dưới tước Quận
Vương và bắt đầu được dùng ở Trung Quốc về đời nhà Tùy (581-618). Sang triều Lý, ngoài tước Thái Sư,
các đại thần còn được phong tước Thái Phó và Thái Bảo là những tước thuộc hàng tam công đời nhà Ân và
Chu bên Trung Quốc. Công thức đặt tên tước là lấy một địa danh đặt trước tên tước. Ví dụ Kiến An Vương là
tên tước của Nguyễn Phúc Miên Ðài. Kiến An là tên phủ thuộc tỉnh Định Tường, Vương là tên tước.
Hầu tước 22 tư
Bá tước 21 tư
Tử tước 20 tư
Nam tước 19 tư
Phẩm Trật Hàng Chánh Hàng Tùng
Nhất phẩm 18 tư 17 tư
Nhị phẩm 16 tư 15 tư
Tam phẩm 14 tư 13 tư
Tứ phẩm 12 tư 11 tư
Ngũ phẩm 10 tư 9 tư
Lục phẩm 8 tư 7 tư
Thất phẩm 6tư 5 tư
Bát phẩm 4 tư 3 tư
Cửu phẩm 2 tư 1 tư
4. Các Trường Hợp Được Ban Tên Tước: Vua thường ban tên tước cho ba trường hợp sau đây:
a. Người giữ chức vụ quan trọng: Những người giữ chức vụ quan trọng trong triều đình thường được vua
phong cho một tước.Ví dụ Trần Quốc Tuấn có chức Quốc Công Tiết Chế, thống lĩnh quân đội, nhưng cũng
được phong tước Hưng Đạo Vương.
b. Người trong hoàng tộc và những công thần: Người trong hoàng tộc và những người có công với quốc
gia được vua tặng tên tước. Dưới triều Nguyễn, các hoàng tử đều được phong tước vương, quận vương,
công hay quận công. Cách thức đặt tên tước là vua chọn một địa danh của tỉnh, phủ, huyện, xã rồi thêm tên
tước vào, với ngụ ý người đó có quyền tại địa phương ấy. Sách Khâm Ðịnh Ðại Nam Hội Ðiển Sự Lệ ghị rõ
nguyên tắc phong tước như sau: Phàm người được phong tước có đất làm thái ấp, nhự Thân Vương thì lấy
tên tỉnh; Quận Vương, Thân Công, Quốc Công, Quận Công thì lấy tên phủ; Huyện Công, Huyện Hầu thì lấy
tên huyện; Hương Công, Hương Hầu, Ðình hầu thì lấy tên xã. Dưới nữa theo chức mà gọi
[43]
”
Vua Minh Mạng có 78 hoàng tử, mỗi ông đều có tên tước. Xin trích dẫn một số tước vị làm ví dụ:
Tá Quốc Khanh 150 70
Phụng Quốc Khanh 130 60
Trợ Quốc Uý 45 35
Tá Quốc Uý 42 32
Trợ Quốc Lang 38 28
Tá Quốc Lang 36 26
Phụng Quốc Lang 34 24
Tên tước không những được phong cho các người còn sống, mà cho cả những công thần đã chết. Thí dụ
linh mục Trần Lục, chánh xứ Phát Diệm, tạ thế năm 1899. Đến năm 1925, vua Khải Định xét tiểu sử thấy linh
mục có công dưới triều Tự Đức, nên phong cho ngài: Phát Diệm Nam Tước.
c. Những thần thánh: Những thần thánh trong các đình miếu cũng được vua tặng tên tước. Thành Hoàng
Ma La Cẩn được thờ tại Phú Nhuận Đình, Gia Định, được phong là Ma La Cẩn Thành Hoàng Đại Vương Tôn
Thần. Loài rái cá cũng được thần thánh hóa, được ban tên tước. Theo truyền tụng, rái cá cứu vua Gia Long
khi bị Tây Sơn đuổi đánh, nên khi lên ngôi, đã phong rái cá tước Lăng Lại Đại Tướng Quân Tôn Thần. Tên
tước đã đi vào lịch sử, khi chế độ quân chủ chấm dứt vào năm 1945.
TIẾT C: TÊN TỰ
1. Định Nghĩa Tên Tự: Theo định nghĩa của Đại Từ Điển Tiếng Việt, tên tự là tên đặt dựa vào tên vốn có
thường phổ biến trong giới trí thức thời phong kiến
[45]
. Trong Hán văn, chữ Tự có nhiều nghĩa. Chữ tự trong
Tên Tự được viết với bộ nhân có nghĩa là giống như. Ví dụ: Tương Tự. Tên tự là tên giống như tên chính.
Người Trung Hoa đặt ra tên tự để người khác tránh tên húy của mình. Đối với dân gian xưa, tên tự còn được
gọi là tên chữ vì các cụ thường dùng từ Hán Việt để đặt tên này. Ví dụ khi viết tiểu sử cụ Nguyễn Đình Chiểu
(1822-1888), các sách vở thường ghi: tự là Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phủ hay Hối Trai. Tên tự bắt đầu có từ
đời nhà Chu, sau khi triều đại này đặt ra phép kỵ húy tên vua. Tên tự đã tồn tại suốt thời kỳ quân chủ tại Trung
Quốc cũng như tại Việt Nam.
biết ngài là con thứ trong gia đình. Còn chữ Ni liên quan đến chữ Khâu vì tại Trung Quốc có ngọn núi Ni Khâu
là nơi mà bố mẹ đức Khổng Tử đã cầu tự ngài ở đó
[47]
. Nhắc tới chữ Ni, người ta nghĩ ngay đến chữ Khâu.
Tại Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (1924-1990) cho biết tên tự của ông là Trọng Minh. Chữ Trọng
chỉ người con thứ, chữ Minh đồng nghĩa với Huy là ánh sáng.
b. Để chỉ sự tôn kính: Người Trung Quốc cũng như Việt Nam dùng các từ sau đây để ghép với tên tự chỉ
sự tôn kính: Công, Chi, Doãn, Hoằng, Khổng, Ông, Phu, Phủ, Phụ, Thúc, Sĩ. Ví dụ Gia Cát Lượng, chiến lược
gia thời Tam Quốc, có tự là Khổng Minh. Minh và Lượng có nghĩa là ánh sáng. Từ Khổng được thêm vào để
tỏ ý tôn kính. Cùng chiến tuyến với Gia Cát Lượng có quân sư Bàng Thống, tự Sĩ Nguyên. Chữ Thống có
nghĩa là hợp tất cả lại làm một, đồng nghĩa với chữ Nguyên nghĩa là các thành phần không thể phân ly ra
được. Chữ Sĩ để tỏ ý tôn kính.
Tại Việt Nam, ông Trương Hán Siêu (?-1354), danh nhân nhà Trần, có tự là Thăng Phủ. Thăng và Siêu
đều có nghĩa là tiến lên chỗ cao hơn. Còn từ Phủ thêm vào để tỏ ý tôn kính.
c. Để tên tự có âm thanh hài hòa và có ý nghĩa đẹp. Ngày xưa, đa số tên tự được các cụ thêm một từ
ngữ để có âm thanh hài hòa, có ý nghĩa hoa mỹ. Ví dụ Quan Vũ, một danh tướng thời Tam Quốc có tên tự là
Vân Trường. Vũ và Vân có mối liên hệ với nhau. Vũ là cánh chim bay, Vân là mây gió, còn chữ Trường được
thêm vào để có âm thanh hài hòa và ý nghĩa hay. Vân Trường là giải mây dài.
Bà Nguyễn Nhược thị, tên là Nguyễn Thị Bích (1830-1901), tác giả Hạnh Thục Ca, có tên tự là Lang
Hoàn. Bích và Lang trong Hán tự có nghĩa là ngọc, còn Hoàn là viên, được thêm vào cho có ý nghĩa. Lang
Hoàn là viên ngọc.
5. Phương Pháp Đặt Tên Tự: Như đã nói, nguyên tắc đặt tên tự là làm sao giữa tên tự và tên chánh có
sự liên hệ. Để đạt mục tiêu này, các danh nhân Trung Quốc cũng như Việt Nam đã áp dụng bốn phương
pháp sau đây:
a. Dùng chữ đồng nghĩa: Theo phương pháp này, tên chính và tên tự đồng nghĩa. Đa số các danh nhân
Trung Quốc và Việt Nam dùng phương pháp này để chọn tên tự. Ta có thể nêu các ví dụ: Tại Trung Quốc,
nhân vật lịch sử Tào Tháo thời Tam Quốc có tên tự là Mạnh Đức. Tháo và Đức trong Hán tự đều có nghĩa là
đức hạnh, phẩm giá. Chữ Mạnh thêm vào để chỉ người con thứ. Đồng thời với Tào Tháo có dũng tướng
Trương Phi, tự là Dực Đức. Phi và Dực đều có nghĩa là bay. Còn chữ Đức được thêm vào để tên thêm phần
Hiếu có tự là Lân Chi. Chi có nghĩa là một thứ cỏ thơm. Nói đến thơm, người ta nghĩ đến chữ Phức là hương
thơm. Cụ Trương Đăng Quế, danh nhân triều Nguyễn, có tên tự là Diên Phương. Phương có nghĩa là mùi
thơm. Diên Phương nghĩa là mùi thơm ngào ngạt, nhắc ta nhớ đến mùi thơm cây quế. Ông Lương Nhữ Hộc,
đỗ thám hoa đời Lê Thái Tông (1434-1442), là tổ nghề in ở Việt Nam, có tên tự là Tường Phủ. Tường có
nghĩa là chim bay lượn. Chữ Tường và chữ Hộc đều viết với bộ điểu, từ đó loại suy ra tên chánh phải là loại
chim: chim hộc giống như con thiên nga. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) tự là Hạnh Phủ. Hạnh là đức
hạnh, liên hệ đến Khiêm là nhún nhường. Còn từ Phủ thêm vào để tỏ vẻ tôn kính.
c. Dùng điển tích để đặt tên tự: Phương pháp này là lấy một thành ngữ, một câu văn, hay điển tích của
Tàu mà trong đó có cả tên chính và tên tự. Xin nêu vài Ví dụ
[50]
: Đời nhà Hán có ông Ngụy Triết tự Tri Nhân.
Ông lấy tên Tri Nhân vì thành ngữ Trung Quốc có câu: “Tri Nhân Tức Triết”. Ông Lộc Long có tên tự là Tại
Điền. Trong Kinh Dịch có câu: “Hiên Long Tại Ðiền” nên người tên Long lấy tên tự là Tại Điền. Ông Phan
Nhạo có tự là An Nhân. Trong sách Luận Ngữ có câu: “Trí Giả Nhạo Thủy, Nhân Giả Nhạo Sơn”, nghĩa là
người có trí thích nước, người có lòng nhân thích núi. Tên chánh là Nhạo nên lấy tên tự là Nhân.
Tại Việt Nam, các nhà nho xưa cũng áp dụng phương pháp này. Ông ngoại của Giáo sư Nguyễn Ngọc
Huy là cụ Trần Minh Đức có tự là Nhuận Thân. Chữ Đức và Nhuận Thân đều có trong câu của sách Đại Học:
“Phú Nhuận Ốc, Đức Nhuận Thân”. Nghĩa là sự giàu có làm nhà ở tốt đẹp, đức hạnh làm thân mình tốt đẹp.
Học giả Bùi Kỷ có tên tự là Ưu Thiên. Theo sách Liệt Tử và Tả Truyện, nước Kỷ có người suốt ngày lo trời
sập. Do vậy, nhắc đến ưu thiên, nghĩa là lo trời sập, người ta nghĩ ngay đến người nước Kỷ. Đó là lý do tại
sao cụ Bùi Kỷ lấy tên tự là Ưu Thiên.
d. Dùng tiếng phản nghĩa để đặt tên tự: Nếu áp dụng phương pháp này, tên tự và tên chính phải có ý
nghĩa trái ngược nhau. Ví dụ nhà thơ Đào Tiềm (372-472) của Trung Quốc có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng
của các nhà nho Việt Nam có tên tự là Nguyên Lượng. Lượng và Tiềm trái nghĩa nhau. Tiềm có nghĩa là ẩn
dấu trong khi Lượng có nghĩa là phô bày ra. Đời Xuân Thu Chiến Quốc, môn đệ đức Khổng Tử là ông Đoàn
Mộc Tứ có tự là Tử Cống. Theo từ điển của Đào Duy Anh, chữ Tứ là người trên cho người dưới, còn Cống là
hiến dâng, hàm ý người dưới dâng cho người trên
[51]
. Ông Bốc Thương tự là Tử Hạ. Ta biết, khi xưa Thương
và Hạ là hai triều đại Trung Quốc kình chống lẫn nhau. Thi sĩ Hàn Dũ đời Ðường làm bài văn ném xuống sông
hành lễ thành đinh, theo nguyên tắc, người con hết lệ thuộc vào bố mẹ. Anh có thể thay mặt cha mẹ quản lý
tài sản, thừa kế hương hỏa và chịu trách nhiệm về những công việc mình làm. Trách nhiệm đó được coi là
nặng nề, nên trong nhiều gia đình, người thanh niên phải trải qua cuộc trắc nghiệm về sức khỏe, gia chánh,
hay những cuộc thi đua đòi óc sáng kiến để chứng tỏ hội đủ điều kiện đạt trình độ tự lập.
Như đã nói, tên tự được đặt bằng từ Hán Việt nên hiểu được tên tự là điều khó. Do vậy, thông thường chỉ
nhà nho, hay tầng lớp khá giả mới có tên tự. Giới bình dân ít ai đặt tên tự cho mình. Nếu có, cũng phải nhờ
các nhà nho đặt và giải thích ý nghĩa cho. Từ ngày có tên tự, người khác sẽ dùng tên đó gọi thay tên chính để
tỏ lòng kính trọng.
TIẾT D: TÊN HIỆU
1. Định Nghĩa Tên Hiệu: Theo định nghĩa của học giả Trung Quốc Sheau Yueh J. Chao, tên hiệu hay biệt
hiệu là tên của nhà nho dùng để ghi dấu nơi chốn một người được giáo dục về mặt tri thức và đạo đức, đồng
thời là nơi dùng để sáng tác hay biên soạn các tác phẩm văn chương, học thuật
[54]
. Ngoài ra, các nhà nho
cũng dùng tên hiệu để biểu lộ lý tưởng, đức tính, ý muốn, sở thích của mình.
2. Nguồn Gốc Tên Hiệu: Tên hiệu có tại Trung Quốc vào thời nhà Chu, nhưng tại Việt Nam, người ta
chưa biết văn thi sĩ nào là người đầu tiên đặt tên hiệu cho mình. Lịch sử có nói đến các ông Trương Trọng, Lý
Tiến, Lý Cầm là các du học sinh đi Trung Quốc dưới thời Hán, và Khương Công Phụ dưới thời Đường.
Nhưng không thấy sử sách nào nói các ông này có tên hiệu là gì. Mãi đến thời nhà Trần, khi nền Hán học
được khá phổ biến, đã có những văn thi sĩ, thì lúc ấy mới thấy một Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) có tên
hiệu là Giới Hiên, một Trương Hán
Siêu (?-1354) là Thăng Am.
3. Hình Thức Tên Hiệu: Phân tích tên hiệu của nho sĩ Việt Nam, ta có thể chia làm ba loại.
a. Tên hiệu chỉ nơi sinh hoạt trí thức. Tên loại này có hai chữ. Chữ đầu để diễn tả tinh thần hay khung
cảnh làm việc. Chữ thứ hai chỉ nơi chốn làm việc. Để chỉ nơi chốn, các cụ thường dùng các chữ: Trai, Hiên,
Am, Đường, Vân.
Nguyễn Trung Ngạn Giới Hiên Hiên nhà giới luật.
Lương Thế Vinh ( ? ) Thụy Hiên Hiên nhà quý giá
Nguyễn Nghiễm (1708-1775) Nghị Hiên Hiên nhà bàn luận
Nguyễn Du (1765-1820) Thanh Hiên Hiên nhà thanh cao
Vũ Cán ( 1475- ?) Tùng Hiên Hiên nhà cây thông
Phan Huy Uông ( ? ) Nhã Hiên Hiên nhà thanh cao
c. Đặt tên hiệu với từ Am: Am là lều tranh hay chùa nhỏ. Các nhà nho dùng từ này làm thành phần tên
hiệu cho mình với ngụ ý nơi sinh hoạt trí thức đơn sơ, nghèo nàn.
Tên Tên Hiệu Ý Nghĩa
Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) Đạm Am Nơi đạm bạc
Nguyễn Thông (1827-1894) Độn Am Nơi suy nghĩ
Lý Tử Tấn (1378-1457) Chuyết Am Nơi dừng chân
Phan Huy Ôn (1755-1786) Chỉ Am Nơi đạt lý tưởng
Trần Danh Án ( ?) Liễu Am Nơi hiểu rõ
Bùi Huy Bích (1741-1818) Tồn Am Nơi giữ thiên tính
Nguyễn Thiếp (?) Hạnh Am Nơi giữ đức tính
Trương Hán Siêu ( ? –1345) Thăng Am Nơi tiến cao hơn
Nguyễn Công Hãn (1680-1732) Tĩnh Am Nơi yên lặng
d. Đặt tên hiệu với từ Ðường: Đường có nghĩa là nhà chính trong cung thất
[57]
. Các nhà nho chọn loại tên
hiệu này để biểu lộ đức tính:
Tên Tên Hiệu Ý Nghĩa
Lê Quý Đôn (1726-1784) Quế Ðường Nhà hương thơm
Phạm Quý Thích (1760-1825) Thảo Đường Cư Sĩ Nhà lợp cỏ của cư sĩ
Phạm Phú Thứ Trúc Đường Nhà người quân tử